Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2024/DS-ST

Ngày: 03/6/2024

V/v : “Tranh chấp hợp đồng mua bán

hàng hóa”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Việt Hùng;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Văn Bê và Ông Nguyễn Hoàng Tâm;

-Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Hải Yến - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang: Bà Hà Thị Hải– Kiểm sát viên trung cấp.

Trong ngày 03/6/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 34/2023/TB-TLVA ngày 16/10/2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 13/2024/QĐXXST-DS ngày 02/5/2024 giữa các đương sự:

  • * Nguyên đơn: Bà Vũ Thị B, sinh năm 1962 (có mặt)
  • Địa chỉ: Thôn B, xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang.
  • * Bị đơn:
  • Anh Chu Văn C – sinh năm 1981 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
  • Nơi đăng ký HKTT: xóm C, xã L, huyện H, tỉnh Bắc Giang
  • (Hiện đang sinh sống ở Hàn Quốc).
  • * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
  • - Ông Nguyễn Văn C1 – sinh năm 1960 (có mặt)
  • Địa chỉ: thôn B, xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang.
  • Đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn C1: Bà Vũ Thị B (bà B có mặt)
  • - Chị Chu Thị N – sinh năm 1984 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
  • Địa chỉ: thôn Đ, xã L, huyện H, tỉnh Bắc Giang.
  • - Anh Nguyễn Văn T – sinh năm 1987 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
  • Địa chỉ: thôn B, xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn bà Vũ Thị B trình bày:

Bà và anh Vũ Văn C2 có mối quan hệ làm ăn, anh C2 mua cám của bà từ năm 2016 để chăn nuôi lợn. Trước đây anh C2 thanh toán sòng phẳng, từ năm 2017 anh C2 mua cám nhưng không trả tiền cho bà nên ngày 22/4/2017 (tức ngày 17/5/2017 dương lịch) hai bên có chốt nợ, theo đó anh C2 còn nợ số tiền cám là 264.000.000đ, bà bớt cho 4.000.000đ nên anh C2 còn nợ bà 260.000.000đ tiền gốc. Khi 2 bên chốt nợ thì chưa thỏa thuận thời hạn anh C2 phải trả hết tiền cho bà. Anh C2 chỉ nói là sẽ thu xếp trả trong ngày gần nhất. Sau đó anh C2 đi làm thợ xây ngoài Hà Nội và đi nước ngoài, mọi giao dịch sau đó anh C2 đều nhờ em gái là Chu Thị N đến nhà trả tiền cho bà. Chị N đã trả tiền cho bà cụ thể như sau:

  • + Ngày 08/6/2017 âm lịch (tức ngày 30/7/2017 dương lịch): trả 50.000.000₫ (trong đó 7.150.000đ tiền lãi từ ngày 22/4/2017 đến 08/6/2017 x 1,1%/tháng x 2,5 tháng = 7.150.000đ. Tiền gốc còn lại tính từ 08/6/2017 âm lịch là 217.150.000đ.
  • + Ngày 27/7/2017 âm lịch (tức ngày 17/9/2017 dương lịch) trả 5.000.000₫
  • + Ngày 09/8/2017 âm lịch (tức ngày 27/9/2017 dương lịch) trả 5.000.000₫
  • + Ngày 30/12/2017 âm lịch (tức ngày 15/02/2018 dương lịch) trả 15.000.000đ.
  • + Ngày 28/5/2018 âm lịch (tài liệu chị N cung cấp là ngày 26/5/2018 âm lịch tức ngày 09/7/2018 dương lịch) trả 5.000.000₫
  • + Tháng 9/2018 âm lịch (tài liệu chị N cung cấp là ngày 23/9/2018 âm lịch- tức ngày 31/10/2018 dương lịch) trả 10.000.000₫
  • + Tháng 12/2018 âm lịch (tài liệu chị N cung cấp là ngày 21/12/2018 âm lịch- tức ngày 26/01/2019 dương lịch) trả 10.000.000₫
  • + Ngày 08/4/2019 âm lịch (tức ngày 12/5/2019 dương lịch) trả 10.000.000₫
  • + Ngày 29/11/2019 âm lịch (tức ngày 24/12/2019 dương lịch) trả 10.000.000₫
  • + Ngày 04/5/2020 âm lịch (tức ngày 24/6/2020 dương lịch) trả 15.000.000₫
  • + Ngày 22/12/2020 âm lịch (tức ngày 03/02/2021 dương lịch) trả 10.000.000₫
  • + Ngày 05/7/2021 âm lịch (tài liệu chị N cung cấp là ngày 03/7/2021 âm lịch- tức ngày 10/8/2021 dương lịch) trả 7.000.000₫
  • + Ngày 05/4/2022 âm lịch (tức ngày 05/5/2022 dương lịch) trả 13.000.000₫
  • + Ngày 07/7/2022 âm lịch (tức ngày 04/8/2022 dương lịch) trả 10.000.000₫

Từ ngày 27/7/2017 âm lịch đến ngày 07/7/2022 âm lịch tổng trả được 125.000.000đ. Sau ngày 07/7/2022 thì anh C2 không trả bà đồng nào nữa.

Số tiền trên là trả vào tiền lãi, nhưng vẫn còn thiếu số tiền 18.280.000₫ vì 217.150.000₫ x 1,1%/tháng x 60 tháng (tính từ 27/7/2017 âm lịch đến ngày 07/7/2022 âm lịch) = 143.280.000đ.

Nay bà yêu cầu anh C2 trả bà số tiền gốc là 217.150.000đ, tiền lãi nợ từ 27/7/2017 âm lịch đến ngày 07/7/2022 âm lịch là 18.280.000đ, yêu cầu trả lãi của số tiền gốc 217.150.000đ từ ngày 07/7/2022 âm lịch (tức 04/8/2022 dương lịch) đến ngày xét xử sơ thẩm với lãi suất là 1,1%/tháng.

Tại Biên bản lấy lời khai ngày 02/5/2024, bị đơn anh Chu Văn C trình bày:

Anh và bà Vũ Thị B có mối quan hệ làm ăn, anh mua cám của bà từ năm 2016 để chăn nuôi lợn. Anh xác nhận có việc chốt nợ tiền cám với bà B ngày 22/4/2017 (tức ngày 17/5/2017 dương lịch) với số tiền 260.000.000đ, lãi suất thỏa thuận 1,1%/tháng là đúng. Chữ viết “Chính” và chữ ký “Chu Văn C” là của anh. Sau ngày chốt nợ anh đi nước ngoài và đã gửi tiền về nhờ em gái là Chu Thị N thanh toán được cho bà B tổng 14 lần với số tiền tính đến ngày 07/7/2022 âm lịch (tức ngày 04/8/2022 dương lịch) là 180.000.000đ, anh xác định toàn bộ số tiền này anh trả vào số tiền gốc, nay anh xác định còn nợ lại bà B 80.000.000đ tiền gốc. Về tiền lãi anh không đồng ý trả bà B.

Do anh hiện đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài nên anh đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt anh.

Tại Bản tự khai, Biên bản lấy lời khai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Chu Thị N trình bày:

Chị là em gái anh Chu Văn C, năm 2016 anh C có làm ăn thua lỗ nên đã nợ tiền cám của bà B 260.000.000đ và hứa sẽ trả dần, ngày 27/7/2017 bà B có viết giấy nợ cho anh C và yêu cầu anh C trả lãi 1,1%. Do sự thúc ép của bà B và vợ bỏ đi nên anh C đã ký vào giấy viết nợ của bà B. Sau khi chốt nợ anh C đã đi nước ngoài nhưng vẫn có trách nhiệm trả nợ cho bà B, anh C đã gửi tiền về cho chị để trả nợ cho bà B, cụ thể các lần trả nợ như bà B trình bày. Ngoài ra chị N cung cấp tài liệu các lần trả nợ còn có ngày 22/12/2021 âm lịch (tức ngày 24/01/2022) anh C trả 5.000.000đ do anh T ký nhận tiền.

Vào cuối năm 2022 và tết năm 2023 anh C có gọi bà B xuống trả nốt số tiền 80.000.000đ nhưng bà Bầu K đồng ý mà đòi hơn 200.000.000đ nên anh C không trả nữa. Chị đồng ý với ý kiến của anh Chu Văn C. Do chị có con nhỏ, bận công việc nên chị đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn C1 trình bày:

Ông là chồng của bà B, việc mua bán chốt nợ cám với anh Chu Văn C thì ông không biết, tuy nhiên tiền chốt nợ là của vợ chồng ông, ông đồng ý với lời khai của bà B. Ông xin vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, ông đồng ý ủy quyền cho bà B được thay mặt ông tham gia tố tụng tại Tòa án kể từ khi thụ lý đến khi kết thúc vụ án.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn T trình bày:

Anh là con trai của bà B, anh có khoảng 5 lần nhận tiền mua bán cám của anh C trả, anh chỉ nhận tiền hộ mẹ anh, anh công nhận những chữ ký trong giấy thanh toán do chị N cung cấp là chữ ký của anh. Anh đồng ý với ý kiến của bà B, không đồng ý với ý kiến của anh Chu Văn C và chị Chu Thị N.

Quá trình tiến hành tố tụng, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã tiến hành lấy lời khai của các đương sự trong vụ án liên quan đến quá trình mua bán cám, nhận nợ và thanh toán nợ.

Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã tiến hành hòa giải giữa các đương sự nhưng không thành.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn bà Vũ Thị B thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện là đề nghị Tòa án giải quyết buộc anh Chu Văn C phải thanh toán cho bà tiền gốc mua bán cám còn nợ là 80 triệu đồng và tiền lãi theo thỏa thuận 1,1%/tháng tính từ ngày chốt nợ 22/4/2017 (tức ngày 17/5/2017 dương lịch) đến ngày xét xử sơ thẩm. Bà B đồng ý toàn bộ số tiền mà anh C nhờ em gái là chị N trả hộ được trừ vào tiền gốc và sau mỗi lần thanh toán thì số tiền lãi sẽ được tính theo thỏa thuận (1,1%/tháng) dựa trên dư nợ gốc còn lại.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu ý kiến:

  • - Về chấp hành pháp luật tố tụng của Tòa án: Thẩm phán đã thực hiện đúng, đầy đủ các trình tự thủ tục tố tụng theo quy định Bộ L. Thụ lý giải quyết vụ án đúng thẩm quyền; tòa án xác định quan hệ tranh trấp là “Hợp đồng mua bán tài sản” là đảm bảo đúng quy định tại khoản 3 Điều 26 BLTTDS; xác định đúng, đủ người tham gia tố tụng; thu thập đầy đủ tài liệu chứng cứ liên quan đến việc giải quyết vụ án; đã thực hiện các thủ tục mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, hòa giải; ra quyết định đưa vụ án ra xét xử và tiến hành các thủ tục tố tụng khác đảm bảo theo quy định tại Điều 203 BLTTDS.
  • - Về chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng quy định tại Điều 70, 71, 72, 73 Bộ LTTDS.
  • - Về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX xử, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị B, buộc anh Chu Văn C phải trả cho bà Vũ Thị B số tiền gốc là 80.000.000 đồng, tiền lãi đến ngày xét xử sơ thẩm là 125.969.300 đồng. Tổng cộng tiền gốc và lãi là 205.969.300 đồng.
  • - Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Chu Văn C phải chịu 10.298.400 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn là bà Vũ Thị B1 kiện yêu cầu Tòa án giải quyết yêu cầu buộc anh Chu Văn C phải trả tiền gốc mua bán cám còn nợ là 80 triệu đồng và tiền lãi theo thỏa thuận 1,1%/tháng tính từ ngày chốt nợ 22/4/2017 (tức ngày 17/5/2017 dương lịch) đến ngày xét xử sơ thẩm. Bị đơn anh Chu Văn C hiện đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài. Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xác định đây là quan hệ tranh chấp mua bán hàng hóa. Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
  2. Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Bị đơn là anh Chu Văn C và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Chu Thị N đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn C1 đã có Giấy ủy quyền cho bà Vũ Thị B được thay mặt ông tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý cho đến khi kết thúc vụ án. Việc vắng mặt của những người này không làm ảnh hưởng đến việc xét xử. Do đó, HĐXX căn cứ vào khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 477 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục vắng mặt các đương sự.
  3. Xét nội dung tranh chấp, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Vũ Thị B: Bà yêu cầu bị đơn anh C1 phải trả tiền gốc mua bán cám còn nợ là 80 triệu đồng và tiền lãi theo thỏa thuận 1,1%/tháng tính từ ngày chốt nợ 22/4/2017 (tức ngày 17/5/2017 dương lịch) đến ngày xét xử sơ thẩm. Bà B đồng ý toàn bộ số tiền mà anh C1 nhờ em gái là chị N trả hộ được trừ vào tiền gốc và sau mỗi lần thanh toán thì số tiền lãi sẽ được tính theo thỏa thuận (1,1%/tháng) dựa trên dư nợ gốc còn lại.
    1. Đối với số tiền nợ gốc:

      Căn cứ lời trình bày của các đương sự, tài liệu do bà B cung cấp là giấy chốt nợ tiền cám giữa bà B và anh C1 ngày 22/4/2017 (tức ngày 17/5/2017 dương lịch) thì có căn cứ xác định anh C1 còn nợ bà B tiền cám tính đến ngày 17/5/2017 là 260.000.000đồng, tại giấy chốt nợ 2 bên thỏa thuận lãi suất là 1,1%/tháng. Đến ngày 30/7/2017 anh C1 trả cho bà B 50.000.000đồng, còn nợ lại 210.000.000đồng tiền gốc.

      Trong giấy chốt nợ có ghi “hẹn trả 1 năm sau trả hết không tính lãi, trả dần một năm sau trả hết vào ngày 22/4/2018 âm lịch”, như vậy xác định hai bên thỏa thuận như sau nếu anh C1 trả hết số tiền gốc 210.000.000 đồng trong vòng 1 năm thì bà B sẽ không tính lãi, tuy nhiên đến ngày 22/4/2018 anh C1 vẫn chưa trả hết toàn bộ số nợ cho bà B nên cần xác định khoản nợ gốc còn lại là có tính lãi như hai bên thỏa thuận là 1,1%/tháng.

      Căn cứ bảng kê do bà B ghi vào sổ theo dõi của mình và tài liệu là giấy ký nhận tiền của bà B và anh T (con trai bà B) do chị N cung cấp cho Tòa án thì có căn cứ xác định từng lần anh C1 trả nợ cho bà B vào các ngày dương lịch tiếp theo cụ thể như sau:

      • + Ngày 30/7/2017 trả 50.000.000₫
      • + Ngày 17/9/2017 trả 5.000.000₫
      • + Ngày 27/9/2017 trả 5.000.000₫
      • + Ngày 15/02/2018 trả 15.000.000đ.
      • + Ngày 09/7/2018 trả 5.000.000₫
      • + Ngày 31/10/2018 trả 10.000.000₫
      • + Ngày 26/01/2019 trả 10.000.000₫
      • + Ngày 11/5/2019 trả 10.000.000₫
      • + Ngày 24/12/2019 trả 10.000.000₫
      • + Ngày 24/6/2020 trả 15.000.000₫
      • + Ngày 03/02/2021 trả 10.000.000₫
      • + Ngày 10/8/2021 trả 7.000.000₫
      • + Ngày 24/01/2022 trả 5.000.000₫
      • + Ngày 05/5/2022 trả 13.000.000₫
      • + Ngày ngày 04/8/2022 trả 10.000.000₫

      Tổng cộng đã trả là 180.000.000đồng .

      Căn cứ vào các giấy ký nhận trả tiền nêu trên, HĐXX xét thấy mặc dù trong nội dung các lần trả tiền phía bị đơn đều không ghi là trả vào gốc hay là trả vào lãi, tuy nhiên trong quá trình hòa giải tại Tòa án, anh C1 và chị N xác định những lần trả tiền trên cho bà B là trả vào số tiền nợ gốc. Tại phiên tòa phía bà B cũng đồng ý các lần trả nợ nêu trên được trừ vào tiền nợ gốc nên cần xác định các khoản tiền chị N thay mặt anh C1 đã trả cho bà B là trả vào tiền gốc mới đảm bảo quyền lợi cho đương sự. Như vậy số tiền nợ gốc anh C1 đã trả bà B tính đến ngày 04/8/2022 là 180.000.000 đồng, còn lại số tiền nợ gốc chưa trả là 80.000.000đồng. Tại phiên tòa bà B chỉ yêu cầu anh C1 phải thanh toán số tiền nợ gốc mua bán cám là 80.000.000 đồng.

      Từ những chứng cứ như trên, căn cứ Điều 430, 434, 440 Bộ luật dân sự 2015 và khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà B, buộc anh Chu Văn C phải thanh toán cho bà B số tiền gốc mua bán cám còn nợ là 80.000.000đồng.

    2. Đối với số tiền lãi:

      Nguyên đơn bà B yêu cầu anh C phải thanh toán số tiền lãi theo thỏa thuận đã ký kết trong giấy nhận nợ kể từ ngày 22/4/2017 (tức ngày 17/5/2017 dương lịch) cho đến ngày xét xử sơ thẩm. Quá trình giải quyết vụ án, anh Chu Văn C không đồng ý trả lãi theo yêu cầu của bà B vì anh C cho rằng trong mỗi bao cám nợ lại đã bao gồm cả tiền lãi trong đó. Tuy nhiên, tại giấy nhận nợ ngày 22/4/2017 (tức ngày 17/5/2017 dương lịch) thì giữa anh C và bà B đã chốt lại số tiền gốc và tiền lãi thỏa thuận là 1,1%/tháng/số tiền gốc. Xét thấy, việc thỏa thuận lãi giữa bà B và anh C là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội. Do vậy, ý kiến của anh C về việc không đồng ý trả lãi là không có căn cứ nên không được chấp nhận, cần chấp nhận yêu cầu tính lãi suất của bà B.

      Căn cứ việc trả gốc nêu trên, HĐXX xét thấy khoản tiền lãi anh C phải trả bà B được tính với lãi suất 1,1%/tháng, cụ thể như sau:

      • + Lãi của số tiền gốc 260.000.000đ tính từ 17/5/2017 đến ngày 30/7/2017 là 2 tháng 13 ngày: (2 tháng x 2.860.000đ) + 13 ngày x 95.300đ/ngày = 6.958.900đ.
      • + Lãi của số tiền gốc 210.000.000đ tính từ 31/7/2017 đến ngày 17/9/2017 là 1 tháng 18 ngày: (1 tháng x 2.310.000đ) + 18 ngày x 77.000đ/ngày = 3.696.000đ.
      • + Lãi của số tiền gốc 205.000.000đ tính từ 18/9/2017 đến ngày 27/9/2017 là 10 ngày: 10 ngày x 75.200đ/ngày = 752.000đ.
      • + Lãi của số tiền gốc 200.000.000đ tính từ 28/9/2017 đến ngày 15/02/2018 là 4 tháng 18 ngày: (4 tháng x 2.200.000đ) + 18 ngày x 73.300đ/ngày = 10.119.400đ.
      • + Lãi của số tiền gốc 185.000.000đ tính từ 16/02/2018 đến ngày 09/7/2018 là 4 tháng 23 ngày: (4 tháng x 2.035.000đ) + 23 ngày x 67.800đ/ngày = 9.699.400đ.
      • + Lãi của số tiền 180.000.000đ tính từ 10/7/2018 đến ngày 31/10/2018 là 3 tháng 21 ngày: (4 tháng x 1.980.000₫) + 21 ngày x 66.000đ/ngày = 9.306.000₫
      • + Lãi của số tiền gốc 170.000.000đ tính từ 01/11/2018 đến ngày 26/01/2019 là 2 tháng 25 ngày: (2 tháng x 1.870.000đ) + 25 ngày x 62.300đ/ngày = 5.297.500₫
      • + Lãi của số tiền gốc 160.000.000đ tính từ 27/01/2019 đến ngày 11/5/2019 là 3 tháng 14 ngày: (3 tháng x 1.760.000₫) + 14 ngày x 58.700đ/ngày = 6.101.800₫
      • + Lãi của số tiền gốc 150.000.000đ tính từ 12/5/2019 đến ngày 24/12/2019 là 7 tháng 12 ngày: (7 tháng x 1.650.000₫) + 12 ngày x 55.000đ/ngày = 12.210.000₫
      • + Lãi của số tiền gốc 135.000.000đ tính từ 25/12/2019 đến ngày 24/6/2020 là 6 tháng: 6 tháng x 1.485.000₫ = 8.910.000₫
      • + Lãi của số tiền gốc 125.000.000đ tính từ 25/6/2019 đến ngày 03/02/2021 là 7 tháng 9 ngày: (7 tháng x 1.375.000đ) + 9 ngày x 45.800đ/ngày = 10.037.200₫
      • + Lãi của số tiền gốc 118.000.000đ tính từ 04/02/2021 đến ngày 10/8/2021 là 6 tháng 4 ngày: (6 tháng x 1.298.000đ) + 4 ngày x 43.300đ/ngày = 7.961.200₫
      • + Lãi của số tiền gốc 113.000.000đ tính từ 11/8/2021 đến ngày 24/01/2022 là 5 tháng 13 ngày: (6 tháng x 1.243.000đ) + 13 ngày x 41.400đ/ngày = 7.996.200₫
      • + Lãi của số tiền gốc 100.000.000đ tính từ 25/01/2022 đến ngày 05/5/2022 là 3 tháng 10 ngày: (3 tháng x 1.100.000₫) + 10 ngày x 36.700đ/ngày = 3.667.000₫
      • + Lãi của số tiền gốc 90.000.000đ tính từ 06/5/2022 đến ngày 04/8/2022 là 3 tháng 29 ngày: (3 tháng x 990.000đ) + 29 ngày x 33.000đ/ngày = 3.927.000₫
      • + Lãi của số tiền gốc 80.000.000đ tính từ 05/8/2022 đến ngày 03/6/2024 là 1 năm 9 tháng 29 ngày: (21 tháng x 880.000₫) + 29 ngày x 29.300đ/ngày = 19.329.700₫

      Tổng cộng tiền lãi anh C có nghĩa vụ thanh toán cho bà B là: 125.969.300đồng.

    3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

      Do yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị B là có căn cứ và được chấp nhận toàn bộ nên căn cứ khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, Khoản 1 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị đơn anh Chu Văn C phải chịu 10.298.400đồng án phí dân sự sơ thẩm.

    4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271; Điều 273; khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 430, 434, 440, 468 Bộ luật dân sự 2015; Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 280, khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1Điều 26 và Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Vũ Thị B, buộc bị đơn anh Chu Văn C phải thanh toán cho bà B số tiền gốc mua bán cám còn nợ là 80.000.000 đồng (bằng chữ: T1 mươi triệu đồng chẵn) và tiền lãi là 125.969.300đồng (bằng chữ: Một trăm hai mươi lăm triệu chín trăm sáu mươi chín nghìn ba trăm đồng). Tổng cả gốc và lãi là 205.969.300 đồng (bằng chữ: Hai trăm linh năm triệu chín trăm sáu mươi chín nghìn ba trăm đồng).
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm:Anh Chu Văn C phải chịu 10.298.400đồng án phí dân sự sơ thẩm.
  3. Về quyền kháng cáo:
    • - Đương sự cư trú tại Việt Nam có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
    • - Đương sự cư trú tại Việt Nam vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
    • - Đương sự cư trú tại nước ngoài vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người yêu cầu thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án không thi hành hoặc thi hành án chưa xong thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi suất của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chưa thanh toán.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - Cổng thông tin điện tử;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Cục THADS tỉnh Bắc Giang;
  • - Các đương sự, người tham gia tố tụng;
  • - Lưu Hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Việt Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2024/DS-ST ngày 03/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa

  • Số bản án: 07/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger