|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH TỈNH NINH BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
1
|
Bản án số: 07/2024/KDTM-ST Ngày: 05 - 11 - 2024 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH, TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Vũ Thị Hiền
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Ngọc Lợi
2. Bà Hoàng Thị Kim Phượng
- Thư ký phiên tòa: bà Trần Thị Bích Phượng - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Hồng Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 11 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 19/2024/TLST-KDTM ngày 25 tháng 4 năm 2024 về tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2024/QĐXXST-KDTM ngày 30 tháng 9 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 14/2024/QĐST-KDTM ngày 18 tháng 10 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP C (gọi tắt là Ngân hàng C); địa chỉ: số A T, phường C, quận H, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: bà Lý Hoàng H - Phó Giám đốc Ngân hàng TMCP C, chi nhánh N1; địa chỉ: số I, đường T, phường V, thành phố N, tỉnh Ninh Bình - là người đại diện hợp pháp theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số 1104/UQ-HĐQT-NHCT18 ngày 20/9/2021), (có mặt).
- Bị đơn: Công ty cổ phần P1 (gọi tắt là Công ty P1); địa chỉ: số nhà C, đường P, phố G, phường V, thành phố N, tỉnh Ninh Bình.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: bà Nguyễn Mai T - Giám đốc Công ty P1; địa chỉ: phố P, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình, (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Bà Nguyễn Mai T sinh năm 1986; địa chỉ: phố P, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình, (có mặt).
- + Cháu Vũ Thành An S năm 2013 và cháu Vũ An An S năm 2017; cùng địa chỉ: phố P, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình.
- Người đại diện hợp pháp của cháu Vũ Thành A, cháu Vũ An A: bà Nguyễn Mai T sinh năm 1986; địa chỉ: phố P, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình, (có mặt).
- + Bà Nguyễn Thị N sinh năm 1958; địa chỉ: phố P, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình.
- Người đại diện hợp pháp của bà Nguyễn Thị N: bà Nguyễn Mai T sinh năm 1986; địa chỉ: phố P, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình - là người đại diện hợp pháp theo ủy quyền (Giấy ủy quyền ngày 27/6/2024), (có mặt).
- + Ông Nguyễn Thanh S1 sinh năm 1951 và bà Nguyễn Thị Kim T1 sinh năm 1962; cùng địa chỉ: số D, phố C, thị trấn T, huyện H, tỉnh Ninh Bình, (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện đề ngày 19 tháng 4 năm 2024, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của nguyên đơn (Ngân hàng TMCP C) là bà Lý Hoàng H trình bày:
Ngân hàng C và Công ty P1 đã ký Hợp đồng cho vay hạn mức số 01/2022-HĐCVHM/NHCT400-ANTHANH ngày 09/3/2022 và các Văn bản sửa đổi, bổ sung Hợp đồng cho vay số 01/2022-HĐCV-SĐBS/NHCT400-ANTHANH ngày 30/3/2022; số 01/2023- SĐBSHĐCV03/NHCT400-AT ngày 18/5/2023; số 01/2023- SĐBSHĐCV04/NHCT400-AT ngày 01/12/2023; số 01/2023- SĐBSHĐCV05/NHCT400-AT ngày 16/01/2024
Để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ, bên vay đã thế chấp:
- + Quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản gắn liền trên đất tại thửa đất số 21; tờ bản đồ số 07; địa chỉ: thị trấn T, huyện H, tỉnh Ninh Bình. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BG 539639 mang tên ông Nguyễn Thanh S1 và bà Nguyễn Thị Kim T1 theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 02/2021/HĐBĐ/NHCT400-ANTHANH ngày 26/3/2021;
- + Quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản gắn liền trên đất tại thửa đất số 274; tờ bản đồ số 36 tại địa chỉ: phố M, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DE 622075 mang tên ông Vũ Thanh P và bà Nguyễn Mai T theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 06/2022/HĐBĐ/NHCT400-ANTHANH ngày 29/3/2022;
- + Hàng hóa tồn kho khi luân chuyển (lốp, gỗ, ván xây dựng, thiết bị trang trí, quảng cáo, thiết bị điện tử, viễn thông, nghe nhìn và các thiết bị viễn thông, thiết bị khác, ...) thuộc sở hữu của Công ty P1 theo Hợp đồng thế chấp quyền tài sản số 07/2022/HĐBĐ/NHCT400 ngày 20/7/2022.
Quá trình thực hiện hợp đồng Công ty P1 trả nợ bình thường. Từ ngày 13/3/2023, Công ty P1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo cam kết tại Hợp đồng cho vay, toàn bộ nợ vay của Công ty P1 đã chuyển sang nợ quá hạn. Ngân hàng C đã nhiều lần làm việc và có văn bản yêu cầu Công ty P1 và bên thứ 3 thế chấp tài sản bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng C nhưng họ không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Ngân hàng C làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án:
- - Buộc Công ty P1 phải trả cho Ngân hàng C số tiền tính đến ngày 19/4/2024 là: 31.736.837.732 đồng; trong đó: nợ gốc 26.163.274.409 đồng; nợ lãi 5.573.563.323 đồng.
- - Buộc Công ty P1 phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh cho Ngân hàng C theo mức lãi suất nợ quá hạn đã thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay, Giấy nhận nợ trên số nợ gốc thực tế cho đến khi trả nợ xong.
- - Trường hợp Công ty P1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng C có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự kê biên, xử lý các tài sản bảo đảm để thu hồi nợ cho Ngân hàng, các tài sản theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 02/2021/HĐBĐ/NHCT400-ANTHANH ngày 26/3/2021; Hợp đồng thế chấp bất động sản số 06/2022/HĐBĐ/NHCT400-ANTHANH ngày 29/3/2022 và theo Hợp đồng thế chấp quyền tài sản số 07/2022/HĐBĐ/NHCT400 ngày 20/7/2022.
Tại phiên tòa, nguyên đơn yêu cầu Tòa án:
Buộc Công ty P1 trả nợ cho Ngân hàng C tổng số tiền dư nợ tính đến hết ngày 05/11/2024 là: 33.678.323.879 đồng. Trong đó: nợ gốc là 26.159.934.409 đồng; nợ lãi trong hạn là 5.205.012.747 đồng, lãi quá hạn là 2.313.376.723 đồng và tiền lãi phát sinh từ ngày 06/11/2024 cho đến khi trả hết nợ vay theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay hạn mức số 01/2022-HĐCVHM/NHCT400-ANTHANH ngày 09/3/2022 và Văn bản sửa đổi, bổ sung Hợp đồng cho vay số 01/2022-HĐCV-SĐBS/NHCT400-ANTHANH ngày 30/3/2022; số 01/2023- SĐBSHĐCV03/NHCT400-AT ngày 18/5/2023; số 01/2023- SĐBSHĐCV04/NHCT400-AT ngày 01/12/2023; số 01/2023- SĐBSHĐCV05/NHCT400-AT ngày 16/01/2024.
Trường hợp Công ty P1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng C có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự kê biên, xử lý các tài sản bảo đảm để thu hồi nợ cho Ngân hàng C, các tài sản theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 02/2021/HĐBĐ/NHCT400-ANTHANH ngày 26/3/2021 và Hợp đồng thế chấp bất động sản số 06/2022/HĐBĐ/NHCT400-ANTHANH ngày 29/3/2022.
Trường hợp số tiền xử lý các tài sản thế chấp trên không đủ để thanh toán nợ, Công ty P1 phải tiếp tục trả nợ cho Ngân hàng C cho đến khi các khoản nợ được tất toán.
Đối với tài sản thế chấp là hàng hóa tồn kho theo báo cáo của Công ty P1 và kiểm tra của Ngân hàng C thì trong kho không còn hàng hóa. Do đó, Ngân hàng C không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết đối với tài sản thế chấp tại Hợp đồng thế chấp quyền tài sản số 07/2022/HĐBĐ/NHCT400 ngày 20/7/2022.
- Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ nguyên đơn đã nộp số tiền tạm ứng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 19.200.000 đồng. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của bị đơn - bà Nguyễn Mai T trình bày:
Do có nhu cầu vay vốn để đầu tư kinh doanh nên Công ty P1 do chồng bà là ông Vũ Thanh P- Giám đốc làm người đại diện hợp pháp đã ký Hợp đồng tín dụng với Ngân hàng C. Về số Hợp đồng, ngày ký Hợp đồng, mục đích, thời hạn vay, lãi suất tại thời điểm giải ngân của hợp đồng như người đại diện của Ngân hàng đã trình bày là đúng, bà không có ý kiến gì.
Ngày 06/8/2022, ông Vũ Thanh P đột ngột qua đời. Trước sự việc như vậy cũng như trước hoàn cảnh công ty đang hoạt động bình thường, bà đã được cử ra để giải quyết các vấn đề tồn đọng trước mắt của công ty. Khi chồng bà còn sống, mọi việc công ty đều do chồng bà quản lý và làm việc, bà chỉ ở nhà chăm lo con cái và gia đình. Các việc liên quan đến Ngân hàng, nhà cung cấp hay hàng hóa, bà cũng không nắm được. Khi chồng bà đột ngột qua đời, bà làm thay chồng chức vụ giám đốc mong giải quyết được các vấn đề còn tồn đọng khi chồng bà còn sống. Bà cũng đã trao đổi với ngân hàng, mong ngân hàng hỗ trợ giúp đỡ bà và Công ty P1. Bà cũng vẫn nghĩ rằng khi chồng bà mất thì các khoản nợ sẽ thu được nhưng kinh tế ngày càng khó khăn, nhân viên công ty thì nghỉ dần vì công ty không đảm bảo được công việc, công nợ không thu được dẫn đến lãi Ngân hàng bị trả chậm, nợ nhà cung cấp cũng không trả được. Hàng hóa còn trong kho, bà phải xin họ thông cảm cho gửi lại để trừ nợ, nhưng số nợ vẫn còn nhiều. Bản thân bà không va vấp nhiều nên không tìm được công việc về công ty, nợ thì không thu được, tài khoản cá nhân của bà đến thời điểm này đang không có khả năng trả nợ, bà đã xin ngân hàng giảm số tiền lãi và số nợ gốc. Còn tài sản là đất của vợ chồng bà tại phường N và nhà đất của bố mẹ bà ở phố C, thị trấn T, huyện H, tỉnh Ninh Bình khi còn sống chồng bà đã mượn bố mẹ bà để thế chấp vay ngân hàng số tiền như nào thì bà không nắm được, chỉ biết đến thời điểm chồng bà mất, bà mới biết số tiền đã vay và tài sản đảm bảo cho khoản vay như thế nào. Tài sản của vợ chồng bà thì bà đã đồng ý để ngân hàng bán và số tiền thu được sẽ được trừ vào số tiền gốc, lãi công ty đã vay của ngân hàng.
Bà mong ngân hàng xem xét và hỗ trợ bố mẹ bà. Bản thân bà không phải là không muốn trả nợ thay bố mẹ bà mà ngoài tài sản đang mang tên vợ chồng bà ra, bà cũng không có tiền. Nay Ngân hàng C có đơn khởi kiện yêu cầu Công ty P1 trả nợ cho ngân hàng, thay mặt công ty, bà xin ngân hàng cho bà thời gian bán tài sản, trả nợ cho ngân hàng để đảm bảo việc bán tài sản có giá trị lớn nhất. Trường hợp Công ty P1 không thể hoàn thành nghĩa vụ trả nợ đối với khoản vay thì bà đồng ý giao tài sản đã thế chấp để thanh lý hoàn thành nghĩa vụ trả nợ của Công ty. Đối với tài sản bảo đảm là hàng hóa trong kho, hiện nay không còn hàng hóa nào, bà sẽ có trách nhiệm thu hồi nợ để trả cho ngân hàng, nếu như sau khi xử lý hết tài sản thế chấp mà vẫn còn nợ ngân hàng.
Về số tiền gốc, lãi Công ty P1 còn nợ ngân hàng tính đến ngày xét xử như đại diện cho ngân hàng trình bày tại phiên tòa bà đã rõ, bà nhất trí, không có ý kiến gì; tiền chi phí xem xét thẩm định bà đề nghị Tòa án trừ từ tiền thu được từ việc xử lý tài sản thế chấp của vợ chồng bà.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Kim T1 trình bày.
Năm 2017, bà cho con rể bà là Vũ Thanh P - Giám đốc Công ty P1 mượn nhà đất là thửa đất số 21, tờ bản đồ số 7 thuộc thị trấn T, huyện H để thế chấp cho Ngân hàng C vay tiền. Đến năm 2022, không may con bà chết đột tử. Ngân hàng cho nhân viên đến trao đổi với gia đình bà, bà hỏi con bà thế chấp vay bao nhiêu tiền, nhân viên ngân hàng trả lời vay 4.200.000.000 đồng, lần thứ 2 nhân viên nói vay 3.900.000.000 đồng, lần thứ 3 nói vay 3.600.000.000 đồng, bà yêu cầu ngân hàng cho bà xem hợp đồng thế chấp nhưng ngân hàng không cho xem. Bà đã nhiều lần viết đơn đề nghị gửi ngân hàng và yêu cầu trả lời bằng văn bản nhưng vài tháng sau, ngân hàng mới cho nhân viên mang văn bản đến trả lời là vay 3.300.000.000 đồng. Gia đình bà không biết số tiền cụ thể là bao nhiêu. Ngân hàng mỗi lần trả lời gia đình bà số tiền vay khác nhau. Đến tháng 3/2024, ngân hàng làm việc với bà thống nhất để em gái bà mua lại thửa đất với giá 2.600.000.000 đồng. Vợ chồng bà đã nhất trí, nhưng sau đó, ngân hàng lại ép con gái bà là Nguyễn Mai T hiện có 200.000.000 đồng gửi tiết kiệm ở ngân hàng cộng vào để trả ngân hàng tổng số tiền là 2.900.000.000 đồng thì gia đình bà không đồng ý. Vì bà nghĩ giá trị đất và nhà bà thời điểm này bán không được giá đó. Nay ngân hàng khởi kiện yêu cầu Công ty P1 trả nợ cho ngân hàng, do con của bà đã chết, hoạt động kinh doanh của Công ty bị đình trệ nên không có khả năng thanh toán nợ cho ngân hàng. Tại phiên họp, Thẩm phán đã công bố tài liệu, chứng cứ, bà không còn thắc mắc gì.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thanh S1 trình bày:
Tại phiên họp, Thẩm phán đã công bố tài liệu, chứng cứ, ông có ký vào Hợp đồng thế chấp với Ngân hàng để cho Công ty P1 vay tiền Ngân hàng TMCP C để kinh doanh, ông không còn thắc mắc gì việc vợ chồng ông ký hợp đồng thế chấp tài sản của vợ chồng cho con rể ông vay tiền ngân hàng để kinh doanh. Nay, con rể ông là anh Vũ Thanh P đột ngột qua đời nên mọi việc của Công ty cũng như gia đình đều gặp nhiều khó khăn.
Ông S1, bà T1 xin được nộp số tiền 2.200.000.000 đồng để được giải chấp tài sản thế chấp của vợ chồng, nếu không được chấp nhận vợ chồng ông giao tài sản thế chấp để cơ quan pháp luật xử lý thu hồi nợ (tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản gắn liền trên đất tại thửa đất số 21; tờ bản đồ số 07; địa chỉ: thị trấn T, huyện H, tỉnh Ninh Bình. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BG 539639 mang tên ông Nguyễn Thanh S1 và bà Nguyễn Thị Kim T1 theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 02/2021/HĐBĐ/NHCT400-ANTHANH ngày 26/3/2021). Khi xử lý tài sản, giá trị tài sản là bao nhiêu ông cũng chấp nhận.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đồng thời là người đại diện hợp pháp của bà Nguyễn Thị N, cháu Vũ Thành A và cháu Vũ An A là bà Nguyễn Mai T trình bày:
Liên quan đến quyền thừa kế Quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản gắn liền trên đất tại thửa đất số 274; tờ bản đồ số 36 tại địa chỉ: phố M, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình mang tên ông Vũ Thanh P và bà Nguyễn Mai T thế chấp để đảm bảo khoản vay của Công ty P1 đã vay của Ngân hàng C. Bà có ý kiến như sau: bà chấp nhận giao toàn bộ tài sản là thửa đất số 274; tờ bản đồ số 36 tại địa chỉ: phố M, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình cho ngân hàng để xử lý trả nợ cho Ngân hàng C.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành hòa giải, tại phiên hòa giải ngày 13/8/2024 các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Trong thời hạn 7 ngày, kể từ ngày lập biên bản hoà giải thành, bà T, ông S1, bà T1 thay đổi ý kiến về sự thoả thuận. Lý do bà T, ông S1, bà T1 thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó là:
Bà T đề nghị xem lại số tiền Công ty P1 vay; số tiền đã trả gốc, lãi; số tiền còn nợ; số tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ.
Ông S1, bà T1 trình bày chữ ký của ông S1 trong Hợp đồng thế chấp không đồng nhất; ông Nguyễn Thanh S1 có Đơn đề nghị giám định chữ ký của ông tại Hợp đồng thế chấp bất động sản lập tại Ngân hàng TMCP C, chi nhánh N1.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước khi mở phiên tòa. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự tại phiên tòa. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông S1, bà T1 không chấp hành các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Áp dụng khoản 2 Điều 91, Điều 95, điểm a khoản 3 Điều 98 Luật các Tổ chức tín dụng; khoản 1 Điều 30, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 117, 299, 317, 319, 320, 323 của Bộ luật Dân sự; điểm g khoản 1 Điều 179 Luật Đất đai năm 2013; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP C. Buộc Công ty cổ phần P1 phải trả cho Ngân hàng TMCP C số tiền tính đến hết ngày 05/11/2024 là 33.678.323.879 đồng. Trong đó: tiền gốc là 26.159.934.409 đồng; tiền lãi trong hạn là 5.205.012.747 đồng, lãi quá hạn là 2.313.376.723 đồng; tiền lãi phát sinh từ ngày 06/11/2024 cho đến khi trả hết nợ vay theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay hạn mức số 01/2022-HĐCVHM/NHCT400-ANTHANH ngày 09/3/2022 .
Trường hợp Công ty cổ phần P1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng TMCP C có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản gắn liền trên đất tại thửa đất số 21; tờ bản đồ số 07; địa chỉ: thị trấn T, huyện H, tỉnh Ninh Bình và quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản gắn liền trên đất tại thửa đất số 274; tờ bản đồ số 36 tại địa chỉ: phố M, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình để thu hồi nợ.
- Về tiền chi phí tố tụng: Công ty P1 phải trả cho Ngân hàng C số tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 19.200.000 đồng.
- Về án phí: Công ty P1 phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm; Hoàn trả lại cho Ngân hàng C số tiền tạm ứng án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm đã nộp là 69.800.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngân hàng C khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng đối với Công ty P1 có trụ sở tại số nhà C, đường P, phố G, phường V, thành phố N, tỉnh Ninh Bình, theo đúng địa chỉ ghi trong Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp công ty cổ phần P1. Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là vụ án kinh doanh thương mại tranh chấp hợp đồng tín dụng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình.
[2] Về sự có mặt của người tham gia tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông S1, bà T1 vắng mặt không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, do đó căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông S1, bà T1.
[3] Về nội dung và hiệu lực hợp đồng cho vay và hợp đồng thế chấp tài sản:
- - Nội dung Hợp đồng cho vay hạn mức số 01/2022-HĐCVHM/NHCT400-ANTHANH ngày 09/3/2022 và các Văn bản sửa đổi, bổ sung Hợp đồng cho vay số 01/2022-HĐCV-SĐBS/NHCT400-ANTHANH ngày 30/3/2022; số 01/2023-SĐBSHĐCV03/NHCT400-AT ngày 18/5/2023; số 01/2023-SĐBSHĐCV04/NHCT400-AT ngày 01/12/2023; số 01/2023-SĐBSHĐCV05/NHCT400-AT ngày 16/01/2024 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP C và Công ty cổ phần P1 được các bên tham gia giao kết hoàn toàn tự nguyện, không bị ai lừa dối, ép buộc phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 91; điểm a khoản 3 Điều 98 của Luật các Tổ chức tín dụng.
- - Đối với Hợp đồng thế chấp bất động sản số 06/2022/HĐBĐ/NHCT400-ANTHANH ngày 29/3/2022 và Hợp đồng thế chấp bất động sản số 02/2021/HĐBĐ/NHCT400-ANTHANH ngày 26/3/2021. Tại thời điểm giao kết, nguyên đơn có đầy đủ tư cách pháp nhân. Chủ sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản trên đất là ông Vũ Thanh P, bà Nguyễn Mai T và ông Nguyễn Thanh S1, bà Nguyễn Thị Kim T1 đã đồng ý dùng tài sản của mình để bảo đảm nghĩa vụ thanh toán của bị đơn đối với nguyên đơn. Các bên tham gia giao kết hợp đồng hoàn toàn tự nguyện, không bị ai lừa dối, ép buộc. Các điều khoản thỏa thuận trong hợp đồng thế chấp không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Hợp đồng thế chấp được công chứng và đăng ký tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật, phù hợp với quy định tại các Điều 117, 299, 317, 319, 320 và Điều 323 của Bộ luật Dân sự.
Quá trình giải quyết vụ án ông S1, bà T1 trình bày ông bà cho Công ty P1 mượn Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để thế chấp vay tiền của ngân hàng. Ông bà trình bày chữ ký của ông S1 trong Hợp đồng thế chấp không đồng nhất, ông S1 đề nghị giám định chữ ký của ông tại Hợp đồng thế chấp bất động sản, Tòa án ra Quyết định trưng cầu giám định, yêu cầu ông S1 giao nộp mẫu chữ ký, chữ viết của ông để gửi giám định nhưng ông S1 không giao nộp nên việc giám định chữ ký của ông tại Hợp đồng thế chấp bất động sản không thể thực hiện được.
Do đó, các hợp đồng trên có hiệu lực pháp luật, là căn cứ pháp lý phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên tham gia giao kết hợp đồng.
[4] Về yêu cầu đòi nợ của nguyên đơn:
Thực hiện Hợp đồng cho vay, Ngân hàng C đã giải ngân cho Công ty P1 thông qua giấy nhận nợ, Công ty P1 nhận đủ tiền và thực hiện việc trả gốc, lãi theo thỏa thuận đến ngày 13/3/2023 thì vi phạm nghĩa vụ trả nợ như cam kết tại hợp đồng, Ngân hàng đã nhiều lần làm việc và có văn bản yêu cầu Công ty P1 và bên thứ 3 thế chấp tài sản bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng nhưng không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Ngân hàng C yêu cầu Tòa án buộc Công ty P1 phải trả toàn bộ khoản tiền gốc còn nợ là có căn cứ, đúng pháp luật và nội dung các bên cam kết tại Hợp đồng cho vay hạn mức số 01/2022-HĐCVHM/NHCT400-ANTHANH ngày 09/3/2022.
Về tiền lãi: Ngân hàng C áp dụng mức lãi suất yêu cầu Công ty P1 phải trả theo thỏa thuận của các bên trong Hợp đồng cho vay hạn mức số 01/2022-HĐCVHM/NHCT400-ANTHANH ngày 09/3/2022; phù hợp với khoản 2 Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng và Điều 8 Nghị quyết số 01/2009?NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Căn cứ vào khoản 2 Điều 91, Điều 95, Điều 98 của Luật các Tổ chức tín dụng, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn trả nợ cho nguyên đơn tổng số tiền dư nợ tính đến hết ngày 05/11/2024 là: 33.678.323.879 đồng. Trong đó: nợ gốc là 26.159.934.409 đồng; nợ lãi trong hạn là 5.205.012.747 đồng, lãi quá hạn là 2.313.376.723 đồng.
Kể từ ngày 06/11/2024, bị đơn còn phải trả tiền lãi phát sinh cho đến khi trả hết nợ vay cho Ngân hàng C theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay hạn mức số 01/2022-HĐCVHM/NHCT400-ANTHANH ngày 09/3/2022 và Văn bản sửa đổi, bổ sung Hợp đồng cho vay số 01/2022-HĐCV-SĐBS/NHCT400-ANTHANH ngày 30/3/2022; số 01/2023-SĐBSHĐCV03/NHCT400-AT ngày 18/5/2023; số 01/2023-SĐBSHĐCV04/NHCT400-AT ngày 01/12/2023; số 01/2023-SĐBSHĐCV05/NHCT400-AT ngày 16/01/2024.
[5] Về xử lý tài sản thế chấp: Hợp đồng thế chấp bất động sản số 02/2021/HĐBĐ/NHCT400-ANTHANH ngày 26/3/2021; Hợp đồng thế chấp bất động sản số 06/2022/HĐBĐ/NHCT400-ANTHANH ngày 29/3/2022 được giao kết giữa nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án có hiệu lực pháp luật. Tại Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ thì tài sản thế chấp nêu trên thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông P bà T và ông S1 bà T1, hiện nay còn nguyên vẹn, không thay đổi, biến động gì so với thời điểm thế chấp tài sản và không có bên thứ ba liên quan đến tài sản thế chấp.
Do vậy, trong trường hợp bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ đối với nguyên đơn thì nguyên đơn có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp bảo đảm cho khoản vay của bị đơn để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật, cụ thể tài sản sau:
- + Quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản gắn liền trên đất tại thửa đất số 21; tờ bản đồ số 07; địa chỉ: thị trấn T, huyện H, tỉnh Ninh Bình. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BG 539639 mang tên ông Nguyễn Thanh S1 và bà Nguyễn Thị Kim T1 theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 02/2021/HĐBĐ/NHCT400-ANTHANH ngày 26/3/2021;
- + Quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản gắn liền trên đất tại thửa đất số 274; tờ bản đồ số 36 tại địa chỉ: phố M, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DE 622075 mang tên ông Vũ Thanh P và bà Nguyễn Mai T theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 06/2022/HĐBĐ/NHCT400-ANTHANH ngày 29/3/2022.
Trường hợp số tiền xử lý tài sản thế chấp không đủ để thanh toán nợ, bị đơn phải tiếp tục trả nợ cho nguyên đơn cho đến khi các khoản nợ được tất toán.
Tại phiên tòa nguyên đơn không yêu cầu xem xét giải quyết đối với Hợp đồng thế chấp quyền tài sản số 07/2022/HĐBĐ/NHCT400 ngày 20/7/2022, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[6] Về chi phí tố tụng và án phí:
- - Về chi phí tố tụng: chi phí cho việc xem xét, thẩm định tại chỗ là 19.200.000 đồng, nguyên đơn đã chi. Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận; vì vậy bị đơn phải chịu toàn bộ số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ theo quy định tại Điều 157 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền chi phí cho việc xem xét, thẩm định tại chỗ là 19.200.000 đồng.
- - Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên nguyên đơn không phải nộp tiền án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm; hoàn trả lại cho nguyên đơn tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị đơn phải nộp án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm tương ứng với phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận là 33.678.323.879 đồng . Số tiền án phí được tính như sau: 4.000.000.000₫ + (29.678.323.879đ x 0,1%) = 141.678.323, làm tròn 141.678.300 đồng.
[7] Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 91; Điều 95; điểm a khoản 3 Điều 98 của Luật các Tổ chức tín dụng;
Căn cứ khoản 1 Điều 30; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 235; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 117; Điều 299; Điều 317; Điều 319; Điều 320; Điều 323 của Bộ luật Dân sự;
Căn cứ điểm g khoản 1 Điều 179 Luật Đất đai năm 2013;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP C.
- Buộc Công ty cổ phần P1 phải trả cho Ngân hàng TMCP C số tiền gốc, lãi theo Hợp đồng cho vay hạn mức số 01/2022-HĐCVHM/NHCT400-ANTHANH ngày 09/3/2022 với tổng số tiền tính đến hết ngày 05/11/2024 là 33.678.323.879 đồng (Ba mươi ba tỷ sáu trăm bảy mươi tám triệu, ba trăm hai mươi ba nghìn, tám trăm bảy mươi chín đồng). Trong đó: tiền gốc là 26.159.934.409 đồng (hai mươi sáu tỷ một trăm năm mươi chín triệu, chín trăm ba mươi tư nghìn, bốn trăm linh chín đồng); tiền lãi phát sinh trên khoản nợ gốc chưa trả là 7.518.389.470 đồng (bảy tỷ năm trăm mười tám triệu, ba trăm tám mươi chín nghìn bốn trăm bảy mươi đồng), bao gồm: lãi trong hạn là 5.205.012.747 đồng (năm tỷ hai trăm linh năm triệu không trăm mười hai nghìn bảy trăm bốn mươi bảy đồng), lãi quá hạn là 2.313.376.723 đồng (hai tỷ ba trăm mười ba triệu ba trăm bảy mươi sáu nghìn bảy trăm hai mươi ba đồng).
Kể từ ngày 06/11/2024, Công ty cổ phần P1 còn phải trả tiền lãi phát sinh cho đến khi trả hết nợ vay cho Ngân hàng TMCP C theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay hạn mức số 01/2022-HĐCVHM/NHCT400-ANTHANH ngày 09/3/2022 và Văn bản sửa đổi, bổ sung Hợp đồng cho vay số 01/2022-HĐCV-SĐBS/NHCT400-ANTHANH ngày 30/3/2022; số 01/2023-SĐBSHĐCV03/NHCT400-AT ngày 18/5/2023; số 01/2023-SĐBSHĐCV04/NHCT400-AT ngày 01/12/2023; số 01/2023-SĐBSHĐCV05/NHCT400-AT ngày 16/01/2024.
- Trường hợp Công ty cổ phần P1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ đối với Ngân hàng TMCP C. Ngân hàng TMCP C có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự xử lý tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật để thu hồi nợ, tài sản thế chấp gồm:
- + Quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản gắn liền trên đất tại thửa đất số 21; tờ bản đồ số 07; địa chỉ: thị trấn T, huyện H, tỉnh Ninh Bình. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BG 539639 mang tên ông Nguyễn Thanh S1 và bà Nguyễn Thị Kim T1 theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 02/2021/HĐBĐ/NHCT400-ANTHANH ngày 26/3/2021;
- + Quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản gắn liền trên đất tại thửa đất số 274; tờ bản đồ số 36 tại địa chỉ: phố M, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DE 622075 mang tên ông Vũ Thanh P và bà Nguyễn Mai T theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 06/2022/HĐBĐ/NHCT400-ANTHANH ngày 29/3/2022.
Trường hợp số tiền xử lý tài sản thế chấp không đủ để thanh toán nợ, Công ty P1 phải tiếp tục trả nợ cho Ngân hàng C cho đến khi các khoản nợ được tất toán.
- Về tiền chi phí tố tụng và án phí:
- - Về tiền chi phí tố tụng: Công ty cổ phần P1 phải trả cho Ngân hàng TMCP C số tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 19.200.000 đồng (mười chín triệu hai trăm nghìn đồng).
- - Về án phí: Công ty cổ phần P1 phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 141.678.300 đồng (một trăm bốn mươi mốt triệu sáu trăm bảy mươi tám nghìn ba trăm đồng).
Hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP C số tiền tạm ứng án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm đã nộp là 69.800.000 đồng (sáu mươi chín triệu tám trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000265 ngày 25/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình.
- Về quyền kháng cáo: Ngân hàng TMCP C; Công ty cổ phần P1; bà Nguyễn Mai T; cháu Vũ Thành A; cháu Vũ An A; bà Nguyễn Thị N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Nguyễn Thanh S1 và bà Nguyễn Thị Kim T1 vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bán án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Hiền |
Bản án số 07/2024/KDTM-ST ngày 05/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH, TỈNH NINH BÌNH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 07/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/11/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH, TỈNH NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
