|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI TỈNH LÀO CAI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 07/2024/DS-ST.
Ngày 16/4/2024.
V/v: “Tranh chấp, hợp đồng vay tài sản”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Ông Bùi Ngọc Thanh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Ngân.
Bà Vũ Thị Hòa.
Thư ký phiên toà: Ông Vũ Anh Tùng – Thư ký, Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Hiệp - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 149/2023/TLST-DS, ngày 03 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp, hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2024/QĐXXST-DS, ngày 19 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Vũ Thị M – Sinh năm: 1965.
Địa chỉ: Số nhà D, phố B, khu đô thị B, tổ B, phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai.
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn là ông Đỗ Ánh S – Sinh năm 1977. Địa chỉ: Số nhà C, đường H, phường K, thành phố L, tỉnh Lào Cai. (Theo văn bản ủy quyền ngày 12/5/2023) – Có mặt.
Bị đơn: Bà Lê Thị B – Sinh năm: 1973.
Ông Cao Hoàng T – Sinh năm: 1963.
Địa chỉ: Cùng trú tại số nhà A, đường S, tổ B, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai – Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện nộp ngày 26/10/2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn bà Vũ Thị M là ông Đỗ Ánh S đều trình bày: Do có quan hệ là bạn thân thiết nên trong năm 2017 và năm 2018 bà Vũ Thị M có cho bà Lê Thị B và ông Cao Hoàng T vay số tiền để làm ăn kinh tế cụ thể: Ngày 07/07/2017 bà Vũ Thị M cho vay số tiền là 700.000.000VNĐ. Ngày 19/6/2018 bà Vũ Thị M cho vay thêm số tiền là 200.000.000VNĐ, đến ngày 03/7/2018 bà Vũ Thị M cho vay tiếp số tiền là 500.000.000VNĐ. Tổng số tiền bà Vũ Thị M cho bà Lê Thị B và ông Cao Hoàng T vay 03 lần là 1.400.000.000VNĐ.
Từ năm 2020 bà Vũ Thị M đã đến nhà bà Lê Thị B và ông Cao Hoàng T rất nhiều lần yêu cầu trả số tiền đã vay nhưng bà Lê Thị B và ông Cao Hoàng T cố tình không trả. Đến ngày 12/5/2023 bà Vũ Thị M đã gửi cho bà Lê Thị B và ông Cao Hoàng T thông báo về việc hoàn trả khoản tiền đã vay. Nhưng đến hạn bà Lê Thị B và ông Cao Hoàng T vẫn không hoàn trả khoản tiền đã vay theo thông báo trả nợ của bà Vũ Thị M. Để bảo đảm quyền lợi, bà Vũ Thị M khởi kiện, yêu cầu Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai giải quyết, buộc bà Lê Thị B và ông Cao Hoàng T phải chịu trách nhiệm liên đới trả hoàn trả cho bà Vũ Thị M số tiền gốc đã vay là 1.400.000.000VNĐ, ngoài ra bà Vũ Thị M không yêu cầu gì khác.
Tại các bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Lê Thị B và ông Cao Hoàng T đều trình bầy: Bà Lê Thị B và ông Cao Hoàng T có quan hệ là vợ chồng, trong năm 2017 và năm 2018 bà Lê Thị B và ông Cao Hoàng T có vay của bà Vũ Thị M 03 lần tiền với số tiền 1.400.000.000VNĐ, để làm ăn kinh tế như nội dung bà Vũ Thị M khởi kiện là đúng. Bà Lê Thị B và ông Cao Hoàng T, cũng đã nhận được thông báo trả nợ của bà Vũ Thị M. Nhưng do hiện nay làm ăn kinh tế khó khăn, bà Lê Thị B và ông Cao Hoàng T chưa có thể thanh toán được khoản nợ cho bà Vũ Thị M. Bà Lê Thị B và ông Cao Hoàng T xin được trả dần số tiền đã vay là 1.400.000.000VNĐ cho bà Vũ Thị M.
Quá trình giải quyết vụ án Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai đã tiến hành hoà giải nhưng bà Lê Thị B và ông Cao Hoàng T đều vắng mặt, nên không tiến hành hoà giải được.
Tại phiên toà, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà, phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự, trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán; của Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng tại phiên toà là đúng theo các quy định của pháp luật, đảm bảo đúng trình tự luật định; không vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử; Viện kiểm sát nghiên cứu hồ sơ đảm bảo đúng pháp luật.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử, áp dụng khoản 1, Điều 228, khoản 1, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 288, Điều 463, Điều 466 và Điều 469 Bộ luật dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn bà Vũ Thị M. Buộc bà Lê Thị B và ông Cao Hoàng T có nghĩa vụ liên đới hoàn trả cho bà Vũ Thị M khoản tiền đã vay là 1.400.000.000VNĐ (Một tỷ bốn trăm triệu đồng).
Ngoài ra còn đề nghị tuyên nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, bị đơn bà Lê Thị B và ông Cao Hoàng T đã được Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai triệu tập hợp lệ đến phiên tòa xét xử, nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
[2]. Về nội dung tranh chấp: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án xác định: Bà Lê Thị B và ông Cao Hoàng T có quan hệ hôn nhân là vợ chồng. Trong các ngày 07/07/2017; ngày 19/6/2018 và ngày 03/7/2018 bà Vũ Thị M có cho bà Lê Thị B và ông Cao Hoàng T vay 03 lần, với tổng số tiền là 1.400.000.000VNĐ. Các lần vay tiền, các bên đều viết giấy vay tiền, nhưng không ghi thời hạn trả nợ. Sau nhiều lần bà Vũ Thị M yêu cầu bà Lê Thị B và ông Cao Hoàng T phải hoàn trả số tiền đã vay bằng miệng, đến ngày 12/5/2023 bà Vũ Thị M đã gửi cho bà Lê Thị B và ông Cao Hoàng T thông báo về việc hoàn trả khoản tiền đã vay. Bà Lê Thị B và ông Cao Hoàng T xác nhận đã nhận được thông báo trả nợ nhưng đến hạn, do khó khăn về kinh tế nên chưa hoàn trả được khoản tiền đã vay cho bà Vũ Thị M. Nội dung nguyên đơn khởi kiện, bị đơn thừa nhận số tiền đã vay và đến hạn trả nợ theo thông báo vẫn chưa trả được. Đây là những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh quy định tại khoản 2, Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự.
Nội dung thể hiện trong các giấy nhận vay tiền lập vào các ngày 07/07/2017; 19/6/2018 và ngày 03/7/2018 là sự thỏa thuận giao kết giữa các bên. Trong đó, bên cho vay tài sản là bà Vũ Thị M và bên vay tài sản là bà Lê Thị B và ông Cao Hoàng T. Trong các giấy vay tiền không ghi ngày thoả thuận trả nợ. Đây là là hợp đồng vay tài sản không kỳ hạn, được quy định tại Điều 469 của Bộ luật dân sự. Nội dung thỏa thuận của các bên phù hợp với các quy định của pháp luật. Bên cho vay tài sản đã giao tài sản và bên vay tài sản đã nhận được tài sản. Do đó, hợp đồng vay tài sản giữa các bên có giá trị pháp lý bắt buộc các bên phải thực hiện theo đúng nội dung đã thỏa thuận theo quy định của pháp luật dân sự. Ngày 12/5/2023 bà Lê Thị B và ông Cao Hoàng T đã nhận được thông báo trả nợ bằng văn bản của bà Vũ Thị M, yêu cầu hoàn trả khoản tiền đã vay trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được thông báo. Đến ngày 26/10/2023 bà Vũ Thị M đã khởi kiện bà Lê Thị B và ông Cao Hoàng T tại Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai yêu cầu hoàn trả khoản tiền đã cho vay là đúng theo quy định tại Điều 466 và Điều 469 Bộ luật dân sự.
Hội đồng xét xử xét thấy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Vũ Thị M yêu cầu bà Lê Thị B và ông Cao Hoàng T phải chịu trách nhiệm liên đới trả hoàn trả khoản tiền gốc đã vay là 1.400.000.000VNĐ là có căn cứ pháp lý để được chấp nhận.
[3]. Về án phí: Theo quy định của pháp luật bị đơn bà Lê Thị B và ông Cao Hoàng T phải chịu khoản tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn bà Vũ Thị M không phải chịu khoản tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1, Điều 228, khoản 1, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 288, Điều 463, Điều 466, Điều 469 Bộ luật dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Vũ Thị M.
Buộc bà Lê Thị B và ông Cao Hoàng T phải có nghĩa vụ liên đới hoàn trả cho bà Vũ Thị M số tiền đã vay tổng cộng là: 1.400.000.000VNĐ (Một tỷ bốn trăm triệu đồng).
Kể từ ngày nguyên đơn bà Vũ Thị M có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà Lê Thị B và ông Cao Hoàng T không thi hành xong khoản tiền phải hoàn trả, thì hàng tháng bà Lê Thị B và ông Cao Hoàng T còn phải chịu thêm khoản tiền lãi suất tương ứng với thời gian chưa thi hành án, theo quy định tại Điều 357; Điều 468 Bộ luật dân sự.
2. Về án phí: Bị đơn bà Lê Thị B và ông Cao Hoàng T phải chịu chung khoản tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền phải hoàn trả là 54.000.000VNĐ (Năm mươi bốn triệu đồng). Nguyên đơn bà Vũ Thị M không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Được hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 27.000.000VNĐ (Hai mươi bẩy triệu đồng) theo biên lai số 0000708 ngày 03 tháng 11 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Lào Cai.
Bản án, được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn bà Vũ Thị M được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn bà Lê Thị B và ông Cao Hoàng T, được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
|
Nơi nhân:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Bùi Ngọc Thanh |
Bản án số 07/2024/DS-ST ngày 16/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI về tranh chấp, hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 07/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp, hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vu Thi M - Lê Thị B
