Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUẢN BẠ

TỈNH HÀ GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 07/2024/HNGĐ-ST

Ngày 17-5-2024

V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢN BẠ, TỈNH HÀ GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tô Đình Vĩ.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lục Thị Cương;

Ông Lệnh Xuân Chính;

- Thư ký phiên tòa: Bà Anh Thị Thanh Tâm - Thẩm tra viên Tòa án nhân

dân huyện Quản Bạ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang tham gia

phiên tòa: Ông Hồ Lỷ Xuân - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quản Bạ xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 33/2023/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 10 năm 2024 về việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 15 tháng 4 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 04/2024/QĐST-HNGĐ ngày 02 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Thào Vần T, sinh năm:1996

Địa chỉ: Thôn T, thị trấn T, huyện Q, tỉnh Hà Giang. Có mặt.

- Bị đơn: Chị Sùng Thị L, sinh năm: 1999

Nơi ĐKHKTT: Thôn T, thị trấn T, huyện Q, tỉnh Hà Giang.

Nơi ở hiện nay: Thôn S, xã C, huyện Q, tỉnh Hà Giang Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Thào V Tờ trình bày: Anh T và chị Sùng Thị L quen nhau, tìm hiểu và về sống chung với nhau từ năm 2014. Ngày 04/01/2018 anh T cùng chị L tự nguyện đến Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện Q, tỉnh Hà Giang để đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, vợ chồng chung sống hạnh phúc bên nhau. Đến đầu năm 2021, anh T và chị L phát sinh nhiều mâu thuẫn vì lý do kinh tế khó khăn, chị L nhiều lần xúc phạm anh và bố mẹ anh, sau đó chị L bỏ đi làm thuê, khi về thì ở nhà bố mẹ đẻ của chị L có địa chỉ tại thôn S, xã C, huyện Q, tỉnh Hà Giang. Từ đó đến nay chị L không về nhà chồng, không quan tâm đến anh T và các con. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh T đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được Ly hôn với chị Sùng Thị L.

Về con chung: Anh T và chị L có 02 con chung là cháu Thào Chẩn C, sinh ngày 22/12/2015 và cháu Thào Chẩn N, sinh ngày 15/8/2017.

Khi chị Sùng Thị 1 bỏ về nhà bố mẹ đẻ tại thôn S, xã C, huyện Q, tỉnh Hà Giang không quan tâm, chăm sóc các con. Anh T đề nghị sau khi ly hôn anh được là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cả 02 con là Thào Chẩn C và Thào Chẩn N, anh không yêu cầu chị Sùng Thị L phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản, công nợ chung: Không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.

Bị đơn chị Hầu Thị L1 được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt.

Tại phiên tòa, anh Cư Mí P vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quản Bạ:

Về tuân thủ pháp luật tố tụng: Những người tiến hành tố tụng, nguyên đơn, trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến mở phiên tòa và tại phiên tòa, đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh T ly hôn với chị L1;

Về con chung: Giao cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung là cháu Thào Chẩn C và Thào Chẩn N;

Về án phí: Anh Thào V tờ phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng mà anh T đã nộp tạm ứng án phí tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quản Bạ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Chị Sùng Thị L đã được Tòa án nhân dân huyện Quản Bạ triệu tập nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt. Mặt khác Tòa án đã niêm yết công khai các văn bản tố tụng theo khoản 2 Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, nhận thấy tại phiên tòa vắng mặt bị đơn không ảnh hưởng đến việc xét xử, căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ. Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự tiến hành xét xử vắng bị đơn theo quy định của pháp luật.

[2] Về xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án: Anh Thào V Tờ khởi kiện yêu cầu ly hôn với chị Sùng Thị L, nơi ĐKHKTT: Thôn T, thị trấn T, huyện Q, tỉnh Hà Giang; nơi ở hiện nay: Thôn S, xã C, huyện Q, tỉnh Hà Giang. Như vậy, đủ căn cứ xác định quan hệ tranh chấp là Ly hôn, tranh chấp về nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015.

[3] Chị Sùng Thị L trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng không đến Tòa án để trình bày quan điểm đối với yêu cầu xin ly hôn, tranh chấp về con chung của anh Thào Vần T. Trưởng thôn Sảng Cán T1, xã C Huyện Q, tỉnh Hà Giang cho biết chị Sùng Thị L là công dân của thôn S, đi lấy chồng từ năm 2015 nhưng đến năm 2021 thấy L một mình bỏ về nhà bố mẹ đẻ. Khi được Tòa án triệu tập chị L có nói chuyện với trưởng thôn và cũng là anh họ của chị L, trưởng thôn đã giải thích và khuyên chị L đến Tòa giải quyết vụ việc nhưng chị L không nghe và bỏ đi làm thuê.

[4] Về quan hệ hôn nhân: Anh Thào Vần T và chị Sùng Thị L kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo đúng quy định pháp luật, nên quan hệ hôn nhân của anh T và chị L là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, chị L bỏ về nhà bố mẹ đẻ, đi làm thuê và có quan hệ bất chính với người đàn ông khác. Chị L từ khi bỏ về nhà bố mẹ đẻ không quan tâm đến anh T cùng các con và không quay lại nhà anh T nữa. Như vậy, mục đích hôn nhân không còn tồn tại, anh T yêu cầu xin ly hôn với chị L là chính đáng và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh T, cho anh T được ly hôn với chị Sùng Thị L.

[5] Về con chung: Anh Thào Vần T và chị Sùng Thị L có 02 con chung là cháu cháu Thào Chẩn C, sinh ngày 22/12/2015 và cháu Thào Chẩn N, sinh ngày 15/8/2017. Xét thấy, chị SùngThị L2 từ khi bỏ về nhà bố mẹ đẻ, không quan tâm đến gia đình và các con. Trong khoảng thời gian chị L2 không ở nhà, anh T đã làm tốt việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu N và cháu C, đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho hai cháu và nguyện vọng của cháu C cũng mong muốn được ở với anh T. Vì vậy, giao cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu cháu Thào Chẩn C, và cháu Thào Chẩn N là hợp lý và đúng quy định. Anh T không yêu cầu chị L2 cấp dưỡng do vậy chị L2 không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

[6] Về tài sản, công nợ chung: Anh T không đề nghị Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Anh T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng mà anh T đã nộp tạm ứng án phí tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quản Bạ.

[8] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về quan hệ hôn nhân:

    Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn, tranh chấp nuôi con của anh Thào Vần T.

    Xử cho anh Thào Vần T được ly hôn với chị Sùng Thị L.

  2. Về con chung:

    Giao cho anh Thào Vần T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục 02 con chung là cháu cháu Thào Chẩn C, sinh ngày 22/12/2015 và cháu Thào Chẩn N, sinh ngày 15/8/2017 cho đến khi cháu C, cháu N đủ 18 tuổi. Chị Sùng Thị L không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền thăm nom con theo quy định của pháp luật.

  3. Về án phí:

    Anh Thào V tờ phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ là 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng mà anh T đã nộp tạm ứng án phí tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quản Bạ ngày 31/10/2023.

  4. Về quyền kháng cáo:

    Án xử công khai sơ thẩm báo cho anh Thào V Tờ biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị Sùng Thị L có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 kể từ ngày bản án được niêm yết.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND H.Quản Bạ (2);
  • - UBND thị trấn Tam Sơn;
  • - TAND Tỉnh Hà Giang;
  • - Chi cục THADS H.Quản Bạ;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tô Đình Vĩ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2024/HNGĐ-ST ngày 17/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢN BẠ, TỈNH HÀ GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 07/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢN BẠ, TỈNH HÀ GIANG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử cho anh Thào Vần T được ly hôn với chị Sùng Thị L
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger