Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ TÂN CHÂU

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2024/HS-ST

Ngày 13 tháng 11 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Minh Nhựt.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông SoRoLes và Ông Phan Ngọc Quế.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Minh Cảnh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Bảo Thịnh - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 65/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2024, đối với:

Bị cáo Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1988; tại T - An Giang. Nơi cư trú: Ấp P, xã L, thị xã T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Hòa Hảo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B và bà Trần Thị D1; anh, chị em có 03 người; bị cáo là người thứ ba; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 05/8/2024 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an thị xã T (có mặt).

- Bị hại:

  1. Lê Thị N, sinh năm 1976; Nơi cư trú: Ấp C, xã V, thị xã T, tỉnh An Giang (vắng mặt).
  2. Võ Thị H, sinh năm 1959; Nơi cư trú: Ấp A, xã V, thị xã T, tỉnh An Giang (vắng mặt).
  3. Văng Thị T, sinh năm 1967; Nơi cư trú: Ấp A, xã V, thị xã T, tỉnh An Giang (vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Nguyễn Thị Thu H1, sinh năm 1980; Nơi cư trú: Ấp P, xã P, thị xã T, tỉnh An Giang (có mặt).
  2. Trịnh Thị Bích L, sinh năm 1972; Nơi cư trú: Ấp D, xã V, thị xã T, tỉnh An Giang (vắng mặt).
  3. Đào Thanh X, sinh năm 1985; Nơi cư trú: Ấp A, xã V, thị xã T, tỉnh An Giang (vắng mặt).
  4. Phí Ngọc T1, sinh năm 1984; Nơi cư trú: Ấp B, xã V, thị xã T, tỉnh An Giang (vắng mặt).

- Người làm chứng: Phạm Thị Thanh T2, Nguyễn Thành T3, Trần Thị Đ1 (tất cả đều vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 15/5/2024, Nguyễn Văn Đ đến quán giải khát của Lê Thị N ở ấp C, xã V, thị xã T, nằm võng uống nước. Khi này, Đặng nhìn thấy điện thoại di động hiệu Oppo Reno 5 của Lê Thị N đang sạc pin nên lén lút lấy trộm, đem bán cho Trịnh Thị Bích L ở ấp D, xã V, thị xã T với số tiền 440.000 đồng, khi mua, L không biết do trộm cắp mà có. Sau khi bị mất trộm điện thoại, bị hại trình báo Công an. Qua mời làm việc Đặng thừa N1 hành vi phạm tội và khai nhận đã 02 lần lấy trộm điện thoại di động. Cụ thể:

Vụ thứ nhất:

Khoảng 19 giờ ngày 11/5/2024, Đặng đi đến quán nước của Võ Thị H ở ấp A, xã V, thị xã T, phát hiện điện thoại di động hiệu Oppo A16K của Võ Thị H để phía trên tủ trưng bày, lợi dụng lúc bà H đi khỏi quán Đ tiếp cận lấy trộm bỏ vào túi quần, bỏ đi về nhà. Đến khoảng 11 giờ ngày 12/5/2024, Đ đem bán cho cửa hàng Mạnh C do Phí Ngọc T1 làm chủ ở ấp B, xã V, thị xã T với số tiền 800.000 đồng. Khi mua T1 không biết do trộm cắp mà có.

Vụ thứ hai:

Khoảng 16 giờ ngày 14/5/2024, Đặng đi đến quán giải khát của Văng Thị T ở ấp A, xã V, thị xã T, phát hiện điện thoại di động hiệu Oppo A16 của ai Văng Thị T để trong hộc cốp trước xe Vision Đặng tiếp cận lấy trộm. Xong, đem đến cửa hàng T4 do Đào Thanh X làm chủ ở ấp A, xã V, thị xã T bán với số tiền 800.000 đồng. Khi mua X không biết do trộm cắp mà có.

Kết quả điều tra bị cáo Đặng thừa N1 hành vi lấy trộm tài sản như trên.

Tại Kết luận định giá tài sản số 881 ngày 19/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã T, kết luận:

  • 01 điện thoại di động hiệu Oppo Reno 5 màu bạc, trị giá 2.100.000 đồng.
  • 01 điện thoại di động hiệu Oppo A16K màu xanh dương, trị giá 1.200.000 đồng.
  • 01 điện thoại di động hiệu Oppo A16 màu bạc, trị giá 1.200.000 đồng.
  • 01 ốp lưng bằng nhựa màu xanh trắng, trị giá 10.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản: 4.510.000 đồng.

Vật chứng thu giữ gồm:

  • 01 điện thoại di động hiệu Oppo A16 màu bạc.
  • 01 điện thoại di động hiệu Oppo A16K màu xanh dương.
  • 01 điện thoại di động hiệu Oppo Reno 5 màu bạc.
  • Số tiền Việt Nam: 990.000 đồng.

(Đối với 03 điện thoại di động đã trả lại cho bị hại)

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo tác động gia đình khắc phục hậu quả, bị hại, người liên quan đã nhận lại tài sản, tiền, không yêu cầu bồi thường.

Tại Cáo trạng số 67/CT-VKSTC ngày 01/10/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu đã truy tố Nguyễn Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Mục đích lấy trộm tài sản nhằm bán lấy tiền tiêu xài cá nhân.

Các bị hại bà Lê Thị N, bà Võ Thị H và bà Văng Thị T có lời khai hoàn toàn phù hợp với lời khai bị cáo, nội dung vụ án và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Bà Lê Thị N, bà Võ Thị H và bà Văng Thị T đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường, yêu cầu xử lý bị cáo theo quy định pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đều có lời khai phù hợp với nội dung Cáo trạng, phù hợp với các lời khai khác và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, vai trò tham gia trong vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm b, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Đề nghị áp dụng các Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý vật chứng theo quy định.

Bị cáo không bào chữa và tranh luận gì, lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

  • - Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều thực hiện đúng pháp luật.
  • - Tại phiên toà, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt, dù đã được Toà án tống đạt hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt họ không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo Nguyễn Văn Đ đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Khoảng 13 giờ ngày 15/5/2024, bị cáo Nguyễn Văn Đ đến quán giải khát của Lê Thị N nằm võng uống nước. Khi nhìn thấy điện thoại di động hiệu Oppo Reno 5 trị giá 2.100.000 đồng của Lê Thị N đang sạc pin, Đ lén lút lấy trộm, đem bán cho Trịnh Thị Bích L với số tiền 440.000 đồng. Ngoài ra bị cáo Nguyễn Văn Đ còn khai nhận đã 02 lần lấy trộm điện thoại di động. Cụ thể:

Ngày 11/5/2024, bị cáo Đặng L1 trộm điện thoại di động hiệu Oppo A16K trị giá 1.200.000 đồng của Võ Thị H đem bán cho Phí Ngọc T1 với số tiền 800.000 đồng.

Ngày 14/5/2024, bị cáo Đặng L1 trộm điện thoại di động hiệu Oppo A16 trị giá 1.200.000 đồng của Văng Thị T bán cho Đào Thanh X với số tiền 800.000 đồng.

Phương thức, thủ đoạn thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo đúng như nội dung vụ án đã nêu.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương, tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 4.510.000 đồng.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn Đ đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 có khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Lẽ ra phải tích cực lao động, rèn luyện tu dưỡng bản thân để trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội. Nhưng ngược lại, vì muốn có tiền tiêu xài mà không phải lao động nên bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, cần phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi bị cáo.

Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo và thực sự ăn năn hối cải; bị cáo tích cực tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho các bị hại, tài sản đã được thu hồi; bị cáo tự thú khai ra hành vi phạm tội trước đó; gia đình có hoàn cảnh khó khăn, có cha mẹ già. Đây là các tình tiết để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên luận tội bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm, khoản, điều luật, đồng thời đề nghị mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo như trên là có căn cứ, đúng pháp luật, Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Xét thấy, bị cáo không có nghề nghiệp, tài sản, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng:

Đối với các vật chứng vụ án đã được trao trả lại cho các bị hại, chủ sở hữu trong giai đoạn điều tra theo đúng quy định nên không xem xét xử lý.

Đối với số tiền 990.000 đồng là tiền bị cáo bán tài sản chiếm đoạt thu lợi bất chính mà có nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Các đương sự không có yêu cầu bồi thường thiệt hại gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[8] Đối với Trịnh Thị Bích L, Phí Ngọc T1 và Đào Thanh X có hành vi mua tài sản của bị cáo Đ nhưng bà L, ông T1 và ông X không biết đây là tài sản do trộm cắp mà có nên không truy cứu trách nhiệm hình sự là có căn cứ. Đồng thời, bà Nguyễn Thị Thu H1 là người thân gia đình bị cáo đã hoàn trả xong số tiền cho bà L, ông T1 và ông X nên bà L, ông T1 và ông X không yêu cầu bị cáo bồi thường; bà H1 cũng không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền đã bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[9] Về các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 05/8/2024).

  3. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước tiền Việt Nam số tiền 990.000 đồng (Chín trăm chín mươi nghìn đồng).

    (Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 31/10/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu)

  4. Căn cứ vào Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

  5. Căn cứ các Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo, bà Nguyễn Thị Thu H1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Bị hại, người có quyền, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh An Giang (01);
  • - VKSND tỉnh An Giang (01);
  • - VKSND TX. Tân Châu (02);
  • - Sở Tư pháp tỉnh An Giang (01);
  • - Nhà Tạm giữ (01);
  • - Cơ quan CSĐT Công an Tân Châu (01);
  • - Thi hành án DS huyện (01);
  • - Bộ phận THAHS Tòa án (04);
  • - UBND cấp xã nơi BC cư trú (01);
  • - Bị cáo, bị hại, liên quan (nếu có);
  • - Lưu hồ sơ vụ án (01);
  • - Lưu văn phòng (01).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà

Huỳnh Minh Nhựt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2024/HS-ST ngày 13/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 07/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BỊ CÁO NGUYỄN VĂN T PHẠM TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger