Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT

TỈNH BÌNH DƯƠNG

Bản án số: 07/2024/LÐ-ST

Ngày: 18/7/2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

V/v: Tranh chấp hợp đồng đào tạo

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Quý;

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hoàng Minh Tuấn- Cán bộ Liên đoàn

lao động thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương

2. Ông Đặng Minh Lý- Cán bộ hưu trí.

Thư ký ghi biên bản phiên tòa:

Ông Bùi Phương Huỳnh - Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

Trong ngày 18 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một xét xử sơ thẩm công khai vụ án lao động thụ lý số 24/2024/TLST-LĐ ngày 23 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng đào tạo”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2024/QĐXXST-DS ngày 01 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Công ty TNHH Y – Bệnh viện P; trụ sở: Số D, Đường C, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Người đại diện theo pháp luật: Bà Huỳnh Thị Kim C – Chức vụ: Giám đốc.

Những người đại diện hợp pháp của nguyên đơn:

  • + Bà Hà Thị N, sinh năm 1960; địa chỉ: Số H, đường B, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có mặt.

  • + Ông Phạm Văn H, sinh năm 1973; địa chỉ: Số F, Đường H, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có mặt.

  1. Bị đơn: Ông Lê Hà Vũ A, sinh năm 1987; địa chỉ: Số A, Đường T, Khu phố B, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại Đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa đại diện hợp pháp của nguyên đơn thống nhất trình bày:

Ngày 02/01/2015, nguyên đơn Công ty TNHH Y – Bệnh viện P và bị đơn ông Lê Hà Vũ A ký Hợp đồng lao động số 171/2015/BVPSN, loại hợp đồng không xác định thời hạn, với chức danh chuyên môn: nhân viên văn thư, lưu trữ.

Ngày 28/8/2020, nguyên đơn ký hợp đồng đào tạo dài hạn số 180/HĐ-ĐT với bị đơn với nội dung: Cử ông A đi học cao học quản trị kinh doanh tại Trường đại học T, thời gian học từ ngày 01/8/2020 đến ngày 01/8/2022, học vào thứ 7, chủ nhật hàng tuần. Trong quá trình ông A đi học, bện việc chi trả toàn bộ học phí đào tạo, sau khi hoàn thành khóa học, nghĩa vụ ông A phải làm việc cho Bệnh viện gấp 3 lần thời gian đào tạo, nếu không hoàn thành nghĩa vụ thì ông A phải bồi thường 300% chi phí đào tạo gồm chi phí học phí, tiền lương căn bản hàng tháng, tiền đóng bảo hiểm. Chi phí đào tạo cho hợp đồng trên là 55.960.000₫ (Năm mươi lăm triệu chín trăm sáu mươi nghìn đồng).

Ngày 12/8/2022, nguyên đơn và bị đơn ký Hợp đồng đào tạo ngắn hạn số 214/HĐ-ĐT, nội dung hợp đồng: Bệnh viện cử ông A học lớp quản lý bệnh viện tại Công ty cổ phần Q, từ ngày 16/8/2022 đến ngày 21/8/2022, hình thức online từ 18 giờ đến 21 giờ, bệnh viện C1 là 2.500.000 đồng. Nghĩa vụ ông A sau khi học xong phải làm việc cho Bệnh viện T1 năm. Nếu không hoàn thành nghĩa vụ thì ông A phải bồi thường 300% chi phí đào tạo. Chi phí đào tạo 2.500.000₫ (Hai triệu năm trăm nghìn đồng). Ngày 01/9/2022. Nguyên đơn bổ nhiệm ông A giữ chức vụ Phó trưởng phòng hành chính quản trị và nâng bậc lương.

Ngày 14/4/2023, Nguyên đơn và bị đơn ký Hợp đồng đào tạo ngắn hạn số 74/HĐ-ĐT, ông A học lớp quản lý chất lượng bệnh viện tại Công ty cổ phần Q. Nội dung hợp đồng: Học từ ngày 19/4/2023 đến ngày 24/4/2023, hình thức online từ 18 giờ đến 21 giờ, Bệnh viện chi trả học phí 2.500.000 đồng. Sau khi hoàn thành khóa học, ông A có nghĩa vụ phải làm việc cho bệnh viện T1 là 5 năm, trường hợp không hoàn thành nghĩa vụ thì ông A phải bồi thưởng 300% chi phí đào tạo. Chi phí đào tạo cho khoá học là 2.500.000₫ (Hai triệu năm trăm nghìn đồng).

Tháng 8/2023, bị đơn xin nghỉ không lương để chữa bệnh trong 2 tháng. Ngày 10/10/2023, bị đơn làm “Đơn xin nghỉ việc" gửi Bệnh viện với lý do gia đình chuyển về quê sinh sống và điều trị thái hóa cột sống.

Sau khi xem xét nội dung đơn xin nghỉ việc, nguyên đơn đã mời bị đơn lên động viên, tạo mọi điều kiện giúp đỡ, hỗ trợ để tiếp tục công tác. Nguyên đơn đã nhiều lần gửi văn bản thông báo, phản hồi về việc bị đơn đơn phương nghỉ việc là vi phạm hợp đồng đào tạo và để tìm hướng giải quyết. Tuy nhiên, bị đơn không rút đơn và nghỉ việc.

Do bị đơn đã vi phạm thoả thuận tại các hợp đồng đào tạo nên nguyên đơn tại đơn khởi kiện yêu cầu yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau:

  • - Buộc bị đơn có trách nhiệm bồi thường cho nguyên đơn theo Hợp đồng đào tạo dài hạn số 180/HĐĐT-BVPSNBD ngày 28/08/2020 với số tiền là 146.894.958 đồng.

  • - Buộc bị đơn có trách nhiệm bồi thường cho nguyên đơn theo Hợp đồng đào tạo ngắn hạn số 214/HĐĐT-BVPSNBD ngày 12/08/2022 với số tiền là 7.500.000 đồng.

  • - Buộc bị đơn có trách nhiệm bồi thường cho nguyên đơn theo Hợp đồng đào tạo ngắn hạn số 74/HĐĐT-BVPSNBD ngày 14/04/2023 với số tiền là 7.500.000 đồng.

Tại phiên tòa những người đại diện hợp pháp của nguyên đơn rút yêu cầu bồi thường đối với các hợp đồng đào tạo ngắn hạn số 214/HĐĐT-BVPSNBD ngày 12/08/2022 và 74/HĐĐT-BVPSNBD ngày 14/04/2023. Nguyên đơn chỉ yêu cầu hoàn trả chi phí đào tạo của hai hợp đồng là 5.000.000đ (Năm triệu đồng).

Tổng số tiền bồi thường 03(ba) hợp đồng đào tạo là: 151.894.958đ (Một trăm năm mươi mốt triệu tám trăm chín mươi bốn nghìn chín trăm năm mươi tám đồng).

- Yêu cầu bị đơn phải chịu lãi suất chậm trả trên số tiền 151.894.958đ, tính từ ngày 30/11/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm (18/7/2024) tương đương mức lãi suất 10%/năm. Tương ứng với số tiền 9.620.200đ (Chín triệu sáu trăm hai mươi nghìn hai trăm đồng).

* Bị đơn tại các bản tự khai và tại phiên toà thống nhất trình bày:

Nguyên đơn làm việc cho bị đơn từ ngày 02/4/2008. Đến năm 2015 thì các bên xác lập hợp đồng lao động không xác định thời hạn. Trong quá trình làm việc, bị đơn luôn chấp hành đúng nội quy, quy định của bệnh viện, không bị kỷ luật dưới hình thức nào.

Bị đơn thừa nhận quá trình thực hiện hợp đồng lao động các bên đã ký kết và thực hiện 03 hợp đồng đào tạo như nguyên đơn đã trình bày. Việc đi học không phải do tự nguyện mà do theo chỉ tiêu của nguyên đơn, nếu không đi học sẽ bị kỷ luật. Với tâm thế là lo cho gia đình và gắn bó lâu dài nên bị đơn đã ký hợp đồng đào tạo.

Tháng 7/2023, bị đơn xin nghỉ 02 tháng không lương để điều trị bệnh thoái hóa cột sống, thoát vị đĩa đệm. Đầu tháng 10/2023, thấy tình trạng sức khỏe không thích hợp, đảm bảo chất lượng với công việc, bị đơn viết đơn xin thôi việc. Từ ngày nộp đơn, bị đơn vẫn tiếp tục làm việc đủ 45 ngày mới nghỉ việc. Bị đơn thống nhất về chi phí của 03 khoá đào tạo bệnh viện đã bỏ ra. Tuy nhiên bị đơn chỉ đồng ý bồi thường 150% đối với hợp đồng dài hạn. Đối với 02 hợp đồng ngắn hạn bị đơn không đồng ý.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn khởi kiện, bị đơn về việc bồi thường chi phí đào tạo trong quá trình thực hiện hợp đồng lao động. Tại thời điểm khởi kiện, bị đơn đang cư trú tại thành phố T, tỉnh Bình Dương. Căn cứ

vào các Điều 32, 35, 36, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

[1.3] Về sự tham gia phiên tòa của viện kiểm sát

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phiên tòa có sự tham gia của kiểm sát viên. Tuy nhiên sau đó kiểm sát viên xác định không tham gia phiên tòa vì Tòa án không tiến hành thu thập chứng cứ theo quy định tại Khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Vì vậy việc kiểm sát viên không tham gia phiên tòa là phù hợp với quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

[1.4] Việc rút một phần yêu cầu khởi kiện

Tại phiên tòa những người đại diện hợp pháp của nguyên đơn tự nguyện rút một phần yêu cầu khởi kiện là tự nguyên nên Hội đồng xét xử cần đình chỉ xét xử sơ thẩm một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[1.5] Hòa giải trong lao động

Điều 188 Bộ luật Lao động 2019có quy định “Tranh chấp lao động cá nhân phải được giải quyết thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động trước khi yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động hoặc Tòa án giải quyết....”. Tranh chấp giữa các bên theo quy định phải thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viện lao động trước khi khởi kiện tại Tòa án. Theo quy định tại Điều 190 Bộ luật Lao động 2019thì thời hiệu yêu cầu hòa giải viên lao động thực hiện hòa giải tranh chấp lao động cá nhân là 06 tháng kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà bên tranh chấp cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm. Bị đơn có đơn xin nghỉ việc từ tháng 10/2023 (thời điểm nguyên đơn cho rằng quyền và lợi ích bị xâm phạm). Tháng 5/2024, nguyên đơn làm đơn khởi kiện. Như vậy, tại thời điểm khởi kiện thời hiệu yêu cầu hòa giải giải quyết tranh chấp đã hết. Các bên không thể tiến hành thủ tục hòa giải thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải V. Mặt khác trước khi khởi kiện các bên đã tự hòa giải nhiều lần, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa các bên đều thống nhất không thể tự hòa giải với nhau để giải quyết vụ án và đề nghị Tòa án xét xử theo quy định. Vì vậy, Tòa án thụ lý đơn yêu cầu và giải quyết tranh chấp giữa các bên là đúng quy định pháp luật.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[2.1] Về tính hợp pháp của các đồng đào tạo

Quá trình giải quyết vụ án các bên đều thống nhất về 03 (ba) hợp đồng đào tạo mà các bên đã giao kết và thực hiện. Các bên cũng thống nhất về chi phí đào tạo mà nguyên đơn đã bỏ ra trong quá trình bị đơn tham gia các khoá đào tạo. Sự thừa nhận của các bên phù hợp với các tài liệu chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp. Vì vậy, đây là các tình tiết không phải chứng minh theo quy định tại Khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Bị đơn cho rằng bị đơn buộc phải ký vào các hợp đồng đào tạo nếu không sẽ bị kỷ luật. Tuy nhiên bị đơn không có căn cứ nào chứng minh cho sự “ bị ép buộc” như lời trình bày. Mặt khác sau khi ký kết các hợp đồng đào tạo, bị đơn đã

tham gia và hoàn thành các khoá học. Bị đơn cũng không có khiếu nại hay tranh chấp gì đối với các hợp đồng trên.

Tại Khoản 2 Điều 62 Bộ luật Lao động 2019có quy định như sau: Hợp đồng đào tạo nghề giữa người sử dụng lao động, người lao động và chi phí đào tạo nghề

...

2. Hợp đồng đào tạo nghề phải có các nội dung chủ yếu sau đây:

  • Nghề đào tạo;

  • Địa điểm, thời gian và tiền lương trong thời gian đào tạo;

  • Thời hạn cam kết phải làm việc sau khi được đào tạo;

  • Chi phí đào tạo và trách nhiệm hoàn trả chi phí đào tạo;

  • Trách nhiệm của người sử dụng lao động;

  • Trách nhiệm của người lao động.

Như vậy, có thể khẳng bị các bên đã giao kết hợp đồng đào tạo trên cơ sở tự nguyện của người lao động và người sử dụng lao động. Các bên đều có đầy đủ năng lực chủ thể và tự nguyên, nội dung thoả thuận của các bên trong các hợp đồng là phù hợp với các quy định nêu trên. Vì vậy, hợp đồng của các bên đều có hiệu lực từ thời điểm giao kết.

[2.2] Về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của các bên

Quá trình giải vụ án các bên thừa nhận hợp đồng lao động giữa các bên là hợp đồng lao động không xác định thời hạn. Bị đơn làm đơn xin nghỉ việc và đã báo trước cho bị đơn 45 ngày trước khi nghỉ việc, lý do nghỉ việc là sức khỏe không đảm bảo cho công việc. Bị đơn không cung cấp tài liệu nào để chứng minh cho lý do nghỉ việc mà mình đưa ra. Như vậy bị đơn là người đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. Thời điểm bị đơn nghỉ chưa đủ thời gian cam kết làm việc tại các hợp đồng đào tạo.

[2.3] Về yêu cầu bồi hoàn chi phí đào tạo và bồi thường thiệt hại

[2.3.1] Về bồi hoàn chi phí đào tạo

Bộ luật Lao động 2019không đặt ra trách nhiệm hoàn trả chi phí đào tạo nếu người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hợp pháp. Tuy nhiên, tại Khoản 2 Điều 61 Luật Giáo dục và nghề nghiệp 2014 lại quy định:

Nghĩa vụ làm việc có thời hạn của người học

...

2. Người tốt nghiệp các khóa đào tạo do người sử dụng lao động cấp học bổng, chi phí đào tạo phải làm việc cho người sử dụng lao động theo thời hạn đã cam kết trong hợp đồng đào tạo; trường hợp không thực hiện đúng cam kết thì phải bồi hoàn học bổng, chi phí đào tạo.

Như nhận định tại Mục [2.1] và [2.2], bị đơn đã đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, vi phạm cam kết của cả 03 hợp đồng đào tạo. Căn cứ vào các quy định nên trên việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn bồi hoàn tổng chi phí đào tạo cho 03 (ba) khoá học mà nguyên đơn đã phải chi phí đào tạo là 60.960.000₫ (Sáu mươi triệu chín trăm sáu mươi nghìn đồng).

[2.3.2] Về bồi thường do vi phạm hợp đồng

Tại Điều 418 Bộ luật Dân sự 2015 cho phép các bên tự do thỏa thuận về phạt vi phạm hợp đồng, tuy nhiên lại không đặt ra mức tối đa đối với phạt vi phạm mà sẽ do các bên tự thoả thuận, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác. Trong khi đó, Bộ luật Lao động 2019cũng không có quy định nào về vấn đề này. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào các quy định của Bộ luật dân sự để xem xét yêu cầu bồi thường thiệt hại của nguyên đơn

Như nhận định tại Mục [2.1], thì các hợp đồng đào tạo của các bên đều có hiệu lực pháp luật. Cả 03 hợp đồng các bên đều thoả thuận nếu bị đơn vi phạm thời hạn làm việc cho nguyên đơn sau khi kết thúc các khoá đã tạo sẽ phải bồi thường 300% chi phí đào tạo cho nguyên đơn. Bị đơn đã vi phạm điều khoản của 03 hợp đồng. Tuy nhiên cả 03 hợp đồng đều không thể có điều khoản hoàn trả chi phí đào tạo mà chỉ có điều khoản phạt vi phạm hợp đồng là 300% chi phí đào tạo. Tại phiên tòa nguyên đơn và bị đơn đều thống nhất về cách hiểu của điều khoản này là đã bao gồm cả việc hoàn trả chi phí đạo tạo. Đối Hợp đồng đào tạo dài hạn số 180/HĐĐT-BVPSNBD ngày 28/08/2020, số tiền nguyên đơn yêu cầu bị đơn hoàn trả và bồi thường thấp hơn sự thoả thuận của hợp đồng nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Đối với các hợp đồng các hợp đồng đào tạo ngắn hạn, nguyên đơn chỉ yêu cầu hoàn trả chi phí đào tạo, không yêu cầu phạt vi phạm nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với yêu cầu tính tiền lãi suất của nguyên đơn. Xét thấy đây là tranh chấp hợp đồng đào tạo, các bên đã thoả thuận phạt vi phạm hợp đồng. Hội đồng xét xử đã xem xét việc phạt vi phạm hợp đồng theo thoả thuận của các bên. Vì vậy việc nguyên đơn yêu cầu tính lãi suất từ ngày bị đơn nghỉ việc đến khi xét xử sơ thẩm là không có cơ sở chấp nhận.

Từ những nhận định trên có cơ sở chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn đối với bị đơn như sau:

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm:

  • - Nguyên đơn phải chịu án phí đối với phần yêu cầu không được chấp nhận

  • - Bị đơn được miễn án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 32, 35, 36, 39, 94, 95, 96, 97, 108, 147, 184, 217, 218, 227, 228, 229; 244; 264, 266, 267 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 62 của Bộ luật Lao động 2019;

Căn cứ Điều 61 Luật Giáo dục và nghề nghiệp 2014

Căn cứ Điều 418 Bộ luật Dân sự 2015

Căn cứ vào Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH Y – Bệnh viện P đối với bị đơn ông Lê Hà Vũ A về việc “Tranh chấp hợp đồng đào tạo”.

    Buộc bị đơn ông Lê Hà Vũ A phải thanh toán cho nguyên đơn Công ty TNHH Y – Bệnh viện P toàn bộ chi phí đào tạo và phạt do vi phạm hợp đồng cụ thể các hợp đồng như sau:

    • - Hợp đồng đào tạo dài hạn số 180/HĐĐT-BVPSNBD, ngày 28/08/2020 với số tiền là 146.894.958đ (Một trăm bốn mươi sáu triệu tám trăm chín mươi bốn nghìn chín trăm năm mươi tám đồng).

    • - Hợp đồng đào tạo ngắn hạn số 214/HĐĐT-BVPSNBD, ngày 12/08/2022 với số tiền là 2.500.000đ (Hai triệu năm trăm nghìn đồng).

    • - Hợp đồng đào tạo ngắn hạn số 74/HĐĐT-BVPSNBD, ngày 14/04/2023 với số tiền là 2.500.000₫ (Hai triệu năm trăm nghìn đồng).

    Tổng số tiền bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn là 151.894.958đ (Một trăm năm mươi mốt triệu tám trăm chín mươi bốn nghìn chín trăm năm mươi tám đồng).

    Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.

    - Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Công ty TNHH Y – Bệnh viện P đối với bị đơn ông Lê Hà Vũ A về yêu thanh toán số tiền lãi 9.620.200₫ (Chín triệu sáu trăm hai mươi nghìn hai trăm đồng).

  2. Đình chỉ xét xử sơ thẩm một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH Y – Bệnh viện P đối với bị đơn ông Lê Hà Vũ A về việc yêu cầu phạt vi phạm hợp đồng số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng).

  3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    • - Nguyên đơn Công ty TNHH Y – Bệnh viện P phải chịu 481.000₫ (Bốn trăm tám mươi mốt nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 4.250.000đ (Bốn triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002634 ngày 20/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Hoàn trả cho Công ty TNHH Y – Bệnh viện P số tiền tạm ứng án phí là 3.769.000₫ (Ba triệu bảy trăm sáu mươi chín nghìn đồng).

    • - Bị đơn ông Lê Hà Vũ A được miễn án phí.

  4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong

thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

  1. Về việc thi hành bản án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2024/LÐ-ST ngày 18/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng đào tạo

  • Số bản án: 07/2024/LÐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đào tạo
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/07/2024
  • Loại vụ/việc: Lao động
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng đào tạo
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger