|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ TỈNH LAI CHÂU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 07/2024/HSST Ngày: 08/11/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa, ông: Lò Xuân Hải.
Các hội thẩm nhân dân:
Ông: Lý Ngọc Sáng.
Ông: Tống Văn Đông.
Thư ký phiên tòa, ông: Nguyễn Minh Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường T, tỉnh L. Là thư ký dự khuyết theo quyết định số: 07/2024/QĐ-TA ngày 14/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh L.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M tham gia phiên tòa, bà: Lò Thị Kẻo - Kiểm sát viên.
Trong ngày 08 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh L, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 07/2024/TL-ST-HS, ngày 14 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2024/QĐXXST-HS, ngày 25 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo.
- Vàng Mò L: Giới tính: Nữ; tên gọi khác: Không; sinh ngày 01/01/1989; tại: Xã P, huyện M, tỉnh L; nơi thường trú: Bản N, xã P, huyện M, tỉnh L; nơi ở hiện tại: Bản N, xã P, huyện M, tỉnh L; thẻ CCCD: [...]; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: La Hủ; tôn giáo: Không; đảng, đoàn: Không; con ông Vàng Đư X ( đã chết) và con bà Giàng Xa N, sinh năm 1966; chồng Phùng Phí Đ, sinh năm 1983; con: Có 04 con, con lớn nhất sinh năm 2007, con nhỏ nhất sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân chưa bị xử lý; bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/05/2024 cho đên nay. Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện M, tỉnh L - Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Vàng Mò L, ông: Lê Mạnh H - Là trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh L - Có mặt.
- Người phiên dịch tiếng dân tộc La Hủ cho bị cáo Vàng Mò L, ông: Vàng Ma X - Sinh năm 1985 - Trú tại: Khu phố 07, thị trấn M, huyện M, tỉnh L - Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 10 giờ 00 phút, ngày 04/05/2024, Vàng Mò L, xin đi nhờ xe máy của một người đàn ông lạ mặt từ bản N đến bản P, xã P, để tìm mua Heroine về sử dụng (L không nói cho người đàn ông này biết về mục đích của L). Khi đi đến khu vực đầu bản P, L xuống xe rồi đi bộ vào trong bản P, xã P. Tại đây, L gặp và mua được của một người phụ nữ dân tộc La Hủ lạ mặt 04 gói Heroine, bên ngoài mỗi gói đều được gói bằng mảnh nilon màu hồng với giá 2.000.000 đồng. L cầm trên tay rồi đi bộ quay về nhà ở bản N, trên đường đi L nhặt lấy 01 mảnh nilon màu trắng gói chung 04 gói Heroine lại với nhau thành 01 gói rồi cầm trên tay và tiếp tục đi bộ về nhà. Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày 04/05/2024, khi L đi đến khu vực bản N, xã P, huyện M, tỉnh L, thì bị tổ công tác Đồn biên phòng P đang làm nhiệm vụ phát hiện, bắt quả tang cùng với gói Heroine mà L đang cầm trên tay. Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ, niêm phong vật chứng theo quy định của pháp luật.
Tại kết luận giám định số: 42/KLGĐ-CA, ngày 05/05/2024 của người giám định tư pháp theo vụ việc Công an huyện M, kết luận: 04 mẫu chất bột khô, màu trắng thu giữ của Vàng Mò L có tổng khối lượng là 16,68 gam.
Tại bản kết luận giám định số: 515/GĐ-KTHS ngày 06/05/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh L, kết luận: 04 mẫu chất bột khô, màu trắng (ký hiệu từ mẫu 01 đến mẫu 04) thu giữ của Vàng Mò L, gửi đến giám định là ma túy, loại Heroine.
Tại bản cáo trạng số: 90/CT-VKS-MT ngày 14 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện M đã truy tố Vàng Mò L về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa hôm nay vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xử lý:
- Trách nhiệm hình sự: Đối với Vàng Mò L về tội danh "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.
- Về hình phạt chính: Áp dụng Điều 38; Điều 50; điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Vàng Mò L, từ: 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù, về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo, do điều kiện kinh tế của bị cáo.
- Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy:
+. 01(một) gói niêm phong bằng phong bì công văn màu trắng do Công an huyện M phát hành, các mép được dán kín. Mặt trước gói niêm phong ghi: 14,33 (mười bốn phẩy ba mươi ba) gam vật chứng còn lại của Vàng Mò L, SN: 1989, trú tại: Bản N, xã P, huyện M, tỉnh L. Hành vi: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Mặt sau gói niêm phong dán kín các mép và dán giấy niêm phong đè lên các mép dán theo phong bì, trên giấy niêm phong có ghi đầy đủ chữ ký, họ và tên của: Lê Xuân Q, Lò Thị K, Lý Văn T, Giàng A N, Phạm Minh L, Lò Văn B, Vàng Ma X và điểm chỉ ngón trỏ phải của Vàng Mò L, ở 02 đầu niêm phong mỗi đầu được đóng 01 hình dấu tròn của Đồn biên phòng P - Bộ đội biên phòng tỉnh L (theo KLGĐ: 14,33 gam là Heroine).
+. 04 mảnh nilon màu hồng;
+. 01 mảnh nilon màu trắng
+. 01 phong bì công văn màu trắng do Đồn biên phòng P lưu hành, đã bị cắt một đầu.
+. Đối với 2,35 gam Heroine. Đồn biên phòng P, huyện M đã trích giử đi giám định, không hoàn lại mẫu vật, nên không đề cập xử lý.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Vàng Mò L.
Tại phiên tòa hôm nay, sau khi phân tích tính chất, hành vi, mức độ phạm tội, nhân thân của bị cáo, người bào chữa đồng ý với nội dung cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện M. Về tội danh "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự; các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự; miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật; xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt thấp hơn mức của kiểm sát viên đề nghị, bị cáo không có ý kiến gì bổ sung, đồng ý với lời bào chữa của người bào chữa.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa việc bị cáo khai báo là hoàn toàn tự nguyện, không bị mớm cung, ép cung, bị cáo không khiếu nại gì về quyết định, hành vi của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Sau khi tranh luận Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên mức hình phạt chính như đã đề nghị. Lời nói sau cùng bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được cơ quan tiến hành tố tụng thu thập có trong hồ sơ vụ án như vậy có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 13 giờ 30 phút, ngày 04/05/2024 tại bản N, xã P, huyện M, tỉnh L. Vàng Mò L, đang có hành vi tàng trữ trái phép 16,68 gam Heroine để sử dụng thì bị tổ công tác Đồn biên phòng P, huyện M, tỉnh L phát hiện, bắt quả tang và niêm phong vật chứng theo quy định của pháp luật. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện M đã truy tố bị cáo về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội. Bị cáo không khiếu nại gì đối với các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do vậy hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đều hợp pháp, đúng pháp luật.
[2]. Hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm vào chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với chất ma túy, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương, bị cáo hiểu được điều đó nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng một mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra nhằm cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, có ích cho xã hội và gia đình. Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cần xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt đối với bị cáo.
[3]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo Vàng Mò L luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần được xem xét áp dụng cho bị cáo. Nhận thấy: Bị cáo là người phụ nữ dân tộc thiểu số La Hủ, nhận thức pháp luật còn hạn chế, gia đình là hộ nghèo sinh sống ở bản N, xã P, huyện M, tỉnh L, là xã biên giới có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khác theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần được xem xét áp dụng cho bị cáo.
[4]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Vàng Mò L không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
[5]. Về nhân thân: Bị cáo Vàng Mò L có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, từ nhỏ không được đi học, lớn lên ở nhà tham gia lao động sản xuất tại địa phương, nhận thức pháp luật hạn chế, là người sử dụng chất ma túy. Bị cáo nhận thức rõ được hành vi tàng trữ chất ma túy của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vì mục đích thỏa mãn nhu cầu sử dụng chất ma túy của bản thân nên đã cố ý phạm tội.
[6]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 triệu đồng, xét thấy: Bị cáo là người phụ nữ dân tộc thiểu số La Hủ, nghề nghiệp trồng trọt, gia đình là hộ nghèo sinh sống ở bản N, xã P, huyện M, tỉnh L là xã biên giới có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn. Do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.
[7]. Về xử lý vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu, tiêu hủy toàn bộ số vật chứng thu giữ còn lại của bị cáo Vàng Mò L, bao gồm:
- 01(một) gói niêm phong bằng phong bì công văn màu trắng do Công an huyện M phát hành, các mép được dán kín. Mặt trước gói niêm phong ghi: 14,33 (mười bốn phẩy ba mươi ba) gam vật chứng còn lại của Vàng Mò L, SN: 1989, trú tại: Bản N, xã P, huyện M, tỉnh L. Hành vi: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Mặt sau gói niêm phong dán kín các mép và dán giấy niêm phong đè lên các mép dán theo phong bì, trên giấy niêm phong có ghi đầy đủ chữ ký, họ và tên của: Lê Xuân Q, Lò Thị K, Lý Văn T, Giàng A N, Phạm Minh L, Lò Văn B, Vàng Ma X và điểm chỉ ngón trỏ phải của Vàng Mò L, ở 02 đầu niêm phong mỗi đầu được đóng 01 hình dấu tròn của Đồn biên phòng P - Bộ đội biên phòng tỉnh L (theo KLGĐ: 14,33 gam là Heroine).
- 04 mảnh nilon màu hồng;
- 01 mảnh nilon màu trắng
- 01 phong bì công văn màu trắng do Đồn biên phòng P lưu hành, đã bị cắt một đầu.
- Đối với 2,35 gam Heroine. Đồn biên phòng P, huyện M đã trích giử đi giám định, không hoàn lại mẫu vật, nên không đề cập xử lý. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[8]. Về án phí hình sự sơ thẩm, xét thấy: Bị cáo là người phụ nữ dân tộc thiểu số La Hủ, nghề nghiệp trồng trọt, gia đình là hộ nghèo sinh sống ở bản N, xã P, huyện M, tỉnh L là xã biên giới có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn. Áp dụng Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật cho bị cáo.
[9]. Từ những phân tích như trên, Hội đồng xét xử có cơ sở khách quan và căn cứ pháp lý để kết luận: Bị cáo Vàng Mò L đã phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do vậy ý kiến của Kiểm sát viên và của người bào chữa tại phiên tòa về: Tội danh, điều luật áp dụng, hình phạt, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự; xử lý vật chứng; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự; miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo là có cơ sở đúng quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử chấp nhận.
[10]. Đối với đề nghị xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt thấp hơn mức của kiểm sát viên đề nghị, của người bào chữa. Nhận thấy: Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự, Bị cáo là người dân tộc thiểu số La Hủ, nghề nghiệp trồng trọt, bản thân là người nghiện chất ma túy, gia đình là hộ nghèo sinh sống ở bản N, xã P, huyện M, tỉnh L là xã biên giới có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn. Xét thấy: Hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm vào chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với chất ma túy, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương, bị cáo hiểu được điều đó nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội, tổng khối lượng Heroine bị cáo tàng trữ lớn 16,68 gam. Do vậy khi nghị án lượng hình Hội đồng xét xử xem xét, cân nhắc lời đề nghị của người bào chữa.
[11]. Đối với người phụ nữ dân tộc La Hủ lạ mặt, đã bán 04 gói Heroine với giá 2.000.000 đồng cho bị cáo Vàng Mò L. Trong qúa trình điều tra không xác định được lai lịch của người phụ nữ này nên không đủ căn cứ để xử lý. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố bị cáo: Vàng Mò L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ vào Điều 38; Điều 50; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Vàng Mò L: 07 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo Vàng Mò L, bị bắt, tạm giữ, tạm giam là ngày 04/05/2024.
- Về hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự: Không áp dụng đối với bị cáo Vàng Mò L.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy toàn bộ vật chứng thu giữ còn lại của bị cáo Vàng Mò L, bao gồm:
+. 01(một) gói niêm phong bằng phong bì công văn màu trắng do Công an huyện M phát hành, các mép được dán kín. Mặt trước gói niêm phong ghi: 14,33 (mười bốn phẩy ba mươi ba) gam vật chứng còn lại của Vàng Mò L, SN: 1989, trú tại: Bản N, xã P, huyện M, tỉnh L. Hành vi: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Mặt sau gói niêm phong dán kín các mép và dán giấy niêm phong đè lên các mép dán theo phong bì, trên giấy niêm phong có ghi đầy đủ chữ ký, họ và tên của: Lê Xuân Q, Lò Thị K, Lý Văn T, Giàng A N, Phạm Minh L, Lò Văn B, Vàng Ma X và điểm chỉ ngón trỏ phải của Vàng Mò L, ở 02 đầu niêm phong mỗi đầu được đóng 01 hình dấu tròn của Đồn biên phòng P - Bộ đội biên phòng tỉnh L (theo KLGĐ: 14,33 gam là Heroine).
+. 04 mảnh nilon màu hồng;
+. 01 mảnh nilon màu trắng;
+. 01 phong bì công văn màu trắng do Đồn biên phòng P lưu hành, đã bị cắt một đầu;
+. Đối với 2,35 gam Heroine. Đồn biên phòng P, huyện M đã trích giử đi giám định, không hoàn lại mẫu vật, nên không đề cập xử lý. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Vàng Mò L.
- Về quyền kháng cáo: Theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Lò Xuân Hải |
Bản án số 07/2024/HSST ngày 08/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 07/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vàng Mò L phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
