Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHƯ PƯH

TỈNH GIA LAI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2024/HNGĐ – ST

Ngày: 26/4/2024

“V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn.”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ PƯH TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Nam Anh Chinh.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Chu Xuân Toàn.
  2. Bà Nguyễn Thị Mừng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Bình – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Minh Trí – Kiểm sát viên.

Trong ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 150/2023/TLST HNGĐ, ngày 11 tháng 12 năm 2023 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2024/QĐXXST – HNGĐ, ngày 20 tháng 3 năm 2024 ; Quyết định hoãn phiên tòa số 12/2024/QÐST – HNGĐ, ngày 10/4/2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Bùi Thị H, sinh năm 1990.
    Địa chỉ: C T, tổ A, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
  2. Bị đơn: Anh Dương Công V, sinh năm 1992.
    Địa chỉ: Thôn P, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải cũng như tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn chị Bùi Thị H trình bày:

- Về hôn nhân: Tôi và anh Dương Công V qua thời gian tìm hiểu, sau đó đi đến kết hôn với nhau vào ngày 20/01/2022, tại Ủy ban nhân dân xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai. Thời gian đầu chúng tôi sống có hạnh hạnh phúc. Nhưng sau một thời gian chúng tôi thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, do tính tình và quan điểm sống không hợp nhau, vợ chồng thường xuyên cãi vã, hiện tôi và anh V đã sống ly thân hơn một năm nay. Nay tôi thấy cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu được ly hôn với anh Dương Công V.

- Về con chung: Chúng tôi có 01 con chung là Dương Tuệ N, sinh ngày 08/9/2021 (Nữ). Sau khi ly hôn tôi yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu N; tôi không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con chung cùng tôi; tôi thấy công việc làm đủ thu nhập nuôi con nên không yêu cầu cấp dưỡng từ anh V.

- Về tài sản chung vợ chồng: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Dương Công V: Từ khi thụ lý vụ án cho đến nay, Toà án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh V đều vắng mặt không có lý do; anh V không trình bày ý kiến, không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì liên quan đến yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn để Hội đồng xét xử xem xét, giải quyết.

Trong vụ án này, nguyên đơn đã giao nộp chứng cứ gồm:

- 01 phiếu gửi đơn, 01 Giấy kết hôn, 01 Giấy khai sinh (Bản sao), 01 Giấy CMND (Bản phô tô), 01 Xác nhận nơi cư trú.

Các tình tiết mà các bên đã thống nhất: Không.

Các tình tiết mà các bên không thống nhất. Bị đơn không có mặt trong quá trình giải quyết vụ án.

* Ý kiến và đề nghị của Viện kiểm sát.

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án về cơ bản là đúng pháp luật. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do chính đáng, đề nghị HĐXX căn cứ Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.

Về hôn nhân: Căn cứ theo khoản 1 Điều 56 Luật HNGĐ đề nghị HĐXX xử cho chị Bùi Thị H được ly hôn với anh Dương Công V.

Về con chung: Anh chị có 01 người con chung là Dương Tuệ N, sinh ngày 08/9/2021 (Nữ). Hiện tại cháu đang ở với chị H và được chăm sóc, nuôi dưỡng tốt mặc dù không có sự cấp dưỡng của anh V; Xét chị H có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung là phù hợp, bởi cháu còn nhỏ, anh V hiện không có mặt tại địa

phương. Đề nghị áp dụng Điều 81, 82, 83, 84, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, xử cho chị Bùi Thị H được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu N là hợp lý; Anh V không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H.

Về án phí: Căn cứ Điều 147 BLTTDS và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH, buộc chị H phải chịu án phí DSST – HNGĐ là 300.0000 đồng.

* Đối với tài liệu, chứng cứ của vụ án: Trong vụ án này, nguyên đơn đã giao nộp chứng cứ đúng theo quy định của Pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai giải quyết “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” với bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai. Tại phiên tòa hôm nay, anh V (Bị đơn) đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định khoản 2 Điều 227; 228 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh Dương Công V.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị H và anh Dương Công V tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 20/01/2022, tại Ủy ban nhân dân xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai. Vì vậy, hôn nhân giữa chị H và anh V là hợp pháp, được pháp luật công nhận; Cuộc sống vợ chồng của chị H và anh V hạnh phúc được khoảng thời gian ngắn, sau đó vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, xô xát làm cho mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, cho dù đã được hai bên gia đình khuyên bảo nhưng vẫn không thành, dẫn đến việc chị H đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở thành phố P, tỉnh Gia Lai sinh sống và làm ăn nuôi con nhỏ hơn một năm nay, mỗi người mỗi nơi, không quan tâm chăm sóc nhau. HĐXX xét thấy, mâu thuẫn giữa chị H và anh V đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay chị H yêu cầu được ly hôn với anh V là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, cần được chấp nhận.

[2.2] Về con chung: Anh chị có người con chung là Dương Tuệ N, sinh ngày 08/9/2021 (Nữ). Hiện tại cháu đang ở với chị H và được chăm sóc, nuôi dưỡng tốt mặc dù không có sự cấp dưỡng của anh V; Xét chị H có nguyện vọng được nuôi

dưỡng con chung là phù hợp, bởi cháu còn nhỏ, anh V hiện không có mặt tại địa phương. Vì vậy, áp dụng Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, xử cho chị Bùi Thị H được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu N là hợp lý; Chị H không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.

[3.3] Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết; nên không đề cập xử lý.

[4] Về án phí sơ thẩm: Chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm để sung vào công quỹ Nhà nước theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 70; Điều 144; khoản 4 Điều 147; 264; 266; 267; 273; khoản 2 Điều 227; 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Áp dụng khoản 1 Điều 9; Điều 51; 53; 56; 58; 81; 82; 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình.

Tuyên bố: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị H.

  1. Xử cho chị Bùi Thị H được ly hôn với anh Dương Công V.
  2. Giao cháu Dương Tuệ N, sinh ngày 08/9/2021 (Nữ) cho chị Bùi Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các con thành niên hoặc đã thành niên bị tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình; Anh Dương Công V không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Bùi Thị H.

    “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.”

  3. Về tài sản chung vợ chồng: Miễn xét.
  4. Về án phí: Buộc chị Bùi Thị H phải chịu án phí DSST – Ly hôn là 300.000đ. Vì vậy, số tiền 300.000đ chị H đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng phí, lệ phí

Tòa án số 0005910, ngày 11/12/2023, của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai được chuyển thành án phí DSST – Ly hôn để sung vào công quỹ Nhà nước.

5. Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án nguyên đơn có quyền kháng cáo; bị đơn có quyền kháng cáo bản án kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ lên Tòa án Nhân dân tỉnh Gia Lai để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Pưh;
  • - THA dân sự huyện Chư Pưh;
  • - UBND xã Ia Le;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Dương Nam Anh Chinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2024/HNGĐ – ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ PƯH TỈNH GIA LAI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 07/2024/HNGĐ – ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ PƯH TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con (Hương - Vương)
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger