|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 07/2024/DS – ST
Ngày 16 tháng 9 năm 2024
V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tân Khải Nhân;
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Đức Trưởng và ông Nguyễn Văn Thìn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Hải Long – Thư ký Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Ông Hà Trọng Thực - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 04/2024/TLST- DS ngày 23 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2024/QĐXXST – DS ngày 26 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 30/2024/QÐST – DS ngày 06/9/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V (“V1”);
Địa chỉ trụ sở chính: Số H L, phường L, quận Đ, Thành phố Hà Nội;
Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị (vắng mặt);
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đỗ Hoàng L – Chức vụ: Giám đốc trung tâm thu hồi nợ khách hàng doanh nghiệp và xử lý nợ pháp lý (theo văn bản ủy quyền số: 58/2023/UQN – CTQT ngày 12/7/2023 vắng mặt);
Người đại diện theo ủy quyền lại: Ông Hà Xuân S – Chức vụ Trưởng bộ phận xử lý nợ; ông Nguyễn Việt C – Chuyên viên xử lý nợ; ông Lê Tuấn Đ – Chuyên viên xử lý nợ (theo văn bản ủy quyền số 47985/2024/UQ – VPB ngày 01/01/2024, ông S, ông C vắng mặt, ông Đ có mặt);
Địa chỉ: Tầng F, Tòa nhà A, số B đường H, phường N, Thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
Bị đơn: Chị Hoàng Thị T, sinh năm 1988 (có đơn xin xét xử vắng mặt);
Địa chỉ: Khu C, xã M, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Bà Nguyễn Thị Bích T1 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh P (có mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh: Ngô Tiến A, sinh năm 1989;
Địa chỉ: Số nhà G, đường P, khu A, Thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
[1]. Tại đơn khởi kiện đề ngày 19/12/2023, những lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần V dưới đây viết tắt là “V1 hoặc Ngân hàng” trình bày:
- - Ngày 25/10/2021, V1 và chị Hoàng Thị T đã ký hợp đồng cấp tín dụng số LN2110164517865. Nội dung chính như sau:
- Số tiền vay là: 332.000.000VNĐ (ba trăm ba mươi hai triệu đồng);
- Thời hạn vay: 84 tháng; mục đích vay: Thanh toán tiền mua xe nhãn hiệu HYUNDAI, Accent bản đặc biệt, 1.4L, AT sản xuất mới 100%;
- Hình thức giải ngân: Chuyển vào tài khoản của bên thụ hưởng;
- Lãi suất cho vay trong hạn là: 6.8%/năm và Ngân hàng được điều chỉnh khi hết thời hạn cố định;
- Lãi suất quá hạn: 150% cho vay trong hạn;
- Lãi chậm trả: 150% cho vay trong hạn tại thời điểm chậm trả.
- - Để đảm bảo cho Hợp đồng vay, Ngân hàng và chị Hoàng Thị T đã ký hợp đồng thế chấp tài sản số: LN2110164517865 ngày 25/10/2021, tài sản thế chấp là 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu HYUNDAI, biển kiểm soát: 19A – 400.05.
- - Ngân hàng đã giải ngân toàn bộ cho chị T, tuy nhiên, trong quá trình thực hiện hợp đồng chị T đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền gốc, tiền lãi từ ngày 15/8/2022. Ngân hàng đã thực hiện việc đôn đốc, yêu cầu chị T trả nợ nhưng chị T không thực hiện.
- - Do đó, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, V1 yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn:
- Buộc chị Hoàng Thị T phải thanh toán cho V1 toàn bộ số nợ gốc, nợ lãi, lãi chậm trả và các phát sinh liên quan theo Hợp đồng tín dụng số: LN2110164517865 tạm tính đến ngày 06/11/2023. Cụ thể:
- Gốc phải trả: 296.394.025 VNĐ (hai trăm chín sáu triệu ba trăm chín mươi tư nghìn không trăm hai mươi lăm đồng);
- Lãi trong hạn và lãi quá hạn: 150.434.409 VNĐ (một trăm năm mươi triệu bốn trăm ba mươi tư nghìn bốn trăm linh chín đồng);
- Lãi chậm trả: 19.480.943 VNĐ (mười chín triệu bốn trăm tám mươi nghìn chín trăm bốn mươi ba đồng);
- Tổng cộng: 466.309.377 VNĐ (bốn trăm sáu mươi sáu triệu ba trăm linh chín nghìn ba trăm bảy mươi bảy đồng).
- Trong trường hợp chị T không trả được nợ, yêu cầu Tòa án tuyên xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp số LN2110164517865 ngày 25/10/2021.
[2]. Phía bị đơn, trong quá trình giải quyết vụ án chị Hoàng Thị T trình bày:
Việc ký kết hợp đồng vay tài sản, thế chấp tài sản, vi phạm nghĩa vụ thanh toán đúng như phía Ngân hàng khai, chị không có bổ sung gì.
Tuy nhiên, việc chị chậm thanh toán tiền gốc, lãi đối với Ngân hàng là do:
- Chị có bạn là anh Ngô Tiến A, sinh năm 1989, địa chỉ tại: Số nhà G, đường P, khu A, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Thọ, chị được anh Ngô Tiến A nhờ đăng ký xe mang biển kiểm soát: 19A – 400.05, loại xe ACCENT tại Công an tỉnh P. Sau khi đăng ký, anh Tiến A tiếp tục nhờ chị xuống Ngân hàng TMCP V – Chi nhánh V2, tỉnh Phú Thọ để ký hồ sơ vay tiền. Chị không quản lý, sử dụng tài sản thế chấp, anh Tiến A mới là chủ sở hữu trên thực tế của chiếc xe này.
- Kể từ khi vay tiền, anh Tiến A là người đứng ra thanh toán các khoản tiền gốc, lãi với Ngân hàng, chị không nắm được, chị chỉ nhận được các thông báo chuyển nợ quá hạn, đôn đốc trả nợ từ phía Ngân hàng.
- Hiện chị không quản lý tài sản thế chấp của Ngân hàng, vì vậy chị không cung cấp được tài sản này để Tòa án tiến hành việc thẩm định. Chị đề nghị Ngân hàng xử lý tài sản để tất toán khoản nợ nêu trên.
[3]. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Ngô Tiến A vắng mặt không có lý do, tuy nhiên, tại Biên bản lấy lời khai ngày 22/7/2024, anh trình bày: Anh và chị Hoàng Thị T là bạn, anh nhờ chị T đứng tên để mua xe ô tô, sau đó thế chấp tại Ngân hàng V1, việc này phía Ngân hàng có được biết, hiện anh đang quản lý tài sản thế chấp.
[4]. Đại điện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ phát biểu quan điểm:
- - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, các đương sự đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự;
- - Về nội dung giải quyết vụ án: Căn cứ các điều: 463, 466, 470, 299 và khoản 7 Điều 323 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Căn cứ Điều 100, Điều 103 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2024; Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ vào điểm đ, khoản 1, Điều 12, Điều 14, khoản 2, Điều 15 và khoản 2 Điều 26 và Danh mục được ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện về tranh chấp Hợp tín dụng của Ngân hàng V1 đối với chị Hoàng Thị T. Buộc chị T có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng số tiền gốc, lãi còn lại tính đến ngày 16/9/2024 theo Hợp đồng tín dụng số: LN2110164517865 ngày 25/10/2021 là: 466.309.377 VNĐ (bốn trăm sáu mươi sáu triệu ba trăm linh chín nghìn ba trăm bảy mươi bảy đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, chị T còn phải chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong Hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà chị T phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Ngân hàng phải trả cho chị T các loại giấy tờ đã được liệt kê trong hợp đồng thế chấp khi chị T thực hiện xong toàn bộ các nghĩa vụ được bảo đảm bằng tài sản này đã được thanh toán xong.
Trường hợp chị T không trả nợ hoặc không trả đủ số tiền còn nợ theo hợp đồng tín dụng số: LN2110164517865 ngày 25/10/2021, thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản thế chấp tại Hợp đồng thế chấp số: [...] ngày 20/12/2017 để thu hồi nợ.
Án phí dân sự sơ thẩm: Đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí cho chị T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đông xét xử nhận định:
[1]. Về trình tự, thủ tục tố tụng:
Ngày 16/01/2024, V1 nộp đơn khởi kiện, yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ giải quyết tranh chấp Hợp đồng tín dụng đối với chị Hoàng Thị T, sinh năm 1988, địa chỉ tại Khu C, xã M, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn thụ lý vụ án là phù hợp.
Tại phiên tòa ngày hôm nay, chị T có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Ngô Tiến A vắng mặt không có lý do, căn cứ vào khoản 1, khoản 3, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn xét xử vắng mặt chị T, anh Tiến A là đúng quy định của pháp luật.
[2]. Về nội dung vụ án.
[2.1]. Hợp đồng tín dụng số LN2110164517865, ngày 25/10/2021 giữa V1 và chị Hoàng Thị T:
Quá trình giải quyết vụ án Ngân hàng và chị T đều xác nhận ngày 25/10/2021 hai bên ký hết Hợp đồng tín dụng với nội dung chính như sau: Chị T vay của Ngân hàng số tiền 332.000.000VNĐ (ba trăm ba mươi hai triệu đồng); mục đích vay: Thanh toán tiền mua xe ô tô; lãi suất trong hạn: 6,8%/1 năm tại thời điểm ký hợp đồng, sau đó được điều chỉnh theo biên độ trong suốt chu kỳ vay; lãi suất quá hạn bằng 150% mức lãi cho vay trong hạn; lãi chậm trả bằng 150% mức lãi cho vay trong hạn nhưng tối đa không quá 10%/1 năm tính trên số dư chậm trả; thời hạn vay: 84 tháng.
Tại Giấy đề nghị giải ngân ngày 25/10/2021, chị T đã nhận tiền và yêu cầu Ngân hàng chuyển vào tài khoản của Công ty Cổ phần T2 để thanh toán tiền mua xe ô tô, loại xe HYUNDAI, Biển kiểm soát 19A – 400.05 (bút lục số 26, 51).
Như vậy, các chủ thể giao kết Hợp đồng tín dụng có đầy đủ năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự, mục đích, hình thức của giao dịch phù hợp với quy định của pháp luật nên Hợp đồng có hiệu lực, các bên phải thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với nhau như đã cam kết.
[2.2]. Việc thực hiện Hợp đồng tín dụng và vi phạm nghĩa vụ thanh toán:
Từ ngày 15/8/2022, chị T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi với V1. Phía Ngân hàng đã có thông báo yêu cầu chị T trả nợ và thông báo về việc bàn giao tài sản bảo đảm (bút lục số 05, 20), bản thân chị T cũng đã xác nhận về số dư nợ gốc, nợ lãi còn lại từ Ngân hàng (bút lục số 62).
Theo quy định tại điểm c, khoản 8, Điều 2 của Hợp đồng cấp tín dụng thì bên cho vay có quyền chấm dứt cho vay, thu hồi nợ trước hạn trong trường hợp “Bên vay vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi, phí, chi phí và bất kỳ nghĩa vụ tài chính nào khác đối với bên Ngân hàng…”. Như vậy, đối chiếu với sự kiện pháp lý đã phát sinh thì Ngân hàng có quyền đòi nợ chị T theo đúng như cam kết giữa các bên.
Chị T cho rằng việc chị vi phạm nghĩa vụ thanh toán là do chị đứng tên vay hộ cho bạn là anh Ngô Tiến A, sinh năm 1988, địa chỉ tại số nhà G, đường P, khu A, Thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Thọ, anh Tiến A mới là người phải chịu trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng. Tuy nhiên, trong Hợp đồng cấp tín dụng cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án và những lời khai tại Tòa án, chị T xác nhận chị là người trực tiếp nhận tiền từ Ngân hàng, ký kết các giấy tờ mua bán và là chủ sở hữu đối với tài sản đang được thế chấp tại V1.
Mặt khác, ngoài lời khai, chị T không cung cấp được các chứng cứ gì để chứng minh giữa chị và anh Ngô Tiến A tồn tại giao dịch liên quan đến việc vay hộ, đứng tên trên tài sản thế chấp tại V1.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 22/7/2024 (bút lục số 78) anh Ngô Tiến A cho biết: Anh nhờ chị T đứng tên để mua chiếc xe ô tô Biển kiểm soát: 19A – 400.05, loại xe Accent, hiện đang thế chấp tại V1. Tuy nhiên, khi tòa án tiến hành triệu tập và phối hợp với Công an Thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Thọ để làm việc mặc dù đã được tống đạt hợp pháp các văn bản tố tụng nhưng anh Tiến A cố ý vắng mặt, bên cạnh đó, Cơ quan có thẩm quyền nơi anh Tiến A thường trú không xác định được tài sản đang thế chấp hiện ai đang quản lý (bút lục số 69, 73, 91). Do đó, chưa đủ căn cứ để xác định giữa anh Ngô Tiến A và chị Hoàng Thị T tồn tại các giao dịch liên quan đến ủy quyền thực hiện việc vay tiền và thế chấp tài sản tại V1.
Căn cứ vào các nhận định đánh giá tại mục [2.1] và [2.2] nêu trên, Hội đồng xét xử thấy rằng: Chị T là người trực tiếp vay, nhận tiền và đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, là bên có lỗi trong việc thực hiện các thỏa thuận đã ký kết trong Hợp đồng tín dụng nên Ngân hàng có quyền yêu cầu Tòa án buộc chị T phải trả số tiền còn nợ là phù hợp quy định tại các Điều 463, 466, 470 của Bộ luật dân sự và khoản 1, Điều 103 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2024. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng, buộc chị T phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng tổng số tiền còn nợ theo Hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết tính đến ngày 16/9/2022 là: 466.309.377 VNĐ (bốn trăm sáu mươi sáu triệu ba trăm linh chín nghìn ba trăm bảy mươi bảy đồng). Trong đó: Nợ gốc 296.394.025 VNĐ (hai trăm chín sáu triệu ba trăm chín mươi tư nghìn không trăm hai mươi lăm đồng); lãi trong hạn, lãi quá hạn là 150.434.409 VNĐ (một trăm năm mươi triệu bốn trăm ba mươi tư nghìn bốn trăm linh chín đồng); lãi chậm trả: 19.480.943 VNĐ (mười chín triệu bốn trăm tám mươi nghìn chín trăm bốn mươi ba đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, chị T còn phải chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng, cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong Hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà chị T phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Trường hợp, giữa chị T và anh Ngô Tiến A có phát sinh các giao dịch liên quan đến việc vay hộ, đứng tên trên tài sản thế chấp tại V1, anh chị có quyền có quyền khởi kiện tại một vụ, việc dân sự khác.
[2.3].Về Hợp đồng thế chấp số LN2110164517865 ngày 25/10/2021:
Để bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ cho khoản vay nêu trên, ngày 25/10/2021, tại Văn Phòng Công Chứng Â, tỉnh Phú Thọ, chị Hoàng Thị T và Ngân hàng đã ký hợp đồng thế chấp với nội dung chính:
- - Tài sản thế chấp: Xe ô tô, nhãn hiệu HYUNDAI, Biển kiểm soát: 19A – 400.05, chủ sở hữu là Hoàng Thị T;
- - Nghĩa vụ được bảo đảm: Toàn bộ khoản vay phát sinh từ Hợp đồng cấp tín dụng giữa chị T và Ngân hàng;
- - Ngoài ra các bên còn quy định về các trường hợp xử lý tài sản thế chấp, quyền và nghĩa vụ của bên thế chấp và bên nhận thế chấp.
Xét thấy, hợp đồng được ký kết giữa Ngân hàng và chị T là tự nguyện, không trái đạo đức, không vi phạm pháp luật, tuân thủ về mặt hình của giao dịch và được đăng ký thế chấp tại Trung tâm Đăng ký giao dịch tài sản Thành Phố Đ. Như vậy, có đủ căn cứ để xác định hợp đồng thế chấp giữa chị T và Ngân hàng là hợp pháp và có hiệu lực ràng buộc đối với các bên.
Ngân hàng yêu cầu chị T thực hiện cam kết trong Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thế chấp, trường hợp không trả được nợ cho Ngân hàng thì đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng; phía chị T xác nhận khoản nợ gốc, lãi và các chi phí phát sinh từ Hợp đồng tín dụng, chị đề nghị Ngân hàng xử lý tài sản đã thế chấp tại Ngân hàng, tuy nhiên, tài sản này chị cho rằng hiện chị không quản lý, sử dụng mà do anh Ngô Tiến A là người đang trực tiếp quản lý, sử dụng.
Trong quá trình giải quyết vụ án, xét thấy cần thiết, Tòa án đã nhiều lần triệu tập, phối hợp với Cơ quan Công an nơi anh Ngô Tiến A cư trú để thực hiện việc xem xét, thẩm định tại chỗ đối với tài sản. Tuy nhiên, anh Tiến A cố ý vắng mặt, bên cạnh đó, Cơ quan Công an, Ngân hàng cũng không xác định được tài sản thế chấp hiện đang do ai quản lý.
Theo hướng dẫn tại tiết 11, mục III, Văn bản số 196/TANDTC – PC ngày 03/10/2023 của Tòa án nhân dân tối cao thì “Trường hợp Tòa án xác định hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp tài sản tuân thủ đầy đủ quy định pháp luật trong quá trình ký kết, hợp đồng có hiệu lực pháp luật thì việc không xác định được ô tô là tài sản thế chấp ở đâu tại thời điểm tranh chấp không làm vô hiệu hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp. Do đó, khi đến hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên vay không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì Tòa án tuyên phát mại tài sản thế chấp theo quy định tại khoản 1 Điều 299 và Điều 303 của Bộ luật Dân sự năm 2015."
Như vậy, đối với trường hợp của chị T và Ngân hàng V1, Tòa án đã áp dụng các biện pháp để thu thập chứng cứ, nhưng không xác định được hiện tài sản thế chấp ở đâu, ai đang quản lý. Do đó, V1 có quyền yêu cầu Tòa án tuyên phát mại tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật là phù hợp.
Dựa vào vào các đánh giá, nhận định tại mục [2.1], [2.2], [2.3] nêu trên đủ căn cứ để xác định, yêu cầu đòi nợ gốc, lãi, xử lý tài sản bảo đảm của Ngân hàng đối với chị Hoàng Thị T phù hợp với thỏa thuận của các bên và phù hợp với quy định tại Điều 299, khoản 7 Điều 323 của Bộ luật Dân sự và khoản 1, Điều 103 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2024.
Do đó, cần chấp nhận toàn bộ yêu cầu của Ngân hàng, trường hợp chị T không trả nợ hoặc không trả đủ số tiền còn nợ theo Hợp đồng tín dụng số LN2110164517865 ngày 25/10/2021 thì chị T phải có trách nhiệm bàn giao tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp số LN2110164517865 ngày 25/10/2021 cho cơ quan có thẩm quyền để xử lý tài sản nhằm đảm bảo nghĩa vụ trả nợ.
Khi chị T thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đối với Ngân hàng mà không phải xử lý tài sản thế chấp thì Ngân hàng phải trả lại cho chị T toàn bộ các giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp.
3. Về án phí: Theo quy định tại khoản 1, Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ, khoản 1, Điều 12, Điều 14, khoản 2, Điều 15, khoản 2 Điều 26, của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Hoàng Thị T phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm do yêu cầu của V1 chấp nhận; tuy nhiên, chị T là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại khu đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
5. Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp, hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các điều: 463, 466, 470, 299 và khoản 7 Điều 323 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 2, Điều 100 và khoản 1, Điều 103 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2024;
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 1, khoản 3, Điều 228 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào điểm đ, khoản 1, Điều 12, Điều 14, khoản 2, Điều 15 và khoản 2 Điều 26 và Danh mục được ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” của Ngân hàng Thương mại Cổ phần V đối với chị Hoàng Thị T.
Buộc chị Hoàng Thị T có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần V khoản tiền còn nợ theo Hợp đồng tín dụng số LN2110164517865, ngày 25/10/2021 là: 466.309.377 VNĐ (bốn trăm sáu mươi sáu triệu ba trăm linh chín nghìn ba trăm bảy mươi bảy đồng). Trong đó: Nợ gốc 296.394.025 VNĐ (hai trăm chín sáu triệu ba trăm chín mươi tư nghìn không trăm hai mươi lăm đồng); lãi trong hạn, lãi quá hạn là: 150.434.409 VNĐ (một trăm năm mươi triệu bốn trăm ba mươi tư nghìn bốn trăm linh chín đồng); lãi chậm trả: 19.480.943 VNĐ (mười chín triệu bốn trăm tám mươi nghìn chín trăm bốn mươi ba đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, chị T còn phải chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong Hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà chị T phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Ngân hàng phải trả cho chị T các loại giấy tờ đã được liệt kê trong hợp đồng thế chấp khi chị T thực hiện xong toàn bộ các nghĩa vụ đối với Ngân hàng.
Trường hợp chị T không trả nợ hoặc không trả đủ số tiền còn nợ theo hợp đồng tín dụng số: LN2110164517865 ngày 25/10/2021, thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản thế chấp tại Hợp đồng thế chấp số: [...] ngày 20/12/2017 để thu hồi nợ.
2. Án phí dân sự sơ thẩm: Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho chị Hoàng Thị T; hoàn trả cho V1 9.734.000 VNĐ (chín triệu bảy trăm ba mươi tư nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa số: 0004528 ngày 22 tháng 01 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ.
3. Quyền kháng cáo: V1 có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; chị Hoàng Thị T, anh Ngô Tiến A có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.
4. Trong trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì Người được thi hành án dân sự, Người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thi hành theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tân Khải Nhân |
Bản án số 07/2024/DS – ST ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 07/2024/DS – ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng tín dụng do V khởi kiện T
