|
TÒA ÁN ND Q.LIÊN CHIỂU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 07/2024/KDTM - ST Ngày: 31/7/2024 “V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU - TP ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Nguyễn Thi Thi
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Thanh Bình
- Bà Huỳnh Thị Lệ
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Thuỳ Trang – Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu tham gia phiên tòa: Ông Võ Quang Tiến – Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Liên Chiểu mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 03/2024/TLST - KDTM ngày 04 tháng 01 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2024/QĐXXST – KDTM ngày 04 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2024/QĐST-KDTM ngày 15 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP H2, trụ sở: E N, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đào Ngọc T – sinh năm 1987 – chức vụ: Giám đốc tố tụng, ông Đoàn Thanh H – sinh năm 1978 – chức vụ: Giám đốc xử lý nợ khách hàng doanh nghiệp, ông Trương Tấn V – sinh năm 1980 – Chức vụ: Giám đốc xử lý nợ khách hàng doanh nghiệp, cùng địa chỉ: B Đ, quận T, thành phố Đà Nẵng. Ông H có mặt.
- Bị đơn: Công ty TNHH V1, địa chỉ trụ sở: H N, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Thanh N – Giám đốc. Vắng mặt không có lý do.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1956; Địa chỉ: Tổ E, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt không có lý do.
- Bà Nguyễn Thị C; Địa chỉ: Tổ E, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng; Vắng mặt không có lý do.
- Ông Nguyễn Văn C1, sinh năm 1992; Địa chỉ: Tổ E, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện, tại Bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn Ngân hàng TMCP H2 là ông Trương Tấn V trình bày:
Ngân hàng TMCP H2 (M) – Chi nhánh Đ và Công ty TNHH V1 ký kết Hợp đồng tín dụng hạn mức số 30.10/2021/HĐTD ngày 04/11/2021 và Phụ lục kèm theo với các nội dung như sau:
Hạn mức tín dụng trong hợp đồng này là tổng dư nợ và số dư tối đa các khoản vay, L, chiết khấu, bảo lãnh hoặc tín dụng khác mà MSB cấp cho khách hàng: 2.620.000.000 đồng (Hai tỷ sáu trăm hai mươi triệu đồng).
Thời hạn duy trì hạn mức tín dụng: 36 tháng kể từ ngày 23/10/2021
Mục đích cho vay: Bổ sung vốn lưu động, phát hành bảo lãnh phục vụ hoạt động kinh doanh của khách hàng.
Lãi suất cho vay: Được tính trên dư nợ gốc thực tế giảm dần và mức lãi suất cho vay được quy định cụ thể tại các Giấy nhận nợ/ Khế ước nhận nợ;
Lịch trả nợ gốc, lãi, các khoản phí: thực hiện theo thỏa thuận của các bên tại các hợp đồng, Giấy nhận nợ/ Khế ước nhận nợ.
Tài sản bảo đảm: Tài sản bảo đảm là Nhà ở và QSDĐ theo Giấy chứng nhận QSDĐ, QSH nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CA 481823 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Đ cấp ngày 15/06/2015, số vào sổ cấp GCN: CTs 67525 theo Hợp đồng thế chấp số 30.10/2021/BĐ ngày 04/11/2021 và Phụ lục kèm theo giữa ông Nguyễn Văn H1 và Ngân hàng TMCP H2 – Chi nhánh Đ. MSB đã đăng ký thế chấp theo quy định pháp luật.
Quá trình thực hiện hợp đồng M đã giải ngân cho Công ty TNHH V1 đúng theo các nội dung thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng hạn mức số 30.10/2021/HĐTD ngày 04/11/2021 và Phụ lục kèm theo. Trong thời gian thực hiện hợp đồng, Công ty TNHH V1 đã nhiều lần vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi phát sinh theo hợp đồng đã ký kết. Mặc dù MSB đã thường xuyên đôn đốc, tạo điều kiện trả nợ nhưng Công ty TNHH V1 vẫn không hợp tác, hứa hẹn nhiều lần nhưng không thực hiện việc trả nợ và đến nay khoản vay của Công ty TNHH V1 tại M vẫn chưa được thanh toán.
Tính đến ngày 30/7/2024, Công ty TNHH V1 còn dư nợ tại MSB như sau:
Khoản vay theo hạn mức: Nợ gốc 2.270.000.000 đồng; Nợ lãi 558.161.921 đồng; Lãi quá hạn 239.736.429 đồng; Tổng cộng là: 3.067.898.350 đồng;
K vay thấu chi 339.141.248 đồng; Nợ lãi 26.524.179 đồng; Nợ lãi quá hạn: 78.935.226 đồng; Tổng cộng là 444.600.654 đồng;
Tạm tính đến ngày 30/7/2024, tổng các khoản nợ bị đơn phải thanh toán cho ngân hàng là 3.512.499.004 đồng (Ba tỷ năm trăm mười hai triệu bốn trăm chín mươi chín ngàn không trăm không bốn đồng), trong đó: nợ gốc là 2.609.141.248 đồng, nợ lãi là 584.686.100 đồng, nợ lãi quá hạn là 318.671.365 đồng.
Do đó Ngân hàng khởi kiện đề nghị TAND Quận Liên Chiểu giải quyết:
- Buộc Công ty TNHH V1 phải trả cho MSB số tiền là 3.512.499.004 đồng (Ba tỷ năm trăm mười hai triệu bốn trăm chín mươi chín ngàn không trăm không bốn đồng), trong đó: nợ gốc là 2.609.141.248 đồng, nợ lãi là 584.686.100 đồng, nợ lãi quá hạn là 318.671.365 đồng. Ngoài ra, Công ty TNHH V1 còn phải tiếp tục trả lãi trên số tiền nợ gốc chậm trả theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng hạn mức, giấy nhận nợ đã ký kết kể từ ngày 31/7/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản vay.
- Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, nếu Công ty TNHH V1 không trả được toàn bộ số nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền đề nghị cơ quan thi hành án có thẩm quyền tiến hành kê biên, phát mãi tài sản đảm bảo khoản vay là Nhà ở và QSDĐ theo Giấy chứng nhận QSDĐ, QSH nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CA 481823 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Đ cấp ngày 15/06/2015, số vào sổ cấp GCN: CTs 67525 theo Hợp đồng thế chấp số 30.10/2021/BĐ ngày 04/11/2021 và Phụ lục kèm theo giữa ông Nguyễn Văn H1 và Ngân hàng TMCP H2 - Chi nhánh Đ để thu hồi nợ cho M.
Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng bổ sung yêu cầu khởi kiện: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên buộc Công ty V1 trả số tiền tạm tính đến ngày 30/7/2024 là 3.512.499.004 đồng (Ba tỷ năm trăm mười hai triệu bốn trăm chín mươi chín ngàn không trăm không bốn đồng), trong đó: nợ gốc là 2.609.141.248 đồng, nợ lãi là 584.686.100 đồng, nợ lãi quá hạn là 318.671.365 đồng. Các nội dung khác vẫn giữ nguyên theo đơn khởi kiện.
* Bị đơn Công ty TNHH V1 và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng như Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo phiên họp tiếp cận, giao nộp, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo hoãn phiên họp tiếp cận, giao nộp, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên toà nhưng vẫn vắng mặt không có lý do và không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều đúng pháp luật. Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các điều 466 và 468 Bộ luật Dân sự, Điều 91 luật các tổ chức tín dụng: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải trả toàn bộ số tiền nợ gốc và lãi tính tạm tính đến ngày 30/7/2024 là 3.512.499.004 đồng (Ba tỷ năm trăm mười hai triệu bốn trăm chín mươi chín ngàn không trăm không bốn đồng), trong đó: nợ gốc là 2.609.141.248 đồng, nợ lãi là 584.686.100 đồng, nợ lãi quá hạn là 318.671.365 đồng và tiếp tục trả lãi theo Hợp đồng tín dụng hạn mức số 30.10/2021/HĐTD ngày 04/11/2021 và 02 Phụ lục kèm theo kể từ ngày 01/8/2024 cho đến ngày thanh toán dứt nợ cho Ngân hàng.
Trường hợp Công ty TNHH V1 không trả được nợ hoặc trả không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì xử lý phát mãi tài sản thế chấp là Nhà ở và QSDĐ theo Giấy chứng nhận QSDĐ, QSH nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CA 481823 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Đ cấp ngày 15/06/2015, số vào sổ cấp GCN: CTs 67525 theo Hợp đồng thế chấp số 30.10/2021/BĐ ngày 04/11/2021 và Phụ lục kèm theo giữa ông Nguyễn Văn H1 và Ngân hàng TMCP H2 - Chi nhánh Đ để thu hồi nợ cho MSB theo quy định tại Điều 323 Bộ luật dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Căn cứ nội dung khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP H2 yêu cầu Công ty TNHH V1 trả nợ theo Hợp đồng tín dụng theo hạn mức mà các bên đã ký kết, Công ty TNHH V1 có trụ sở tại quận L nên vụ án tranh chấp Hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng TMCP H2 với Công ty TNHH V1 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải: Tòa án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho đương sự vắng mặt theo quy định tại Điều 208, 209, 210, 211 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn Công ty TNHH V1 và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn H1, bà Nguyễn Thị C và ông Nguyễn Văn C1 để tham gia phiên tòa nhưng đến nay bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt không rõ lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vắng mặt bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Xét “Hợp đồng tín dụng hạn mức số 30.10/2021/HĐTD ngày 04/11/2021 và Phụ lục kèm theo như Phụ lục số 01 ngày 04/11/2021; Phụ lục số 02 ngày 25/11/2021 và Phụ lục số 03 bổ sung theo HĐ tín dụng hạn mức, được giao kết giữa Ngân hàng TMCP H2 với Công ty V1 đã thể hiện ý chí tự nguyện thỏa thuận giữa hai bên và tuân thủ quy định về hình thức của hợp đồng. Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn Công ty V1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do, không cung cấp chứng cứ. Xét thấy, Công ty V1 đã nhận nợ theo Khế ước nhận nợ lần 01 – số 06082010451382 ngày 06/7/2022; Khế ước nhận nợ lần 02 ngày 20/7/2022 và Khế ước nhận nợ số 03 ngày 02/8/2022. Xét thấy, Công ty V1 đã vi phạm nghĩa vụ của bên vay tài sản về thời hạn thanh toán nợ được quy định tại Hợp đồng tín dụng, Khế ước nhận nợ. Nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 466 Bộ luật dân sự và khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP H2, buộc Công ty V1 phải thanh toán toàn bộ số tiền nợ tạm tính đến ngày 30/7/2024 là 3.512.499.004 đồng (Ba tỷ năm trăm mười hai triệu bốn trăm chín mươi chín ngàn không trăm không bốn đồng), trong đó: nợ gốc là 2.609.141.248 đồng, nợ lãi là 584.686.100 đồng, nợ lãi quá hạn là 318.671.365 đồng là đúng quy định của pháp luật, trong đó:
Khoản vay theo hạn mức: Nợ gốc 2.270.000.000 đồng; Nợ lãi 558.161.921 đồng; Lãi quá hạn 239.736.429 đồng; Tổng cộng là: 3.067.898.350 đồng;
K vay thấu chi 339.141.248 đồng; Nợ lãi 26.524.179 đồng; Nợ lãi quá hạn: 78.935.226 đồng; Tổng cộng là 444.600.654 đồng.
Lãi tiếp tục được tính từ ngày 31/7/2024 theo mức lãi suất do Ngân hàng H2 và Công ty V1 đã thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng hạn mức số 30.10/2021/HĐTD ngày 04/11/2021 và Phụ lục kèm theo trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán cho đến khi trả hết nợ.
[2.2] Xét yêu cầu của Ngân hàng TMCP H2 về việc phát mãi tài sản thế chấp đứng tên ông Nguyễn Văn H1 để thu hồi nợ trong trường hợp Công ty V1 không trả được nợ, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hợp đồng thế chấp số 30.10/2021/BĐ ngày 04/11/2021 đã được Công chứng tại Văn phòng C2 TP Đà Nẵng và đã được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đại tại quận L theo quy định tại Điều 323 Bộ luật dân sự nên có giá trị pháp lý. Do đó, trường hợp Công ty V1 không trả được nợ hoặc trả không đầy đủ cho Ngân hàng thì tài sản thế chấp Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền trên đất tại thửa đất số 75, tờ bản đồ số 193; có diện tích là 461,2m² (trong đó phần diện tích đất ảnh hưởng quy hoạch là 27,3m²); trên đất có nhà ở riêng lẻ với diện tích xây dựng 56,9m²; diện tích sàn 56,9m² theo Giấy chứng nhận QSDĐ, QSH nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CA 481823 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Đ cấp ngày 15/06/2015, số vào sổ cấp GCN: CTs 67525 theo Hợp đồng thế chấp số 30.10/2021/BĐ ngày 04/11/2021 và Phụ lục kèm theo giữa ông Nguyễn Văn H1 và Ngân hàng TMCP H2 sẽ bị phát mãi để thu hồi nợ cho Ngân hàng.
[2.3] Đối với ông Nguyễn Văn H1, bà Nguyễn Thị C và ông Nguyễn Văn C1 là những người hiện tại đang sinh sống trên nhà đất nếu có tranh chấp với Công ty TNHH V1 thì có thể khởi kiện một vụ án dân sự độc lập khi có yêu cầu là phù hợp và vẫn đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự, Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Theo quy định của Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị đơn Công ty TNHH V1 phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 102.249.980 đồng (Một trăm lẻ hai triệu hai trăm bốn mươi ngàn chín trăm tám mươi đồng).
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Điều 26, 35, 39, 63, 144, 147, khoản 2 Điều 227, 228, 235, 238, 266, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 299, 323, 463 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự;
Căn cứ khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP H2 đối với Công ty TNHH V1.
Xử:
- Buộc Công ty TNHH V1 có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP H2 số tiền tạm tính đến ngày 30/7/2024 là 3.512.499.004 đồng (Ba tỷ năm trăm mười hai triệu bốn trăm chín mươi chín ngàn không trăm không bốn đồng), trong đó: nợ gốc là 2.609.141.248 đồng, nợ lãi là 584.686.100 đồng, nợ lãi quá hạn là 318.671.365 đồng, trong đó:
- Khoản vay theo hạn mức: Nợ gốc 2.270.000.000 đồng; Nợ lãi 558.161.921 đồng; Lãi quá hạn 239.736.429 đồng; Tổng cộng là: 3.067.898.350 đồng;
- K vay thấu chi: Nợ gốc 339.141.248 đồng; Nợ lãi 26.524.179 đồng; Nợ lãi quá hạn: 78.935.226 đồng; Tổng cộng là 444.600.654 đồng.
Ngoài ra, Công ty TNHH V1 còn phải tiếp tục trả lãi trên số tiền nợ gốc chậm trả theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng hạn mức, giấy nhận nợ đã ký kết kể từ ngày 31/7/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản vay.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, nếu Công ty TNHH V1 không trả được toàn bộ số nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền đề nghị cơ quan thi hành án có thẩm quyền tiến hành kê biên, phát mãi tài sản đảm bảo khoản vay là Nhà ở và QSDĐ tại thửa đất số 75, tờ bản đồ số 193; có diện tích là 461,2m² (trong đó phần diện tích đất ảnh hưởng quy hoạch là 27,3m²) tại Tổ E, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng; trên đất có nhà ở riêng lẻ với diện tích xây dựng 56,9m²; diện tích sàn 56,9m² theo Giấy chứng nhận QSDĐ, QSH nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CA 481823 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Đ cấp ngày 15/06/2015, số vào sổ cấp GCN: CTs 67525 theo Hợp đồng thế chấp số 30.10/2021/BĐ ngày 04/11/2021 và Phụ lục kèm theo giữa ông Nguyễn Văn H1 và Ngân hàng TMCP H2 sẽ bị phát mãi để thu hồi nợ cho Ngân hàng.
Trường hợp Công ty TNHH V1 thanh toán xong các khoản nợ thì Ngân hàng TMCP H2 phải trả lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CA 481823 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Đ cấp ngày 15/06/2015 đứng tên ông Nguyễn Văn H1.
- Về án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm:
Công ty TNHH V1 phải chịu là: 102.249.980 đồng (Một trăm lẻ hai triệu hai trăm bốn mươi ngàn chín trăm tám mươi đồng).
Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP H2 số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là: 47.165.848 đồng (Bốn mươi bảy triệu một trăm sáu mươi lăm ngàn tám trăm bốn mươi tám đồng) theo biên lai thu số 0000343 ngày 03 tháng 01 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên toà biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn, người có quyền và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Nguyễn Thi Thi |
Bản án số 07/2024/KDTM - ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU - TP ĐÀ NẴNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 07/2024/KDTM - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU - TP ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP H - Công ty TNHH Nam Nhật A
