Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẨM PHẢ

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 07/2024/DS-ST

Ngày 23-9-2024

“V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Cao Thị Lan Anh.
  • Các Hội thẩm nhân dân: bà Trịnh Thị Huệ và ông Phạm Hồng Thái
  • Thư ký phiên tòa: bà Đỗ Thu Hà – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: bà Phạm Thị Quỳnh Loan- Kiểm sát viên.

Trong các ngày 30/8/2024 và 23/9/2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 52/2023/TLST-DS ngày 10/10/2023 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2024/QĐXXST-DS ngày 15/7/2024; quyết định hoãn phiên toà số 25/2024/QÐST- DS; quyết định tạm ngừng phiên tòa số 04/2024/QÐST-DS ngày 30/8/2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn:

    Ngân hàng thương mại cổ phần V2(sau đây gọi tắt là V3); _1 địa chỉ trụ sở: số H L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội

    Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn: Công ty TNHH một thành viên M (sau đây gọi tắt là Công ty M); địa chỉ: tầng A, tòa nhà V, số I D, phường D, quận C, thành phố Hà Nội.

    Người đại diện theo pháp luật: ông Bùi Công T – Chức vụ: Giám đốc.

    Người được ủy quyền lại: ông Nguyễn Đức H, ông Nguyễn Mạnh H1; nơi làm việc: Công ty M, tầng A tòa nhà V, số I D, phường D, quận C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh theo văn bản ủy quyền số: 187/2024/UQ-MAS(VPB) ngày 18/3/2024) – ông H vắng mặt; ông H1 có mặt.

  2. Bị đơn:

    ông Nguyễn Lâm Tớibà Trương Thị Bích N; nơi thường trú: tổ A, khu N, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh vắng mặt lần thứ 2 không lý do.

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

    Ngân hàng thương mại cổ phần V4 chỉ trụ sở: số H L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội

    Người đại diện theo uỷ quyền: ông Vương Văn T1, ông Lương Quốc H2, ông Nguyễn Quang H3; nơi làm việc: V3 Chi nhánh Q, số A đường B phường B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh –vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 13/3/2023 và lời khai tại tòa án người đại diện của nguyên đơn Ngân hàng V3 trình bày: V3 đã cho ôngNguyễn Lâm Tới và bà Trương Thị Bích N vay theo các hợp đồng tín dụng sau:

  • Hợp đồng cho vay số: LN2006182497119 ( LD2017801621) ngày 25/6/2020 (sau đây gọi tắt là hợp đồng số 01) số tiền: 2.649.418.400 đồng, thời hạn vay 300 tháng tính từ ngày tiếp theo của ngày ngân hàng giải ngân; mục đích thanh toán tiền mua bất động sản; lãi suất trong hạn: 8,9% cố định trong vòng 12 tháng; hết thời hạn 12 tháng điều chỉnh lãi suất 03 tháng 1 lần; lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Lãi suất chậm trả áp dụng đối với tiền lãi chậm trả bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chậm trả lãi nhưng tối đa không quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
  • Hợp đồng cho vay số: LN2007232595325 (LD2021001441) ngày 27/7/2020 (sau đây gọi tắt là hợp đồng số 02) số tiền: 3.247.508.000 đồng, thời hạn vay 300 tháng tính từ ngày tiếp theo của ngày ngân hàng giải ngân; mục đích thanh toán tiền mua bất động sản; lãi suất trong hạn: 8,9% cố định trong vòng 12 tháng; hết thời hạn 12 tháng điều chỉnh lãi suất 03 tháng 1 lần; lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Lãi suất chậm trả áp dụng đối với tiền lãi chậm trả bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chậm trả lãi nhưng tối đa không quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
  • Vay thẻ tín dụng hợp đồng số 376-P-2697530 ký ngày 15/8/2020 là thẻ tín dụng được cấp theo” Giấy đề nghị vay vốn có tài sản bảo đảm kiêm phương án sử dụng vốn, hợp đồng phát hành thẻ tín dụng quốc tế không tài sản bảo đảm, dịch vụ ngân hàng Đ (sau đây gọi tắt là hợp đồng số 03) hạn mức 50.000.000 đồng.

Tài sản thế chấp cho hợp đồng số 01 là:

  1. Toàn bộ quyền sử dụng đất tại thửa đất số 34a, tờ bản đồ số 33, tại địa chỉ: thôn E, xã C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CP458877, số vào sổ cấp GCN CH00122 do UBND thành phố C, tỉnh Quảng Ninh cấp ngày 13/11/2019 cho ông Nguyễn Lâm T2 và bà Trương Thị Bích N theo hợp đồng thế chấp số LN2006182497119/01; số công chứng 5226 quyển số 01.2020/TP/CC-DCC/HĐGD kí ngày 25/6/2020 tại văn phòng C (gọi tắt: tài sản 1)
  2. Toàn bộ quyền sử dụng đất tại thửa đất số 34b, tờ bản đồ số 33, tại địa chỉ: thôn E, xã C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CP458878, số vào sổ cấp GCN CH00121 do UBND thành phố C, tỉnh Quảng Ninh cấp ngày 13/11/2019 cho ông Nguyễn Lâm T2 và bà Trương Thị Bích N theo hợp đồng thế chấp số LN2006182497119/02; số công chứng 5227 quyển số 01.2020/TP/CC-DCC/HĐGD kí ngày 25/6/2020 tại văn phòng C (gọi tắt: tài sản 2).

Tài sản thế chấp cho hợp đồng số 02 là:

  1. Toàn bộ quyền sử dụng đất tại thửa đất số 34c, tờ bản đồ số 33, tại địa chỉ: thôn E, xã C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CP458879, số vào sổ cấp GCN CH00120 do UBND thành phố C, tỉnh Quảng Ninh cấp ngày 13/11/2019 cho ông Nguyễn Lâm T2 và bà Trương Thị Bích N theo hợp đồng thế chấp số LN2007232595325/01; số công chứng 6337 quyển số 01.2020/TP/CC-DCC/HĐGD kí ngày 27/7/2020 tại văn phòng C (gọi tắt: tài sản 3).
  2. Toàn bộ quyền sử dụng đất tại thửa đất số 29A, tờ bản đồ số 23, tại địa chỉ: thôn A, xã C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CP565932, số vào sổ cấp GCN CH00060 do UBND thành phố C, tỉnh Quảng Ninh cấp ngày 18/6/2019 cho ông Đinh Văn V và bà Nguyễn Thị N1. Ngày 08/7/2020 UBND thành phố C đã đăng ký chuyển nhượng cho ông Nguyễn Lâm T2 và bà Trương Thị Bích N theo hợp đồng thế chấp số LN2007232595325/02; số công chứng 6338 quyển số 01.2020/TP/CC-DCC/HĐGD kí ngày 27/7/2020 tại văn phòng C (gọi tắt: tài sản 4).

Quá trình thực hiện hợp đồng ông bà T2, N đã thanh toán cho V3 tổng số tiền: 1.499.644.654 đồng;

Ngày 15/11/2022 ông T2, bà N đã nợ quá hạn, tạm tính đến ngày 23/9/2024 ông Nguyễn Lâm T2 và bà Trương Thị Bích N còn nợ ngân hàng số tiền là:

  • Hợp đồng số 01, tổng số tiền nợ là: 3.451.382.221 đồng; trong đó nợ gốc: 2.578.218.764 đồng; lãi trong hạn 28.977.813 đồng, lãi quá hạn 838.985.516 đồng; lãi phạt:5.200.128 đồng.
  • Hợp đồng số 02, tổng số tiền nợ là: 4.379.727.247 đồng; trong đó nợ gốc: 3.161.137.777 đồng; lãi trong hạn 33.166.909 đồng, lãi quá hạn 1.176.346.314 đồng; lãi phạt: 9.076.247 đồng.
  • Hợp đồng số 03, tổng số tiền nợ là: 6.927.288 đồng; trong đó nợ gốc: 3.500.000 đồng; lãi quá hạn 3.427.288 đồng.

Ngày 29/12/2023, Ngân hàng thương mại cổ phần V2ank) đã bán khoản nợ trên cho Công ty TNHH một thành viên M theo Hợp đồng mua bán nợ số 01/2023/VPB-MARS và phụ lục số 01 Hợp đồng mua bán nợ số 01/2023/VPB-MARS, hợp đồng mua bán nợ số 02/2023/VPB-MARS và phụ lục số 01 Hợp đồng mua bán nợ số 02/2023/VPB-MARS.

Công ty TNHH một thành viên M yêu cầu: buộc ông T2, bà N phải thanh toán cho Công ty M khoản nợ phát sinh từ 03 Hợp đồng trên.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong buộc ông T2, bà N phải thanh toán các khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng và thẻ tín dụng đã ký kết cho đến khi thanh toán hết toàn bộ khoản nợ tại Công ty M.

Kể từ ngày Bản án của Tòa án có hiệu lực mà ông T2, bà N không thanh toán toàn bộ khoản nợ cho Công ty M, Công ty M có quyền đề nghị Cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản của ông Nguyễn Lâm T2 và bà Trương Thị Bích N để thu hồi toàn bộ khoản nợ, trong đó có các tài sản bảo đảm là: Toàn bộ quyền sử dụng đất tại thửa đất số 34a, 34b, 34c, tờ bản đồ số 33, tại địa chỉ: thôn E, xã C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh và toàn bộ quyền sử dụng đất tại thửa đất số 29A, tờ bản đồ số 23, tại địa chỉ: thôn A, xã C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh theo các hợp đồng thế chấp tài sản mà ông Nguyễn Lâm T2 và bà Trương Thị Bích N đã ký kết với V3 nêu trên.

Trường hợp toàn bộ số tiền phát mại tài sản không đủ để thanh toán toàn bộ khoản nợ, ông Nguyễn Lâm T2 và bà Trương Thị Bích N vẫn phải tiếp tục trả nợ cho Công ty M cho đến khi các khoản nợ được tất toán.

Tại phiên toà,

đại diện công ty M bổ sung yêu cầu khởi kiện đề nghị chấm dứt 02 hợp đồng số 01, 02 và xin rút yêu cầu khởi kiện đối với hợp đồng số 03.

Bị đơn

ông Nguyễn Lâm T2 và bà Trương Thị Bích N vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án. Toà án đã tống đạt hợp lệ tất cả các văn bản tố tụng cho ông T2, bà N.

Tại Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 18/01/2024 đối với các thửa đất 34a: diện tích 271,8m²; 34b diện tích: 307,6m²; 34c diện tích: 372m²; 03 thửa đất vẫn chung một thổ đất, chưa có ranh giới phân định 3 thửa riêng biệt. Trên thổ đất có: 01 nhà cấp 4 mái ngói, diện tích: 57m²; 02 nhà phụ diện tích lần lượt là: P1 diện tích 22,7m², P2 diện tích 21m²; 01 nhà tạm diện tích 3,5m²; 01 phần mái tôn kim loại, cột sắt, có tường bao cao khoảng 1m, diện tích phần mái tôn là 42m². Xung quanh 3 thửa đất có tường bao cao 1,2m, bao quanh phần sân nhà; mái tôn diện tích 71,87m²; 02 trụ cổng kích thước 40cm x 40cm x 2,2m; 01 bể nước diện tích 4,4 m²; 01 sân bê tông.

Tại công văn số 147/UBND ngày 07/5/2024 của UBND xã C xác định: thửa đất 34a diện tích vượt quá so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông T2, bà N là 9,2m²; thửa đất 34b diện tích vượt quá giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 7,3m² đều được xác định là quy hoạch đất giao thông; thửa đất 34c diện tích vượt quá giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 4,1m² trong đó có 2m² là quy hoạch đất giao thông; 2,1m² là quy hoạch đất ở. Hệ thống tường bao xây không đúng toạ độ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán; đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan về thụ lý vụ án; xác minh thu thập tài liệu chứng cứ; việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vụ án; Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử vụ án; bị đơn không tham gia tố tụng mặc dù được triệu tập hợp lệ vi phạm quy định tại khoản 16 Điều 70 BLTTDS.

Về các yêu cầu giải quyết trong vụ án: giữa V3 và ông T2, bà N có ký hợp đồng tín dụng để vay vốn có tài sản thế chấp là 04 thửa đất số 34a, 34b, 34c; 29a tại xã C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh. Ông T2, bà N đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ từ ngày 15/11/2022 nên Ngân hàng có đơn khởi kiện đề nghị Toà án tuyên buộc ông T2, bà N thực hiện nghĩa vụ trả toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng và xử lý tài sản thế chấp nếu ông bà T2, N không trả được nợ là có cơ sở xem xét.

Về yêu cầu chấm dứt Hợp đồng tín dụng trước thời hạn, yêu cầu trả nợ gốc, nợ lãi trong hạn, lãi quá hạn, lãi phạt được tính phù hợp với sự thoả thuận của các đương sự tại các hợp đồng tín dụng; phù hợp với phù hợp với quy định tại Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng, Bộ luật dân sự năm 2015; các quy định của ngân hàng N3 nên có căn cứ để chấp nhận.

Quyền yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm: sự thoả thuận của V3 và ông T2, bà N tại các hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất đã ký kết là đảm bảo các căn cứ quy định tại các Điều 317, 318, 319, 320 bộ luật dân sự, nay ông T2, bà N vi phạm thoả thuận nên có căn cứ để chấp nhận yêu cầu xử lý tài sản thế chấp.

Đình chỉ một phần theo quy định tại khoản 1 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự đối với việc rút yêu cầu khởi kiện đối với số tiền tại thẻ tín dụng đã ký kết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

Về thẩm quyền: trước khi Tòa án thụ lý vụ án, bị đơn có nơi thường trú tại thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh theo quy định tại khoản 3 Điều 26; Điều 35 và điểm a khoản 1, khoản 3 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Ngày 19/3/2024 đại diện V3 và đại diện Công ty M giao hợp đồng mua bán nợ của 2 bên cho Toà án. Vì vậy căn cứ khoản 4 điều 74 Bộ luật tố tụng dân sự và điều 7 Nghị quyết số 03/2018/NQ-HĐTP của Tòa án nhận dân T3, Tòa án xác định Công ty TNHH một thành viên M là Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của V3.

Tại phiên toà, người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng là Công ty M đề nghị chấm dứt 01,02; xét đề nghị chấm dứt hợp đồng số 01,02 trong phạm vi đơn khởi kiện và yêu cầu thu hồi toàn bộ khoản nợ là có cơ sở xem xét; việc xin rút đơn đối với hợp đồng số 03 là tự nguyện nên HĐXX xem xét đình chỉ một phần xin rút.

Xét các Hợp đồng số 01, 02, các hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để đảm bảo cho hợp đồng số 01,02 là sự tự nguyện thỏa thuận của Ngân hàng V3 với ông Nguyễn Lâm T2 và bà Trương Thị Bích N, đảm bảo các quy định của Bộ luật dân sự năm 2015, Luật các Tổ chức tín dụng và các quy chế, quy định của ngân hàng N3 và quy định của V3; các hợp đồng trên đã phát sinh hiệu lực.

Ông Nguyễn Lâm T2 và bà Trương Thị Bích N đã nhận đủ số tiền vay và đã thực hiện được một phần nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng V3 theo các Hợp đồng đã ký kết. Từ tháng 11/2022 đến nay, ông T2, bà N đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Công ty M yêu cầu thu hồi toàn bộ khoản nợ là có cơ sở chấp nhận.

Về số tiền nợ là: tổng số tiền tạm tính đến ngày 23/9/2024 số tiền 7.831.109.468 đồng (bảy tỷ tám trăm ba mươi mốt triệu một trăm lẻ chín nghìn bốn trăm sáu mươi tám đồng) cho hợp đồng số 01,02 mà đến nay Công ty M yêu cầu bao gồm: nợ gốc, nợ lãi trong hạn, lãi quá hạn, lãi phạt chậm trả lãi được tính phù hợp với sự thoả thuận của các đương sự; phù hợp với quy định tại Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng, Bộ luật dân sự 2015 và thông tư số 39/2016/TT-NHNN của ngân hàng N3 nên có căn cứ để chấp nhận. Cần buộc ông T2, bà N phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ trả nợ cho công ty M.

[3] Đối với yêu cầu xử lý tài sản thế chấp:

Việc ông T2, bà N tự nguyện thế chấp tài sản thuộc quyền sở hữu của mình để bảo đảm cho các khoản vay tại ngân hàng, đến nay, ông T2, bà N thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ đã ký kết nên Công ty M có quyền yêu cầu xử lý tài sản của ông T2, bà N để thu hồi toàn bộ khoản nợ là phù hợp với quy định của pháp luật và thỏa thuận tại Điều 6 của các Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất mà ông bà T2, N đã ký kết với V3.

Ngày 18/01/2024, Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh đã tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp đối với 4 thửa đất mà Ngân hàng V3 đã nhận thế chấp. Đối với thửa đất số 29A, tờ bản đồ số 23, tại địa chỉ: thôn A, xã C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh diện tích như giấy chứng nhận là đất 300m2. Đối với thửa 34a, 34b, 34c tờ bản đồ số 33 tại thôn E xã C có phần đất vượt quá diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử đất ông bà Tới N2 được cấp lần lượt là: 9,2m²; 7,3m²; 4,1m² (đã có trả lời của UBND xã C) mà ông T2 bà N2 đang sử dụng có xây dựng tường bao (không phải là công trình kiên cố, có thể tháo dỡ), không nằm trong diện tích được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khi nào có văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì sẽ thực hiện việc tháo dỡ để trả lại phần diện tích lấn chiếm. Cả 4 tài sản thế chấp theo 4 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên mà ông T2, bà N2 thế chấp cho Ngân hàng được UBND thành phố C cấp đã có toạ độ nên chấp nhận theo yêu cầu khởi kiện về việc xử lý tài sản trên đất theo các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp.

[4] Về án phí:

bị đơn ông T2 và bà N2 phải chịu án phí dân sự do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận và trả lại tiền tạm ứng án phí cho V3. V3 tự nguyện chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ.

[5] Về quyền kháng cáo:

các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: khoản 3 Điều 26; điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 74; 157, 158; Điều 147, 271, 273, khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 280; khoản 1 Điều 299, 303, 293, 317, 318, 319, 320, 321,322, 323, 357, 463, 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91, 95 Luật các Tổ chức tín dụng; khoản 4 Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN của ngân hàng N3 ngày 30/12/2016; Điều 7, Điều 8, Điều 13 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao “Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm”; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn do Công ty TNHH một thành viên M kế thừa.
  2. Đình chỉ xét xử một phần đối với yêu cầu khởi kiện về khoản nợ thẻ tín dụng có ký hiệu 376-P-2697530 ngày 15/6/2020.
  3. Chấm dứt Hợp đồng cho vay số: LN2006182497119 ( LD2017801621) ngày 25/6/2020; LN2007232595325 (LD2021001441) ngày 27/7/2020;

    - Về nghĩa vụ trả nợ: buộc ông Nguyễn Lâm T2 và bà Trương Thị Bích N phải có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty TNHH một thành viên M tính đến ngày xét xử sơ thẩm (23/9/2024) tổng số tiền: 7.831.109.468 đồng (bảy tỷ tám trăm ba mươi mốt triệu một trăm linh chín nghìn bốn trăm sáu mươi tám đồng), trong đó:

    • Hợp đồng cho vay số: LN2006182497119 ( LD2017801621) ngày 25/6/2020; tổng số tiền là: 3.451.382.221 đồng (ba tỷ bốn trăm năm mươi mốt triệu ba trăm tám mươi hai nghìn hai trăm hai mươi mốt đồng); trong đó nợ gốc: 2.578.218.764 đồng (hai tỷ năm trăm bảy mươi tám triệu hai trăm mười tám nghìn bảy trăm sáu mươi bốn đồng); lãi trong hạn 28.977.813 đồng (hai mươi tám triệu chín trăm bảy mươi bảy nghìn tám trăm mười ba đồng), lãi quá hạn 838.985.516 đồng (tám trăm ba mươi tám triệu chín trăm tám mươi năm nghìn năm trăm mười sáu đồng); lãi phạt: 5.200.128 đồng ( năm triệu hai trăm nghìn một trăm hai mươi tám đồng).
    • Hợp đồng cho vay số: LN2007232595325 (LD2021001441) ngày 27/7/2020: tổng số tiền là: 4.379.727.247 đồng (bốn tỷ ba trăm bảy mươi chín triệu bảy trăm hai mươi bảy nghìn hai trăm bốn mươi bảy đồng); trong đó nợ gốc: 3.161.137.777 đồng (ba tỷ một trăm sáu mươi mốt triệu một trăm ba mươi bảy nghìn bảy trăm bảy mươi bảy đồng); lãi trong hạn 33.166.909 đồng (ba mươi ba triệu một trăm sáu mươi sáu nghìn chín trăm lẻ chí đồng), lãi quá hạn 1.176.346.314 đồng (một tỷ một trăm bảy mươi sáu triệu ba trăm bốn mươi sáu nghìn ba trăm mười bốn đồng); lãi phạt: 9.076.247 đồng (chín triệu không trăm bảy mươi sáu nghìn hai trăm bốn mươi bảy đồng).

    Trường hợp trong các hợp đồng cho vay trên, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng V3 cho vay thì lãi suất mà ông T2, bà N phải tiếp tục thanh toán cho Công ty M theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng V3 cho vay.

  4. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 23/9/2024) cho đến khi thi hành án xong, buộc ông T2, bà N phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay số: Hợp đồng cho vay số: LN2006182497119 (LD2017801621) ngày 25/6/2020; LN2007232595325 (LD2021001441) ngày 27/7/2020;

    Kể từ ngày Công ty TNHH một thành viên M có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông T2, bà N không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ tại các hợp đồng trên thì Công ty TNHH một thành viên M có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản bảo đảm sau:

    • Xử lý tài sản bảo đảm của Hợp đồng cho vay số LN2006182497119 (LD2017801621) ngày 25/6/2020 là: toàn bộ quyền sử dụng đất 262,6m² tại thửa đất số 34a, tờ bản đồ số 33, tại địa chỉ: thôn E, xã C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CP458877, số vào sổ cấp GCN CH00122 do UBND thành phố C, tỉnh Quảng Ninh cấp ngày 13/11/2019 cho ông Nguyễn Lâm T2 và bà Trương Thị Bích N theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số LN2006182497119/01; số công chứng 5226 quyển số 01.2020/TP/CC-DCC/HĐGD kí ngày 25/6/2020 tại văn phòng C và toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất trên diện tích đất 300,3 m² ( có 01 sân bê tông) tại thửa đất số 34b, tờ bản đồ số 33, tại địa chỉ: thôn E, xã C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CP458878, số vào sổ cấp GCN CH00121 do UBND thành phố C, tỉnh Quảng Ninh cấp ngày 13/11/2019 cho ông Nguyễn Lâm T2 và bà Trương Thị Bích N theo hợp đồng thế chấp số LN2006182497119/02; số công chứng 5227 quyển số 01.2020/TP/CC-DCC/HĐGD kí ngày 25/6/2020 tại văn phòng C.
    • Xử lý tài sản bảo đảm của Hợp đồng cho vay số LN2007232595325 (LD2021001441) ngày 27/7/2020 là: toàn bộ quyền sử dụng đất diện tích 367,9m² và tài sản gắn liền với đất gồm: 01 nhà cấp 4 mái ngói, diện tích: 57m²; 02 nhà phụ diện tích lần lượt là: P1 diện tích 22,7m², P2 diện tích 21m²; 01 nhà tạm diện tích 3,5m²; 01 phần mái tôn kim loại, cột sắt, có tường bao cao khoảng 1m, diện tích phần mái tôn là 42m². Xung quanh 3 thửa đất có tường bao cao 1,2m, bao quanh phần sân nhà; mái tôn dài 71,87m; 02 trụ cổng kích thước 40cmx40cm cao 2,2m; 01 bể nước diện tích 4,4 m2 tại thửa đất số 34c, tờ bản đồ số 33, tại địa chỉ: thôn E, xã C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CP458879, số vào sổ cấp GCN CH00120 do UBND thành phố C, tỉnh Quảng Ninh cấp ngày 13/11/2019 cho ông Nguyễn Lâm T2 và bà Trương Thị Bích N theo hợp đồng thế chấp số LN2007232595325/01; số công chứng 6337 quyển số 01.2020/TP/CC-DCC/HĐGD kí ngày 27/7/2020 tại văn phòng C và toàn bộ quyền sử dụng đất 300 m² tại thửa đất số 29A, tờ bản đồ số 23, tại địa chỉ: thôn A, xã C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CP565932, số vào sổ cấp GCN CH00060 do UBND thành phố C, tỉnh Quảng Ninh cấp ngày 18/6/2019 cho ông Đinh Văn V1 và bà Nguyễn Thị N1. Ngày 31/7/2019 UBND thành phố C đã đăng ký chuyển nhượng cho ông Nguyễn Lâm T2 và bà Trương Thị Bích N theo theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số LN2007232595325/02; số công chứng 6338 quyển số 01.2020/TP/CC-DCC/HĐGD kí ngày 27/7/2020 tại văn phòng C.

    Trường hợp số tiền thu hồi từ việc xử lý tài sản đảm bảo vẫn không đủ trả nợ cho Công ty TNHH một thành viên M thì ông T2, bà N phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Công ty TNHH một thành viên M cho đến khi tất toán toàn bộ khoản vay.

  5. Về án phí: ông Nguyễn Lâm T2 và bà Trương Thị Bích N phải chịu 115.831.109 đồng (một trăm mười năm triệu, tám trăm ba mươi mốt nghìn, một trăm lẻ chín đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Về chi phí tố tụng: V3 tự nguyện chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ (đã nộp đủ).

Trả lại cho V3 số tiền 57.082.315 đồng (năm mươi bảy triệu, không trăm tám mươi hai nghìn, ba trăm mười năm đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0005445 ngày 03/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cẩm Phả.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết .

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

Nơi nhận:

  • - VKSND tp. Cẩm Phả;
  • - Chi cục THADS Tp. Cẩm Phả;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HSVA; VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cao Thị Lan Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2024/DS-ST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 07/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: VP Bank đòi nợ anh T chị N
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger