|
TAND HUYỆN PHONG THỔ TỈNH LAI CHÂU Bản án số: 07/2024/HS-ST Ngày 15-11-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỎ, TỈNH LAI CHÂU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thị Tuyết Thanh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lò Văn Chiên
2. Ông Đèo Văn Vĩnh
Thư ký phiên toà: Bà Lù Thị Xuân - Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ tham gia phiên toà:
Ông Đặng Hồng Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 11 năm 2024 Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 11/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2024/QĐXXST-HS ngày 04/11/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lù Văn K; giới tính: Nam; sinh năm 1999; Nơi sinh: huyện P, tỉnh Lai Châu; Nơi cư trú: bản H, xã K, huyện P, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 4/12; Con ông Lù Văn L, đã chết và con bà Vàng Thị X, sinh năm 1967; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/6/2024 đến ngày 05/7/2024 bị áp dụng biện pháp tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh L, đến ngày 12/9/2024 chuyển đến Nhà tạm giữ Công an huyện P tạm giam cho đến nay. Có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Vũ Văn T, sinh năm 1969; địa chỉ: Tổ dân phố P, thị trấn P, huyện P, tỉnh Lai Châu. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ ngày 25/6/2024, Lù Văn K đang đi trên đường thuộc bản Hùng Pèng, xã M, huyện P thì gặp một người đàn ông dân tộc Mông không rõ lai lịch bị hỏng xe mô tô. Sau khi sửa giúp xe thì người đàn ông đó nhờ K 10 giờ sáng mai dẫn đi mua Heroine, nếu mua được sẽ cho sử dụng cùng, K đồng ý.
Khoảng 10 giờ ngày 26/6/2024, Lù Văn K điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 29Y6-8883 của Vũ Văn T đến vị trí hỏng xe hôm trước gặp người đàn ông rồi cả hai cùng đi về hướng Cửa khẩu Ma Lù T1 thuộc xã M, huyện P. Khi đến nơi, người đàn ông đưa cho K số tiền 500.000 đồng. K bảo người đàn ông đứng đợi còn mình đi đến nhà Vũ Đình T2, sinh năm 1984, trú tại bản P, xã M, huyện P hỏi mua Heroine. Tại nhà T2, K mua của T2 05 gói Heroine giá 500.000 đồng. Mua được H, K cất giấu trong lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe mô tô quay lại gặp người đàn ông. Hồi 11 giờ 30 phút ngày 26/6/2024, Lù Văn K đang đi trên đường B, xã M, huyện P thì bị Đồn Biên phòng Cửa khẩu M, Bộ đội Biên phòng tỉnh L dừng xe kiểm tra, phát hiện bắt quả tang về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, thu giữ 05 gói Heroine, 01 điện thoại di động mặt trước có chữ ACE, 01 xe mô tô biển kiểm soát 29Y6-8883. Đối với người đàn ông đưa tiền cho K mua H, lực lượng Biên phòng xác minh tại địa điểm K hẹn gặp khi quay lại nhưng không tìm thấy.
Tại bản Kết luận giám định số 861/KL-KTHS ngày 27/6/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh L kết luận: số chất bột màu trắng thu giữ của Lù Văn K có tổng khối lượng là 0,25 gam, là ma tuý; loại Heroine.
Bản cáo trạng số 100/CT-VKSPT ngày 11/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ đã truy tố bị cáo Lù Văn K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về bản kết luận điều tra số 100/KLĐT-CQĐT ngày 23/9/2024 của Cơ quan CSĐT Công an huyện P và bản Cáo trạng nêu trên.
Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 15 đến 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự và xử lý vật chứng theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2; điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự và miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng, không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát.
Tại lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và
người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với nội dung vụ án, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thu thập hợp pháp. Như vậy, có đủ cơ sở để xác định: Hồi 11 giờ 30 phút ngày 26/6/2024, tại bản P, xã M, huyện P, tỉnh Lai Châu, Lù Văn K đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 05 gói Heroine có tổng khối lượng 0,25 gam, mục đích để sử dụng thì bị Đồn Biên phòng Cửa khẩu M, Bộ đội B phong tỉnh Lai Châu bắt quả tang. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, quan điểm đề nghị về tội danh, mức hình phạt đối với bị cáo của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là hoàn toàn có cơ sở, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng do bị cáo nghiện ma túy nên vẫn cố ý thực hiện. Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, có tính chất nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn nên cần được xử lý nghiêm minh.
[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, khi bắt quả tang xét nghiệm chất ma túy trong nước tiểu bằng test nhanh kết quả xác định trong nước tiểu của bị cáo phát hiện có ma túy nhóm O (M, Heroine); bị cáo không có công việc ổn định, thường xuyên có mối quan hệ với các đối tượng nghiện chất ma túy.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, không biết chữ nên nhận thức pháp luật rất hạn chế. Do vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Không có.
Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Xét thấy cần thiết phải có mức hình phạt nghiêm khắc trên mức khởi điểm đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo có cơ hội cai nghiện ma túy và răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.
[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền nhưng bị cáo nghề nghiệp lao động tự do, nguồn thu thấp, không ổn định. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về vật chứng của vụ án: Đối với 0,25 gam Heroine thu giữ của bị cáo, Đồn Biên phòng Cửa khẩu M đã lấy toàn bộ gửi giám định chất ma túy (không hoàn lại mẫu vật) nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Vật chứng còn lại gồm: 05 mảnh nilon màu xanh, 01 mảnh giấy màu trắng, 01 phong bì niêm phong đã mở là vật chứng không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
01 chiếc điện thoại di động màu đen thu giữ của bị cáo, do bị cáo không dùng vào việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo theo điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại xe Jupiter MX, màu đỏ đen, BKS 29Y6-8883, số khung 7Y024017, số máy 7Y024017, xe đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong (kèm một chiếc chìa khóa xe) của anh Vũ Văn T, anh T không biết việc bị cáo dùng chiếc xe trên để đi mua ma túy nên cần trả lại cho anh T theo điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[6] Những vấn đề liên quan:
Đối với người đàn ông đưa cho Lù Văn K số tiền 500.000 đồng để mua Heroine, K khai không rõ nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xử lý.
Quá trình điều tra, Lù Văn K khai mua Heroine của Vũ Đình T2. Cơ quan điều tra đã lấy lời khai, tiến hành đối chất giữa T2 và K nhưng T2 không thừa nhận việc bán H cho K. Ngoài lời khai của Khoa, không có tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh nên không đủ căn cứ xử lý Vũ Đình T2 trong cùng vụ án.
Đối với Vũ Văn T là chủ sở hữu chiếc xe mô tô biển kiểm soát 29Y6-8883. Quá trình điều tra xác định, khi sử dụng chiếc xe mô tô đi mua Heroine, K không nói cho T và T không biết. Do đó, T không phạm tội.
[7] Về án phí: Gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo nên quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2; điểm b khoản 3
Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lù Văn K phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/6/2024.
- Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
- Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 05 mảnh nilon màu xanh, 01 mảnh giấy màu trắng, 01 phong bì niêm phong đã mở.
Trả lại 01 chiếc điện thoại di màu đen cho bị cáo.
Trả lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại xe Jupiter MX, màu đỏ đen, BKS 29Y6-8883, số khung 7Y024017, số máy 7Y024017, xe đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong (kèm một chiếc chìa khóa xe) cho anh Vũ Văn T, sinh năm sinh năm 1969; địa chỉ: Tổ dân phố P, thị trấn P, huyện P, tỉnh Lai Châu.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/10/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P và Chi Cục thi hành án dân sự huyện Phong Thổ).
- Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thị Tuyết Thanh |
Bản án số 07/2024/HS-ST ngày 15/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU về hình sự sơ thẩm về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 07/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lù Văn K phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
