Hệ thống pháp luật

TAND HUYỆN SÌN HỒ

TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2024/HS-ST

Ngày 29 - 11 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ, TỈNH LAI CHÂU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Minh Tuấn
  • Các hội thẩm nhân dân: Ông Tẩn A Sếnh, bà Lò Thị Yến
  • Thư ký phiên toà: Ông Hờ A Thái – Thư ký Tòa án
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ tham gia phiên toà: Ông Lò Trí Siêu – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 26 tháng 11 năm 2024 mở phiên tòa, nghị án kéo dài tuyên án vào ngày 29 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở TAND huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 21/2024/TLST - HS ngày 28 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2024/QĐXXST-HS ngày 15/11/2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Tẩn Lù S1 – sinh năm 1976 tại huyện S, tỉnh Lai Châu; giới tính: nam; tên gọi khác: không; nơi đăng ký thường trú và nơi ở hiện nay: bản T, xã T, huyện S, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: trồng trọt; trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: Dao; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; con ông: Tẩn Cuổi Sèo (đã chết); con bà: Tẩn Khé D – sinh năm 1944; gia đình bị cáo có 05 anh chị em, bị cáo là con thứ tư trong gia đình; vợ: Tẩn M - sinh năm 1973 (là bị cáo trong cùng vụ án), bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1996, con nhỏ nhất sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: không.

    Bị cáo bị khởi tố và bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 07/6/2024 đến nay tại xã T, huyện S, tỉnh Lai Châu. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  2. Họ và tên: Tẩn M – Sinh năm 1973 tại huyện S, tỉnh Lai Châu; giới tính: nữ; tên gọi khác: không; nơi đăng ký thường trú và nơi ở hiện nay: bản T, xã T, huyện S, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: trồng trọt; trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: Dao; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; con ông: Tẩn Chiêm Dảo (đã chết); con bà: Tẩn Moàng D1 – sinh năm 1940; gia đình bị cáo có 07 anh chị em, bị cáo là con thứ năm trong gia đình; chồng: Tẩn L - sinh năm 1976 (là bị cáo trong cùng vụ án), bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1996, con nhỏ nhất sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị khởi tố và bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 07/6/2024 đến nay tại xã T, huyện S, tỉnh Lai Châu. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  • * Người bào chữa cho các bị cáo: bà Nguyễn Thị N – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L. Có mặt
  • * Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
  • UBND xã T, huyện S, tỉnh Lai Châu, người đại diện ông Tẩn A K, chức vụ Chủ tịch UBND xã T. Người đại diện theo Ủy quyền: ông Tẩn A C, chức vụ: Phó Chủ tịch UBND xã T. Có mặt
  • Ban quản lý rừng phòng hộ huyện S, tỉnh Lai Châu, người đại diện: ông Nguyễn Mậu C1, sinh năm 1987, chức vụ: Phó Trưởng ban rừng phòng hộ huyện S, tỉnh Lai Châu. Người đại diện theo ủy quyền: ông Bùi Văn M, chức vụ Phó Trưởng ban. Có mặt.
  • Ông Tẩn A S, sinh năm 1983, Trưởng bản bản Tả Phìn, xã T huyện S, tỉnh Lai Châu. Có mặt. Địa chỉ: bản T, xã T huyện S, tỉnh Lai Châu.
  • Ông Tẩn Xoang P, sinh năm 1985, Trưởng bản bản Tầm Choong, xã T, huyện S, tỉnh Lai Châu. Có mặt. Địa chỉ: bản T, xã T, huyện S, tỉnh Lai Châu.

* Những người làm chứng:

  1. Ông Tẩn A P1, sinh năm 1980. Có mặt. Địa chỉ: bản T, xã T, huyện S, tỉnh Lai Châu.
  2. Bà Chẻo Mý L, sinh năm 1978. Có mặt. Địa chỉ: bản T, xã T, huyện S, tỉnh Lai Châu.
  • * Người được Tòa án triệu tập: Ông Hoàng Hữu T, sinh năm 1980, chức vụ Phó hạt trưởng Hạt kiểm lâm huyện S. Có mặt
  • * Người phiên dịch: ông Tẩn Liều T1, sinh năm 1990. Có mặt. Địa chỉ: khu phố D thị trấn S, huyện S, tỉnh Lai Châu

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: trong quá trình sinh sống tại bản T, xã T, huyện S, tỉnh Lai Châu, bị cáo Tẩn Lù S1 và vợ là Tẩn Mý G, đã được chính quyền địa phương vận động, tuyên truyền, ký hợp đồng bảo vệ rừng và hàng năm đều được nhận tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng nhưng do không có đất để trồng trọt nên Tẩn Lù S1 bàn bạc với vợ là Tẩn Mý G đi phá rừng để lấy đất làm nương trồng ngô. Khoảng tháng 12 năm 2023 Tẩn L và Tẩn Mý G mang theo dao phát và rìu đi lên khu vực rừng phòng hộ, lô 14 do Ban quản lý rừng phòng hộ huyện S quản lý và các lô 19, 23 do UBND xã T quản lý thuộc khoảnh 7, tiểu khu B tại bản T, xã T, huyện S, tỉnh Lai Châu để phát cỏ rậm, cây nhỏ, dây leo, còn những cây to thì để lại. Khoảng 03 ngày sau, S1 nhờ vợ chồng thông gia là ông Tẩn A P1 và bà C2 Mý Lún đến giúp việc phát nương (phát cỏ rậm, cây nhỏ, dây leo) và dọn dẹp, mỗi người giúp khoảng 04 ngày thì nghỉ. Khi phát đến ngày thứ năm, vợ chồng S1 thuê một người đàn ông dân tộc Mông, không rõ lai lịch, với giá 800.000 đồng/ngày, người này dùng máy cưa của mình chặt hạ những cây to và cắt ngắn thành từng khúc, làm được 02 ngày thì xong. Để giúp cho việc phát rừng, dọn nương được nhanh chóng, vợ chồng S1 thuê từ 02 đến 03 người phụ nữ, không rõ lai lịch và trả công 250.000 đồng/người/ngày. Việc chặt, phá rừng diễn ra khoảng 25 ngày, những cây to đã chặt thành từng khúc, vợ chồng S1 dùng rìu để bổ thành củi, và xếp thành từng đống.

Ngày 18/01/2024, Ban chỉ đạo thực hiện công tác lâm nghiệp xã T, huyện S tổ chức đi tuần tra, kiểm tra rừng thì phát hiện vụ việc trên nên đã yêu cầu bị cáo Tẩn Lù S1, Tẩn Mý G chấm dứt hành vi chặt phá rừng và báo cáo đến Cơ quan Hạt kiểm lâm huyện S giải quyết vụ việc. Cơ quan Hạt kiểm Lâm đã phối hợp với Cơ quan CSĐT Công an huyện S và Cơ quan liên quan tiến hành khám nghiệm hiện trường, tiến hành đo đạc diện tích rừng bị phá là 7.400m²; củi tận thu là 84,82 Ster và thu giữ vật chứng theo quy định của pháp luật. Xác định tọa độ vị trí rừng, đối chiếu với trích lục bản đồ hiện trạng rừng năm 2023 của UBND huyện S, xác định khu vực bị chặt phá thuộc các lô 14,19, 23, khoảnh 7, tiểu khu B và diện tích rừng này là rừng tự nhiên có chức năng phòng hộ.

Kết quả điều tra xác định: Các lô 19, 23 là do Ủy ban nhân dân xã T quản lý; lô 14 là do Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện S quản lý theo Quyết định số 1823/QĐ-UBND ngày 26/12/2013 của Uỷ ban nhân dân tỉnh về việc giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp cho Ban Quản lý rừng phòng hộ Nậm Na huyện S tại xã T, huyện S và Quyết định số 347/QĐ-UBND ngày 29/3/2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh L về việc phê duyệt kết quả kiểm kê rừng tỉnh Lai Châu năm 2015; Quyết định số 07/QĐ-UBND ngày 12/01/2024 của UBND huyện S về công bố hiện trạng rừng huyện S năm 2023.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 05 ngày 03/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện S kết luận 84,82 Ster củi (tương đương với 84,82 m³ rỗng) có trị giá là 21.205.000 đồng. Kết luận giám định tư pháp trong lĩnh vực giám định tư pháp về lâm nghiệp số 03 – 2024/KLGĐTT ngày 30/9/2024.

Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã thu giữ những vật chứng sau:

  • Thu giữ của các bị cáo: 01 con dao phát có tổng chiều dài 58cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 27cm, phần lưỡi dao rộng nhất 04cm, cán dao bằng gỗ, có chiều dài 31cm; 01 con dao phát có tổng chiều dài 82cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 28cm, phần lưỡi dao rộng nhất 03cm, cán dao bằng gỗ, có chiều dài 54cm; 01 cái rìu, lưỡi bằng kim loại, có chiều dài 16cm, rộng 06cm, cán rìu bằng gỗ có chiều dài 65cm.
  • Đối với 84,82 Ster củi (tương đương với 84,82m³ rỗng). Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã giao cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện S quản lý. Tuy nhiên, do điều kiện đường rừng UBND xã và Cơ quan chức năng chưa kịp di chuyển về UBND xã để quản lý, nên đã bị mất.

* Về Trách nhiệm bồi thường dân sự: tại phiên tòa ông Tẩn A C là người đại diện theo uỷ quyền của Ủy ban nhân dân xã T và ông Bùi Văn M là người đại diện theo ủy quyền của Ban quản lý rừng phòng hộ huyện S đề nghị các bị cáo bồi thường trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật.

Bản cáo trạng số 49/CT - VKSSH ngày 20/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ và văn bản giữ nguyên bản Cáo trạng của đại diện Viện kiểm sát đã Truy tố các bị cáo Tẩn Lù S1, Tẩn Mý G ra trước Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu, để xét xử về tội “Hủy hoại rừng” theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 243 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát căn cứ kết luận giám định tư pháp trong lĩnh vực giám định tư pháp về lâm nghiệp số 03 – 2024/KLGĐTT ngày 30/9/2024 của Chi cục kiểm lâm tỉnh L đề nghị thay đổi một phần bản Cáo trạng rút một phần truy tố hành vi phạm tội của hai bị cáo với diện tích rừng bị phá từ 7.400 m² xuống 7.000 m² (theo kết luận thì lô 23 có 400 m² nằm ngoài diện tích quy hoạch lâm nghiệp) Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 243 Bộ luật hình sự, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 54, Điều 65 Bộ luật hình sự đối với cả hai bị cáo, xử phạt bị cáo Tẩn Lù S1 từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Hủy hoại rừng”. Xử phạt bị cáo Tẩn Mỹ G từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Hủy hoại rừng”. Ấn định thời gian thử thách đối với các bị cáo theo quy định của pháp luật. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo là phạt tiền theo quy định tại khoản 4 Điều 243 Bộ luật hình sự. Miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí có giá ngạch cho các bị cáo theo quy định của pháp luật.

Xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình: tịch thu, tiêu hủy 02 con dao phát; 01 cái rìu.

Về trách nhiệm dân sự: ông Tẩn A C và ông Bùi Văn M là người đại diện các cơ quan liên quan yêu cầu các bị cáo bồi thường trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật. Buộc bị cáo Tẩn Lù S1, bị cáo Tẩn Mỹ G có trách nhiệm liên đới nộp ngân sách nhà nước số tiền 21.205.000 đồng, mỗi bị cáo chịu trách nhiệm một nửa số tiền nộp bồi thường trên. Được khấu trừ đi số tiền 2.000.000 đồng hai bị cáo đã nộp tại biên lai thu tiền số 0000580 và biên lai thu tiền số 0000581 cùng ngày 18 tháng 9 năm 2024. Buộc các bị cáo liên đới bồi thường cho UBND xã T số tiền 9.602.500 đồng và Ban Q số tiền 9.602.500 đồng.

Người bào chữa cho các bị cáo trình bày bản bào chữa: Các bị cáo phạm tội nguyên nhân sâu xa do phong tục tập quán và nghĩ rằng đất đó là do ông bà tổ tiên khai hoang để lại, phong tục du canh du cư, và nhận thức pháp luật còn rất hạn chế, sau khi vi phạm thì mới biết đất là đã quy hoạch vào đất rừng phòng hộ, một phần lỗi thuộc cơ quan quản lý nhà nước trong việc quản lý đất đai. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 54, Điều 65, điểm e khoản 2 Điều 243 Bộ luật hình sự xem xét giảm nhẹ hình phạt xử dưới mức thấp nhất của khung hình phạt và cho các bị cáo được hưởng án treo. Miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự có giá ngạch cho các bị cáo. Miễn hình phạt bổ sung và xem xét trách nhiệm dân sự cho các bị cáo theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo Tẩn Lù S1, Tẩn Mý G đều nhất trí với bản bào chữa của người bào chữa. Đại diện viện kiểm sát tranh luận giữ nguyên quan điểm. Tại lời nói sau cùng bị cáo Tẩn Lù S1 rất hối hận về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo, bị cáo Tẩn Mý G đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Tại phiên tòa lần thứ nhất Hội đồng xét xử đã ra quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung để làm rõ một số vấn đề sau khi đại điện Viện kiểm sát đề nghị rút một phần diện tích rừng phòng hộ bị phá để truy tố đối với hai bị cáo từ 7.400 m² xuống 7.000 m². Viện kiểm sát có văn bản trả lời và giữ nguyên quan điểm truy tố.

[2] Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:

Lời khai nhận tội của các bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng và các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ để khẳng định: do muốn có đất để canh tác nên trong khoảng thời gian từ tháng 12 năm 2023 đến ngày 18 tháng 01 năm 2024, Tẩn L và Tẩn Mý G đã có hành vi dùng dao phát, rìu, máy cưa chặt phá diện tích 7.400m² rừng phòng hộ tại các lô 14, 19, 23 khoảnh 7, tiểu khu B, thuộc bản T, xã T, huyện S, tỉnh Lai Châu, thuộc quyền quản lý của Ủy ban nhân dân xã T, huyện S và Ban quản lý rừng phòng hộ huyện S. Tại phiên tòa vị đại điện Viện kiểm sát đề nghị rút một phần diện tích rừng phòng hộ bị phá để truy tố đối với hai bị cáo từ 7.400 m² xuống 7.000 m² là có căn cứ. Vật chứng các bị cáo đã phá hoại là số củi tận thu là 84,82 Ster và thu giữ các vật chứng theo quy định của pháp luật. Tại bản kết luận định giá tài sản số 05 ngày 03/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện S kết luận 84,82 Ster củi (tương đương với 84,82 m³ rỗng) có trị giá là 21.205.000 đồng.

Hành vi nêu trên của các bị cáo Tẩn Lù S1, Tẩn Mý G là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý rừng của Nhà nước, xâm phạm nghiêm trọng đến môi trường sinh thái, gây ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường. Các bị cáo Tẩn Lù S1 và Tẩn Mý G là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý.

Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, bị cáo Tẩn Lù S1 là người khởi xướng và thực hành; bị cáo Tẩn Mỹ G có vai trò là người thực hành, giúp sức tích cực. Các bị cáo có vai trò ngang nhau và có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của bản thân và thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi nêu trên của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách quản lý và bảo vệ rừng của Nhà nước, gây ảnh hưởng đến trật tự trị an, an toàn xã hội của địa phương. Ý thức được điều đó nhưng vì mục đích tư lợi cho bản thân các bị cáo vẫn cố ý phạm tội nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Hủy hoại rừng” theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 243 Bộ luật hình sự.

Điều 243. Tội huỷ hoại rừng, quy định:

“1. Người nào đốt, phá rừng trái phép hoặc có hành vi khác huỷ hoại rừng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm...

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm: e) Rừng phòng hộ có diện tích từ 7.000 mét vuông (m²) đến dưới 10.000 mét vuông (m²);

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”

[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo: trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo Tẩn Lù S1, Tẩn Mý G đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của bản thân; các bị cáo đã tự nguyện nộp tiền bồi thường, khắc phục hậu quả, mỗi bị cáo nộp 1.000.000 đồng, tổng số tiền là 2.000.000 đồng đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sìn Hồ; các bị cáo đều là người dân tộc thiểu số không được đi học và sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng cho các bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, xét nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Xét toàn diện nội dung vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy: các bị cáo là đồng phạm giản đơn, các bị cáo đã nhận thức rõ và rất ân hận về hành vi phạm tội của mình, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, căn cứ hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2018/NQ – HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 01/2022/NQ – HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nên việc cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội là không cần thiết mà quyết định cho hai bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách theo quy định; việc cho các bị cáo hưởng án treo thể hiện được tính răn đe, giáo dục, tính khoan hồng của pháp luật và không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, đồng thời thể hiện tính nhân đạo của pháp luật Xã hội chủ nghĩa. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, đề nghị của người bào chữa đề nghị mức xử phạt cho các bị cáo được hưởng án treo là phù hợp, về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng và các vấn đề khác đối các bị cáo là có căn cứ nên được chấp nhận.

[4] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, lẽ ra bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền theo quy định tại khoản 4 Điều 243 của Bộ luật hình sự. Nhưng xét thấy các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có khả năng thi hành, gia đình có hoàn cảnh khó khăn. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[5] Về vật chứng của vụ án: Tịch thu, tiêu hủy 02 con dao phát; 01 cái rìu.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Xét lỗi và trách nhiệm của các bị cáo là ngang nhau. Bị cáo Tẩn Lù S1, bị cáo Tẩn Mý G có trách nhiệm liên đới nộp ngân sách nhà nước số tiền 21.205.000 đồng (Theo bản kết luận định giá tài sản số 05 ngày 03/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện S kết luận 84,82 Ster củi tương đương với 84,82 m³ rỗng). Được khấu trừ đi số tiền 2.000.000 đồng hai bị cáo đã nộp tại biên lai thu tiền số 0000580 và biên lai thu tiền số 0000581 cùng ngày 18 tháng 9 năm 2024. Buộc các bị cáo liên đới bồi thường cho UBND xã T số tiền 9.602.500 đồng và Ban Q số tiền 9.602.500 đồng. Bị cáo Tẩn Lù S1 phải bồi thường cho UBND xã T và Ban quản lý rừng phòng hộ huyện S, mỗi cơ quan số tiền 4.801.250 đồng để các cơ quan nộp ngân sách nhà nước. Bị cáo Tẩn Mý G phải bồi thường cho UBND xã T và Ban quản lý rừng phòng hộ huyện S, mỗi cơ quan số tiền 4.801.250 đồng để các cơ quan nộp ngân sách nhà nước.

[7] Về các vấn đề liên quan:

  • Đối với Tẩn A P1 và Chẻo Mý L là những người đã giúp gia đình Tẩn Lù Sèo chặt, phá diện tích rừng trên. Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định Tẩn A, Chẻo Mý L không được bàn bạc, không được hưởng lợi và không biết đó là rừng phòng hộ mà chỉ đi giúp vợ chồng S1, G làm việc nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ đúng quy định.
  • Ngoài ra, Tẩn L và Tẩn Mý G còn thuê một số người chặt, phát, dọn dẹp nương của gia đình. Do S1, G không biết rõ lý lịch của những người này, ngoài ra không có tài liệu, chứng cứ gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  • Kiến nghị UBND xã T làm rõ trách nhiệm của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong việc giao nhận, quản lý, bảo quản vật chứng của vụ án là 84,82 Ster củi, xử lý nghiêm trách nhiệm theo quy định của pháp luật.
  • Kiến nghị UBND xã T, Ban quản lý rừng phòng hộ huyện S tăng cường công tác quản lý, tuyên truyền, phổ biến, quán triệt đến bà con nhân dân trên địa bàn mình quản lý về công tác bảo về rừng, các quy định của Nhà nước về rừng, trách nhiệm của nhân dân trong việc được giao khoán và bảo vệ rừng. Làm tốt công tác quản lý về đất đai phổ biến rõ cho bà con biết rõ về diện tích rừng, mốc giới, việc quy hoạch chuyển đổi rừng của nhà nước.

[7] Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí có giá ngạch cho các bị cáo theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm e khoản 2, khoản 4 Điều 243, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 của Bộ luật hình sự. Nghị quyết số 02/2018/NQ – HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ – HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự. Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án đối với các bị cáo:

  1. Tuyên bố các bị cáo Tẩn Lù S1, Tẩn Mý G phạm tội “Hủy hoại rừng”.
  2. Về hình phạt:

    Xử phạt: Bị cáo Tẩn Lù S1 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 29/11/2024. Trong thời gian thử thách, giao bị cáo Tẩn Lù S1 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện S, tỉnh Lai Châu giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong quá trình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.

    Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    Xử phạt: Bị cáo Tẩn Mỹ G 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 29/11/2024. Trong thời gian thử thách, giao bị cáo Tẩn Mý G cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện S, tỉnh Lai Châu giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong quá trình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho cả hai bị cáo.

    Áp dụng điểm d khoản 1 điều 125 của Bộ luật Tố tụng hình sự: hủy bỏ biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với các bị cáo.

  3. Về vật chứng của vụ án: áp dụng Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình: tịch thu, tiêu hủy 01 con dao phát có tổng chiều dài 58cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 27cm, phần lưỡi dao rộng nhất 04cm, cán dao bằng gỗ, có chiều dài 31cm; 01 con dao phát có tổng chiều dài 82cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 28cm, phần lưỡi dao rộng nhất 03cm, cán dao bằng gỗ, có chiều dài 54cm; 01 cái rìu, lưỡi bằng kim loại, có chiều dài 16cm, rộng 06cm, cán rìu bằng gỗ có chiều dài 65cm. (Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 10 giờ 00 phút ngày 11/09/2024 giữa Công an huyện S và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sìn Hồ).
  4. Về trách nhiệm dân sự: áp dụng khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự, các Điều 584, 585, 587, 589 của Bộ luật dân sự: buộc bị cáo Tẩn Lù S1, bị cáo Tẩn Mý G có trách nhiệm liên đới theo phần bằng nhau nộp đủ số tiền 21.205.000 (hai mươi mốt triệu hai trăm linh năm nghìn) đồng được khấu trừ đi 2.000.000 (hai triệu) đồng hai bị cáo đã nộp tại biên lai thu tiền số 0000580 và biên lai thu tiền số 0000581 cùng ngày 18 tháng 9 năm 2024. Buộc các bị cáo liên đới bồi thường cho UBND xã T số tiền 9.602.500 (chín triệu sáu trăm linh hai nghìn năm trăm) đồng và Ban Q số tiền 9.602.500 (chín triệu sáu trăm linh hai nghìn năm trăm) đồng.

    Bị cáo Tẩn Lù S1 phải bồi thường cho UBND xã T và Ban quản lý rừng phòng hộ huyện S, mỗi cơ quan số tiền 4.801.250 (bốn triệu tám trăm linh một nghìn hai trăm năm mươi) đồng để các cơ quan nộp ngân sách nhà nước. Bị cáo Tẩn Mý G phải bồi thường cho UBND xã T và Ban quản lý rừng phòng hộ huyện S, mỗi cơ quan số tiền 4.801.250 (bốn triệu tám trăm linh một nghìn hai trăm năm mươi) đồng để các cơ quan nộp ngân sách nhà nước.

  5. Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

    Trường hợp bản án, quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  6. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí giá ngạch cho các bị cáo.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp trên về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND tỉnh Lai Châu;
  • - Sở tư pháp tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND huyện Sìn Hồ;
  • - Chi Cục THADS huyện Sìn Hồ;
  • - Công an huyện Sìn Hồ (CSĐT);
  • - Công an huyện Sìn Hồ (CQ THAHS);
  • - Các bị cáo; Những người có QLNVLQ;
  • - Người bào chữa;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà

Lê Minh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2024/HS-ST ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ, TỈNH LAI CHÂU về hủy hoại rừng

  • Số bản án: 07/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hủy hoại rừng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ, TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tẩn Lù Sèo và đồng phạm phạm tội Hủy hoại rừng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger