Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG NINH

Bản án số: 07/2024/DS-ST

Ngày 26/8/2024

“V/v Tranh chấp chia thừa kế tài sản”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Tạ Duy Ước

Các Hội thẩm nhân dân: ông Trần Văn Sinh và ông Vũ Xuân Kiều

Thư ký phiên toà: bà Nguyễn Thị Hoa Lê - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.

Trong ngày 26/8/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 06/2024/TLST-DS ngày 05 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp về thừa kế tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 101/2024/QĐXXST-DS ngày 02/8/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 104/2024/QĐST-DS ngày 20/8/2024, giữa các đương sự:

*Nguyên đơn: bà Phạm Thị Đ, sinh năm 1962; nơi cư trú: khu B, phường P, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt

* Bị đơn: cháu Nguyễn Thị Phương T, sinh năm 2009; cháu Nguyễn Thị Quỳnh A, sinh năm 2010 và cháu Nguyễn Hoàng Trường G, sinh năm 2012. Đều cư trú: khu F, phường P, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn: chị Vũ Thị T1, sinh năm 1986 (mẹ đẻ cháu: Nguyễn Thị Phương T, Nguyễn Thị Quỳnh A, Nguyễn Hoàng Trường G). Cư trú tại: khu F, phường P, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh.

Vắng mặt không có lý do.

*Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  • + Bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 1940; nơi cư trú: khu B, phường P, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.
  • + Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1983; nơi cư trú: khu B, phường P, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh.
  • + Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1989; quốc tịch cũ: Việt Nam; địa chỉ cũ: khu B, phường P, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; quốc tịch mới: Hàn Quốc; ngày nhập quốc tịch: 21/5/2020; nơi cư trú: 737 N; số đăng ký người ngoại quốc cũ: 890716 - 6300195; Hộ chiếu số: N1707321 do Đ1 tại Hàn Quốc cấp ngày 25 tháng 5 năm 2014; hiện đang sinh sống tại Hàn Quốc.
  • + Chị Nguyễn Thị H2, sinh năm 1995; nơi cư trú: khu B, phường P, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt

Người đại diện theo uỷ quyền của chị Nguyễn Thị H và Nguyễn Thị H1 là chị Nguyễn Thị H2, sinh năm 1995; nơi cư trú: khu B, phường P, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt

  • + Ủy ban nhân dân thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt không có lý do.
  • + Ủy ban nhân dân phường P, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Đại diện theo uỷ quyền: Ông Lê Kỳ H3 - Phó chủ tịch UBND phường P. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, lời khai của nguyên đơn Phạm Thị Đ và các tài liệu nguyên đơn cung cấp có nội dung:

Bà Phạm Thị Đ và ông Nguyễn Hoàng S sinh năm 1962, kết hôn ngày 05/12/1982, sinh được 04 người con chung là Nguyễn Hoàng H4 (1982), Nguyễn Thị H (1983); Nguyễn Thị H1 (1989); Nguyễn Thị H2 (1995). Ông S có mẹ đẻ còn sống là cụ Nguyễn Thị Q. Anh H4 chết năm 2012 có 03 con Nguyễn Phương T - sinh 2009, Nguyễn Thị Quỳnh A - sinh năm 2010 và Nguyễn Hoàng Trường G - sinh năm 2012;

Bà Đ và ông S đã tạo dựng được tài sản chung 02 thửa đất số 42 và 121 tờ bản đồ địa chính số 53 có nguồn gốc được mua của hợp tác xã P tại Khu B phường P, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh có diện tích mỗi thửa 150m² trên đất ông bà đã xây 01 ngôi nhà, công trình phụ và trồng cây ăn quả đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản trên đất số CL 134688 số vào sổ CH 02765 ngày 28/12/2019 (cấp đổi giấy chứng nhận ngày 27/11/2003) và số CL 134686 số vào sổ CH 02772 ngày 28/2/2019 (Cấp đổi GCN số: AP 104277 ngày 08/12/2009) đứng tên ông Nguyễn Hoàng S và bà Phạm Thị Đ.

Ngày 27/12/2019, ông S chết không để lại di chúc, toàn bộ nhà đất trên đều do bà Đ quản lý sử dụng cho đến nay. Đối với các con chung đều đã xây dựng gia đình chuyển đi ở chỗ khác, riêng anh H4 chết năm 2012 thì vợ anh H4 là chị Vũ Thị T1 sinh năm 1986 và các con anh H4 đã chuyển đi ở chỗ khác tại nhà mẹ đẻ và đã xây dựng nhà trên đất của mẹ đẻ để sinh sống cho đến nay.

Do bà Đ hiện nay tuổi cao ở một mình tại khu vực vắng dân cư sinh sống không có người chăm sóc nên có nguyện vọng chuyển đổi chỗ ở khác về vị trí đông dân cư để thuận lợi sinh hoạt cuộc sống. Bà Đ có nguyện vọng chuyển nhượng nhà đất để tạo lập chỗ ở mới nên đã thoả thuận với các con nhưng chị T1 là vợ anh H4 và là người đại diện cho các con anh H4 không hợp tác nên không làm thủ tục chuyển nhượng nhà đất được. Vì vậy, bà Đ khởi kiện yêu cầu chia thừa kế đối với di sản của ông S để lại trong các tài sản trên gồm:

Chia thừa kế phần tài sản của ông Nguyễn Hoàng S để lại là ½ quyền sử dụng đất 300m² và tài sản trên đất đất thuộc các thửa đất số 42 và 121 tờ bản đồ địa chính số 53 tại Khu B phường P, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản trên đất số CL 134688 số vào sổ CH 02765 ngày 28/12/2019 (cấp đổi giấy chứng nhận ngày 27/11/2003) và số CL 134686 số vào sổ CH 02772 ngày 28/2/2019 (Cấp đổi GCN số: AP 104277 ngày 08/12/2009) đứng tên ông Nguyễn Hoàng S và bà Phạm Thị Đ. Phương thức chia thừa kế giao đất và tài sản trên đất cho bà Đ và 03 con gái, mẹ chồng được sở hữu chung và thanh toán phần di sản cho các con anh H4 được hưởng là 30.000.000₫ (01 suất thừa kế 1/6).

Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình nguyên đơn chung cấp giấy chứng tử, đăng ký kết hộ, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sở hữu tài sản trên đất ...

Về phía bị đơn: Chị Vũ Thị T1 là người đại diện hợp pháp của cháu Nguyễn Phương T, Nguyễn Thị Quỳnh A và Nguyễn Hoàng Trường G đã được thông báo thụ lý nhưng không có quan điểm gửi Toà án và cũng không có yêu cầu phản tố, chị T1 cũng đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng trong quá trình giải quyết đều vắng mặt không tham gia tố tụng.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Cụ Nguyễn Thị Q, chị Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị H1, Nguyễn Thị H2 đều có quan điểm trình bày thống nhất với nguyên đơn và đều có quan điểm từ chối nhận thừa kế và phần mình được hưởng thừa kế cho tặng lại nguyên đơn. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập.

Theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ ngày 12/8/2024 diện tích đất 300m² chia làm 02 thửa trên đất có nhà 2 tầng và công trình phụ.

Theo kết quả định giá ngày 12/8/2024. Giá đất ở 3.600.000đ/m² và tài sản trên đất giá trị 709.307.008₫

Sau khi thụ lý vụ án Toà án đã tiến hành công khai chứng cứ và tiến hành hoà giải, Đại diện theo pháp luật của bị đơn đã được thông báo nhưng không tham gia và nguyên đơn từ chối hoà giải nên không tiến hành hoà giải được.

Tại phiên toà:

Bị đơn vắng mặt không có quan điểm, Nguyên đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn xin xử án vắng mặt và giữ nguyên quan điểm như đã trình bày trong quá trình giải quyết vụ án.

Ủy ban nhân dân phường P có quan điểm: phần diện tích 70,9m² đất nằm ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà Đ và ông S thuộc quản lý của UBND phường P nên bà Đ phải trả lại cho UBND phường và tự tháo dỡ toàn bộ các công trình trên phần diện tích đất này để trả lại hiện trạng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án và quan điểm giải quyết vụ án: Về tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật; Về nội dung: đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chia di sản của ông Nguyễn Hoàng S theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Căn cứ yêu cầu khởi kiện và tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn giao nộp kèm theo đơn khởi kiện, căn cứ tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập được trong quá trình giải quyết vụ án có đủ cơ sở xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp chia thừa kế”. Vụ án có người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là người gốc Việt Nam đang cư trú tại Hàn Quốc. Do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh theo quy định tại khoản 1 Điều 30; điểm a khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc đương sự vắng mặt: Bị đơn đã được toà án thông báo thụ lý, công khai chứng cứ và hoà giải, triệu tập tham gia phiên toà nhưng đều vắng mặt không có lý do và không có quan điểm. Các đương sự khác vắng mặt nhưng đã có đơn xin vắng mặt nên vụ án được xét xử vắng mặt họ theo quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng Dân sự.

Về phạm vi đơn và phạm vi khởi kiện: Nguyên đơn yêu cầu khởi kiện xác định di sản và chia thừa kế phần di sản thuộc 2 thửa đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản trên đất là nhà ở và công trình phụ của ông S để lại hiện nay do bà Đ đang quản lý sử dụng nên căn cứ Điều 5, Điều 188 BLTTDS xác định phạm vi giải quyết vụ án chỉ xem xét các tài sản trên theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bị đơn không có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập, đây là quyền định đoạt của các đương sự. Đối với các tài sản khác không tranh chấp và không yêu cầu Toà án giải quyết không thuộc phạm vi giải quyết trong vụ án.

[2] Xét nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Về thời điểm mở thừa kế và thời hiệu chia thừa kế:

Căn cứ giấy chứng tử số 07 ngày 27/12/2019 xác định ông Nguyễn Hoàng S chết ngày 21/12/2019 và các đương sự đều thừa nhận nên căn cứ Điều 611 BLDS thời điểm mở thừa kế được xác định vào các ngày trên, cho đến nay chưa quá 30 năm, theo quy định tại Điều 623 BLDS việc chia thừa kế vẫn còn thời hiệu chia thừa kế theo pháp luật.

Về xác định hàng thừa kế, người thừa kế:

Căn cứ lời khai của nguyên đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan sự đều khai thống nhất hàng thừa kế thứ nhất và người hưởng thừa kế của ông Nguyễn Hoàng S gồm: cụ Nguyễn Thị Q, bà Phạm Thị Đ, chị Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị H1, Nguyễn Thị H2, anh Nguyễn Hoàng H4. Do anh H4 chết trước ông S nên người thừa kế thế vị của anh H4 là các cháu Nguyễn Phương T, Nguyễn Thị Quỳnh A và Nguyễn Hoàng Trường G. Lời khai của nguyên đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan phù hợp với chứng cứ trong vụ án nên được chấp nhận.

Về di sản thừa kế:

* Quyền sử dụng đất 300m² thuộc các thửa đất số 42 và 121 tờ bản đồ địa chính số 53 tại khu B phường P, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản trên đất số CL 134688 số vào sổ CH 02765 ngày 28/12/2019 (cấp đổi giấy chứng nhận ngày 27/11/2003) và số CL 134686 số vào sổ CH 02772 ngày 28/2/2019 (Cấp đổi GCN số: AP 104277 ngày 08/12/2009) đứng tên ông Nguyễn Hoàng S và bà Phạm Thị Đ.

Căn cứ lời khai của những người trong hàng thừa kế và hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thể hiện diện tích đất 300m² và tài sản trên đất có nguồn gốc do vợ chồng bà Đ mua của hợp tác xã và xây dựng tài sản trên đất nên đây là tài sản chung của bà Đ và ông S. Ông S chết không để lại di chúc nên phần tài sản trên có ½ là của bà Đ và ½ thuộc di sản thừa kế của ông S để lại và được chia đều cho những người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất, riêng anh H4 là con ông S chết trước ông S nhưng anh H4 có 03 người con nên những người con của anh H4 sẽ được hưởng thừa kế thế vị phần di sản của anh H4 nếu còn sống được hưởng.

Theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ có diện tích đất: phần diện tích đất 300m² đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng bà Đ và ông S có sử dụng phần diện tích đất 70,9m² vượt quá phần đất được cấp Giấy chứng nhận về phía sau thửa đất và xây dựng trên phần đất này gồm 01 nhà vệ sinh, chuồng lợn, ngoài ra còn làm mới phần mái tôn. Tuy nhiên, nguyên đơn xác định diện tích đất này do nguyên đơn lấn chiếm đất của U và xây dựng công trình trên đất lấn là vi phạm pháp luật nên nguyên đơn không yêu cầu chia thừa kế đối với đất và tài sản trên đất thuộc diện tích lấn chiếm 70,9m². (phần mái tôn do làm mới không phải di sản thừa kế)

Như vậy, Quyền sử dụng đất trên được xác định ½ quyền sử dụng đất tương ứng 150m² là của bà Đ (01 thửa đất) và ½ quyền sử dụng đất tương ứng 150m² (01 thửa đất) là di sản của ông S để lại và được chia đều cho 6 người thừa kế tương ứng mỗi suất thừa kế của người thừa kế được hưởng là 25m².

Theo biên bản định giá xác định diện tích đất ở 3.600.000đ/m² nên mỗi suất thừa kế có giá trị 25m² x 3.600.000đ = 90.000.000₫.

Về phía nguyên đơn được cụ Nguyễn Thị Q, chị Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị H1, Nguyễn Thị H2 cho tặng lại suất thừa kế của họ cho bà Đ nên nguyên đơn được hưởng 5/6 di sản là diện tích đất 150m²/6 x 5 = 125m². Trị giá 125m² x 3.600.000₫ = 450.000.000₫.

Cháu Nguyễn Phương T, Nguyễn Thị Quỳnh A và Nguyễn Hoàng Trường G (do chị Vũ Thị T1 là người đại diện) được hưởng 25m² trị giá 90.000.000₫ tương ứng mỗi cháu được hưởng 8,33m² trị giá 30.000.000đ.

* Tài sản trên quyền sử dụng đất thuộc các thửa đất số 42 và 121 tờ bản đồ địa chính số 53 tại Khu B phường P, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản trên đất số CL 134688 số vào sổ CH 02765 ngày 28/12/2019 (cấp đổi giấy chứng nhận ngày 27/11/2003) và số CL 134686 số vào sổ CH 02772 ngày 28/2/2019 (Cấp đổi GCN số: AP 104277 ngày 08/12/2009) đứng tên ông Nguyễn Hoàng S và bà Phạm Thị Đ.

Căn cứ lời khai của các đương sự, kết quả xem xét thẩm định tại chỗ trên đất có tài sản gồm: 01 ngôi nhà 02 tầng có kết cấu chịu lực bê tông cốt thép, tường xây bao xây gạch, sàn mái bê tông, cốt thép đổ tại chỗ; công trình phụ bao xây gạch, mái bê tông cốt thép; 01 cổng sắt, 02 trụ cổng xây gạch chát xi măng, sân láy gạch đỏ, mái tôn lạnh, cây cối (02 cây xoài, 02 cây mít, 01 cây bưởi).

Đối với mái tôn lạnh do ông Vũ Văn L làm tháng 7/2024 nên không phải di sản thừa kế, ông L có quan điểm khi chia thừa kế không tranh chấp và ông có trách nhiệm tháo dỡ khi người được chia thừa kế yêu cầu; các tài sản khác đều được tạo dựng trước khi ông S chết nên là di sản thừa kế để chia.

Riêng cây cối nguyên đơn không yêu cầu chia và không yêu cầu định giá nên không xem xét nếu các đương sự tranh chấp yêu cầu chia được giải quyết trong vụ án khác.

Theo kết quả định giá giá trị tài sản trên đất tổng số tiền: được xác định ½ (709.307.008₫/2= 354.653.504đ) thuộc sở hữu của bà Đ còn lại ½ (709.307.008₫/2= 354.653.504đ) là di sản của ông S để lại và được chia đều thành 6 phần trong tương ứng mỗi suất thừa kế 354.653.504₫ /6 = 59.108.917₫

Về phía nguyên đơn được cụ Nguyễn Thị Q, chị Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị H1, Nguyễn Thị H2 cho tặng lại suất thừa kế của họ nên nguyên đơn được hưởng 5/6 di sản

Về công sức tôn tạo, quản lý di sản: Nguyên đơn yêu cầu chia di sản làm 06 phần và không yêu cầu xác định công sức nên không xem xét.

Về phương thức chia di sản:

Xét thấy, di sản 150m² đất là diện tích của 01 thửa đất có chiều rộng 7,5m có thể chia tách thành 02 thửa cho 02 người sử dụng đất tuy nhiên về phía nguyên đơn là người được hưởng 125m² còn phần của bị đơn chỉ được hưởng 25m² (03 người mỗi người được 25/3 = 8,33m²) nên không đủ điều kiện về diện tích để tách thành một thửa riêng. Mặt khác bị đơn không có quan điểm nhận suất thừa kế của người khác và thanh toán chênh lệch cũng như nguyện vọng nhu cầu về chỗ ở. Trường hợp giao suất thừa kế của người khác cho bị đơn thì các cháu đều không có tài sản và khả năng thanh toán chênh lệch nên cần giao cho nguyên đơn được quyền sử dụng 25m² đất mà bị đơn được hưởng và nguyên đơn có trách nhiệm thanh toán giá trị quyền sử dụng đất 90.000.000đ cho 03 con của anh H4 mỗi cháu 30.000.000đ là phù hợp với thực tế, đảm bảo quyền lợi cho các đương sự.

Đối với tài sản trên đất nằm trên phần lớn diện tích đất của nguyên đơn và quyền sử dụng đất được chia theo giá trị nên cần giao cho nguyên đơn sở hữu tài sản và có nghĩa vụ thanh toán cho bị đơn gồm 03 cháu 59.108.917₫ tương ứng mỗi cháu 19.702.972 đ là đảm quyền quyền lợi các đương sự.

Đối với phần mái tôn do ông L tạo dựng nhưng ông L không yêu cầu giải quyết nếu sau khi chia di sản ai được hưởng di sản thì ông L sẽ thoả thuận với người được hưởng di sản hoặc sẽ tự tháo dỡ nên không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét.

Đối với phần đất và tài sản trên đất nằm ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do bà Đ đang quản lý sử dụng, đề nghị UBND có thẩm quyền thực hiện nhiệm vụ công vụ về quản lý đất đai theo đúng quy định của pháp luật.

Như vậy, tổng số tiền nguyên đơn phải thanh toán cho bị đơn bằng một suất thừa kế gồm giá trị quyền sử dụng đất 90.000.000đ và tài sản trên đất 59.108.917đ. Tổng số:149.108.917 (mỗi cháu được hưởng 49.702.972đ)

Về quan điểm của VKS tại phiên toà: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên được chấp nhận.

Từ những nhận định trên, HĐXX có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu chia thừa kế di sản của ông Nguyễn Hoàng S đối với diện tích đất 150m² và tài sản trên đất. Bà Phạm Thị Đ được quyền sử dụng 02 thửa đất gồm và sở hữu tài sản trên đất tại thửa đất số 42, 121 tờ bản đồ số 53 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CL 134688 và CL 134686 do Ủy ban nhân dân thị xã Q cấp ngày 28 tháng 2 năm 2019 đứng tên bà Phạm Thị Đ và ông Nguyễn Hoàng S và có nghĩa vụ thanh toán cho bị đơn tổng số tiền 149.108.917 (mỗi cháu được hưởng 49.702.972đ)

[3] Về án phí và chi phí tố tụng:

[3.1] Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Cụ Q, bà Đ là người cao tuổi nên được miễn án phí còn lại những người thừa kế khác mỗi người phải chịu án phí tương ứng với phần di sản được hưởng. Chị Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị H1, Nguyễn Thị H2 được hưởng phần thừa kế nhưng cho tặng lại bà Đ nên bà Đ có nghĩa vụ nộp án phí thay cho chị H, H1, H2 theo quy định. Các cháu Nguyễn Thị Phương T, cháu Nguyễn Thị Quỳnh A và cháu Nguyễn Hoàng Trường G thuộc trường hợp được miễn án phí.

[3.2] Chi phí tố tụng: Nguyên đơn có quan điểm tự nguyện chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 12.500.000đ và đã nộp đủ chi phí tố tụng, nên HĐXX không đề cập giải quyết.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 5 Điều 26, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 1 Điều 147, khoản Điều 157, khoản 1 Điều 158, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27, 28, 133 Luật đất đai 2024 và Điều 609, 611, 612, 623, 650, 651, 654, 660 Bộ luật dân sự 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Đ về việc yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật đối với quyền sử dụng đất và tài sản trên đất thuộc các thửa đất số 42 và 121 tờ bản đồ địa chính số 53 tại Khu B phường P, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản trên đất số CL 134688 số vào sổ CH 02765 ngày 28/12/2019 (cấp đổi giấy chứng nhận ngày 27/11/2003) và số CL 134686 số vào sổ CH 02772 ngày 28/2/2019 (Cấp đổi GCN số: AP 104277 ngày 08/12/2009) đứng tên ông Nguyễn Hoàng S và bà Phạm Thị Đ.

[2.1] Về hàng thừa kế:

Hàng thừa thừa kế thứ nhất được hưởng di sản của ông Nguyễn Hoàng S gồm: Cụ Nguyễn Thị Q, bà Phạm Thị Đ, chị Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị H1, Nguyễn Thị H2, anh Nguyễn Hoàng H4.

Người thừa kế thế vị của anh Nguyễn Hoàng H4 gồm: cháu Nguyễn Phương T, Nguyễn Thị Quỳnh A và Nguyễn Hoàng Trường G ((do chị Vũ Thị T1 là người đại diện).

[2.2] Chia di sản thừa kế:

Giao cho bà Phạm Thị Đ được quyền sử dụng đất và sở hữu tài sản trên đất thuộc các thửa đất số 42 và 121 tờ bản đồ địa chính số 53 tại Khu B phường P, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản trên đất số CL 134688 số vào sổ CH 02765 ngày 28/12/2019 (cấp đổi giấy chứng nhận ngày 27/11/2003) và số CL 134686 số vào sổ CH 02772 ngày 28/2/2019 (Cấp đổi GCN số: AP 104277 ngày 08/12/2009) đứng tên ông Nguyễn Hoàng S và bà Phạm Thị Đ. (vị trí, diện tích đất và tài sản trên đất có sơ đồ kèm theo)

Bà Phạm Thị Đ có quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của của pháp luật.

Bà Phạm Thị Đ có nghĩa vụ thanh toán cho cháu Nguyễn Phương T, Nguyễn Thị Quỳnh A và Nguyễn Hoàng Trường G (do chị Vũ Thị T1 là người đại diện) mỗi cháu 49.702.972đ (Bốn mươi chín triệu, bảy trăm linh hai nghìn, chín trăm bảy mươi hai đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

[3] Về án phí sơ thẩm và chi phí tố tụng:

[3.1] Về án phí sơ thẩm:

Bà Nguyễn Thị Q, bà Phạm Thị Đ và các cháu Nguyễn Phương T, Nguyễn Thị Quỳnh A và Nguyễn Hoàng Trường G được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

Bà Phạm Thị Đ có nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm 7.455.446 đ (Bảy triệu, bốn trăm năm mươi lăm nghìn, bốn trăm bốn mươi sáu đồng) án phí thay cho chị Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị H1, Nguyễn Thị H2.

[3.2] Về Chi phí tố tụng: Nguyên đơn tự nguyện chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 12.500.000đ ( Nguyên đơn đã nộp đủ chi phí tố tụng).

Án xử công khai sơ thẩm: báo cho các đương sự có mặt tại phiên tòa, biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Báo cho các đương sự vắng mặt tại phiên tòa, biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được Thi hành án dân sự, người phải Thi hành án dân sự có quyền thoả thuận Thi hành án, quyền yêu cầu Thi hành án, tự nguyện Thi hành án hoặc bị cưỡng chế Thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu Thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Các đương sự;
  • - Cục Thi hành án tỉnh Quảng Ninh;
  • - Lưu VP;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Tạ Duy Ước

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2024/DS-ST ngày 26/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH về tranh chấp chia thừa kế tài sản

  • Số bản án: 07/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia thừa kế tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp chia thừa kế tài sản.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger