|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN S TỈNH QUẢNG NGÃI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 07/2024/HS-ST Ngày 13-9-2024. |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN S TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Anh Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Đinh Thị Minh.
- Bà Nguyễn Thị Nguyệt.
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Nhị – Thư ký Toà án nhân dân huyện S - tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện S tham gia phiên toà: Ông Đinh Văn Thi - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 13 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện S, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 05/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2024, Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 07/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 8 năm 2024 và Thông báo thay đổi thời gian xét xử số 149/TB-TA ngày 13/8/2024 đối với bị cáo:
Đinh Văn T, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1972, tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi cư trú: Tổ dân phố C, thị trấn D, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi; số căn cước công dân: [...], cấp ngày 28 tháng 6 năm 2021; nơi cấp: Cục trưởng Cục Q; nghề nghiệp: Nông; trình độ văn hoá: 0/12; dân tộc: Hre; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Văn M (chết) và bà Đinh Thị R(chết); vợ: Không có; con: Có 01 con tên Đinh Văn L sinh năm 1999; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/4/2024 đến ngày 20/4/2024, thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và bị bắt, tạm giam từ ngày 07/8/2024 đến ngày 13/9/2024. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Ông Đinh Văn S, sinh năm 1981.
Địa chỉ: Thôn L, xã S, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi
* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại Đinh Văn S - Bà Bùi Thị Thuyết A– Trợ giúp viên pháp lý thuộc trung tâm T20
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Bà Đinh Thị R1 sinh năm 1975;
- Ông Lê Văn T1 sinh năm 1993;
- Ông Đinh Văn S1 sinh năm 1963.
Cùng có địa chỉ: Tổ dân phố C, thị trấn D, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi
* Người làm chứng: Cháu Đinh Xuân L1, sinh năm 2011.
Địa chỉ: Tổ dân phố C, thị trấn D, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi
* Người giám hộ cho cháu Đinh X L1 Bà Đinh Thị H năm 1990.
Địa chỉ: Tổ dân phố C, thị trấn D, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi
* Người phiên dịch: Bà Đinh Thị H1 bộ hưu trí thị trấn D, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi
Ông L2 L1 và bà Đinh Thị H2 vắng mặt không có lý do, còn lại đều có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Đinh Văn T và bà Đinh Thị R1 chung như vợ chồng từ năm 1998 và có với nhau một người con chung nhưng không đăng ký kết hôn; đến năm 2023, bị cáo T1 bà R1 không còn chung sống nữa, sau đó bà R1 quen biết và sống chung với ông Đinh Văn S1 năm 1981 tại nhà bà R2
Vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 11/4/2024, T đến nhà bà R1 chơi thì gặp Đinh Văn S2 ngồi uống rượu tại gốc cây dừa gần nhà bà R1 nên T đến ngồi cùng uống rượu. Đến khoảng 12 giờ 00 phút cùng ngày, sau khi uống rượu xong ông S3 ra võng ở ngoài vườn cây gần nhà bà R1 nằm ngủ, còn T2 vào nhà bà R1 lấy cơm ăn; một lúc sau, bà R1 đi làm về thấy T dùng tay để bốc cơm ăn nên bà R1 nói với T “ăn cơm sao bốc bằng tay” thì T và bà R1 xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau; T lấy chén, đũa đập xuống nền nhà, bà R1 thấy vậy cũng lấy chén đập xuống nền nhà, T3 một vỏ chai thủy tinh loại chai Number 1 ở trong thùng nhựa đựng chai bia Dung Quất ném bà R1 nhưng không trúng; bà R2 chạy ra ngoài gọi ông S Thấy bà R1 đi gọi ông S4 một vỏ chai bia Dung Quất loại chai thủy tinh đựng trong thùng nhựa bia Dung Quất đập vào trụ nhà bà R1 làm vỡ phần thân chai, còn phần cổ chai Triều cầm trên tay nhưng do cổ chai bia ngắn và làm tay T4 thương nên T5 bỏ và lấy một vỏ chai bia Dung Quất khác tiếp tục đập vỡ phần thân chai, còn phần cổ chai bia Triều cầm ở tay phải. Lúc này, ông S3 đến, bước lên hè nhà và nói với T “sao lại đánh mẹ L thì T cầm cổ vỏ chai bia Dung Quất giơ lên đâm ông S ông S5 tay nắm lại, giằng co để giật lại vỏ chai bia
nhưng không được nên ông S6 người định bỏ chạy thì T6 vỏ cổ chai bia ở tay phải đâm 02 cái trúng vào vùng lưng bên trái của ông S7 đâm ông S5 tay ôm vết thương và quay lại nói với T "làm sao mà đâm tôi”. Thấy vậy, bà R1 la to lên nên T5 vỏ cổ chai bia và bỏ đi còn ông S8 võng ngồi thì được Đinh X L1 băng bó vết thương và đưa đi cấp cứu tại Trung tâm Y tế huyện S, được chuyển đến điều trị tại Bệnh viện Đ
Nhận được tin báo, cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện S cùng Công an thị trấn D tiến hành khám nghiệm hiện trường và thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu.
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 121/KLGĐTT-TTPY ngày 16/4/2024 của Trung tâm Pháp y - Sở y tế tỉnh Q tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Đinh Văn S9 thời điểm giám định là 6%. Đến ngày 19/4/2024, ông Đinh Văn S có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối với hành vi gây thương tích của Đinh Văn T7
Bản cáo trạng số: 06/CT-VKS-SH ngày 04/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Hà đã truy tố bị cáo Đinh Văn T8 tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo Đinh Văn T9 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó, Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Đinh Văn T10 06 tháng đến 09 tháng tù cho hưởng án treo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu, tiêu huỷ: 01 (một) thùng nhựa, loại thùng đựng chai bia Dung Quất, màu xanh; 09 (chín) vỏ chai thủy tinh màu nâu, loại chai bia Dung Quất, dung tích 355ml; 02 (hai) vỏ chai thủy tinh trong suốt, loại chai nước ngọt “Number 1”, có dung tích 240ml; 01 (một) cổ vỏ chai thủy tinh bị vỡ phần thân, màu nâu, bên ngoài có dán giấy bạc màu vàng có dòng chữ “NHÀ MẢY BIA DUNG QUẤT, 02 - NGUYỄN CHÍ THANH, TP .kích thước (16x5) cm; 01 (một) cổ vỏ chai thủy tinh bị vỡ phần thân chai, màu nâu, bên ngoài dán giấy bạc màu vàng có dòng chữ “NHÀ MÁY BIA DUNG QUẤT, 02 NGUYỄN CHÍ THANH, TP.QN”, kích thước (7,5x3) cm; 20 (hai mươi) mảnh thủy tinh bị vỡ, màu nâu, có nhiều kích thước; 01 (một) con dao, loại dao lỡ, kích thước (31x5) cm, lưỡi dao bằng kim loại đã hen rỉ và bị mẻ dài 20cm; cán dao bằng nhựa màu xanh dài 11cm; 01 (một) võng vải dù, màu rằn ri; 03 (ba) áo sơ mi bị rách.
Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, giữa bị cáo T và bị hại ông Đinh Văn S10 thuận, bị cáo T11 thường cho ông S11 tiền 2.000.000 đồng nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các điều 584, 585 và 590 Bộ luật Dân sự ghi nhận sự thoả thuận này.
Đối với ông Đinh Văn S12 bà Đinh Thị R3 1998, bị cáo Đinh Văn T12 bà Đinh Thị R1 chung như vợ chồng và có với nhau một người con chung nhưng không đăng ký kết hôn, đến năm 2023, bà R1 và T không còn sống chung, sau đó, bà R1 quen biết và sống chung với ông Đinh Văn S13 quy định tại khoản 2 Điều 2 Nghị định số 77/2001/NĐ-CP ngày 22/10/2001 của Chính phủ quy định chi tiết về đăng ký kết hôn theo Nghị quyết số 35/2000/QH10 của Quốc hội về việc thi hành Luật Hôn nhân gia đình năm 2000, quy định nam và nữ sống chung như vợ chồng từ sau ngày 01/01/2003 mà không đăng ký kết hôn thì pháp luật không công nhận họ là vợ chồng. Như vậy, bị cáo T12 bà R1 không được pháp luật công nhận là vợ chồng. Do đó, việc bà R1 và ông S14 chung như vợ chồng không vi phạm điều cấm của Luật Hôn nhân gia đình nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S xem xét trách nhiệm hình sự đối với bà R1 và ông S15 tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng theo Điều 182 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì.
Bị hại ông Đinh Văn S: Về hình sự, ông đề nghị xét xử theo đúng quy định của pháp luật; về phần dân sự, ông yêu cầu Hội đồng xét xử buộc bị cáo T13 bồi thường cho ông số tiền 2.000.000 đồng.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại ông Đinh Văn S nhất trí với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát truy tố bị cáo Đinh Văn T8 tội: “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 584, Điều 585 và Điều 590 Bộ luật Dân sự buộc bị cáo T14 nghĩa vụ bồi thường cho ông S11 tiền 2.000.000 đồng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đinh Thị R4: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Lời nói sau cùng của bị cáo Đinh Văn T: Bị cáo thừa nhận hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện S, Viện kiểm sát nhân dân huyện S, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là ông Lê Văn T15, ông Đinh Văn S16; người làm chứng cháu Đinh T16 L2 và người đại diện hợp pháp cho cháu L2 là bà Đinh Thị H3 vắng mặt không có lý do nhưng đã có lời khai trong quá trình điều tra nên việc vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Do đó, căn cứ theo quy định tại Điều 292, Điều 293 của Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[3] Tại phiên tòa, bị cáo Đinh Văn T khai nhận: Do mâu thuẫn nên giữa bị cáo với bà R1 cãi nhau, trong lúc đang xảy ra mâu thuẫn với bà R1 thì ông S17 can ngăn bảo vệ cho bà R1 nên bị cáo T17 tức dùng cổ vỏ chai bia D đã bị vỡ là hung khí nguy hiểm đâm hai cái về phía ông S trúng vào vùng lưng, bị cáo hoàn toàn không có ý thức đâm cụ thể vào vị trí nào trên cơ thể và không có ý định tước đoạt tính mạng của ông S18 quả làm ông S bị thương tích với tỷ lệ 6%. Đồng thời, tại kết luận giám định pháp y cũng xác định các tổn thương trên cơ thể ông S19 không cấp cứu kịp thời cũng không dẫn đến chết người. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Hà truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Những lời nhận tội của bị cáo là phù hợp với những tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ và được thẩm tra tại phiên toà. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận bị cáo Đinh Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích” được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[4] Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức việc dùng vỏ chai bia gây thương tích cho người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của người khác mà pháp luật bảo vệ nên cần phải xử lý nghiêm. Tuy nhiên, xét bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần xử bị cáo một mức án tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo, không cần thiết bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù cũng đủ tính răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, giữa bị cáo Đinh Văn T12 bị hại ông Đinh Văn S20 thoả thuận thống nhất bị cáo T11 thường cho ông S11 tiền 2.000.000 đồng nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 584, Điều 585 và Điều 590 Bộ luật Dân sự ghi nhận sự thoả thuận này là phù hợp.
[6] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Hà là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[7] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) thùng nhựa, loại thùng đựng chai bia Dung Quất, màu xanh; 09 (chín) vỏ chai thủy tinh màu nâu, loại chai bia Dung Quất, dung tích 355ml; 02 (hai) vỏ chai thủy tinh trong suốt, loại chai nước ngọt “Number 1”, có dung tích 240ml; 01 (một) cổ vỏ chai thủy tinh bị vỡ phần thân, màu nâu, bên ngoài có dán giấy bạc màu vàng có dòng chữ “NHÀ MÁY BIA DUNG QUẤT, 02 - NGUYỄN CHÍ THANH, TP .kích thước (16x5) cm; 01 (một) cổ vỏ chai thủy tinh bị vỡ phần thân chai, màu nâu, bên ngoài dán giấy bạc màu vàng có dòng chữ “NHÀ MÁY BIA DUNG QUẤT, 02 NGUYỄN CHÍ THANH, TP.QN”, kích thước (7,5x3) cm; 20 (hai mươi) mảnh thủy tinh bị vỡ, màu nâu, có nhiều kích thước đều thuộc sở hữu của ông Lê Văn T15; 01 (một) con dao, loại dao lỡ, kích thước (31x5) cm, lưỡi dao bằng kim loại đã hen rỉ và bị mẻ dài 20cm; cán dao bằng nhựa màu xanh dài 11cm, 02 (hai) áo sơ mi bị rách thuộc sở hữu của ông Đinh Văn S16; 01 (một) võng vải dù, màu rằn ri; 01 (một) áo sơ mi bị rách thuộc sở hữu của ông Đinh Văn S. Xét thấy, tại cơ quan điều tra, ông Tlông S1 và ông S khai các vật này đều không còn giá trị sử dụng và không yêu cầu trả lại nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự, tuyên tịch thu, tiêu hủy là có căn cứ.
[8] Đối với ông Đinh Văn S12 bà Đinh Thị R3 1998, bị cáo Đinh Văn T12 bà Đinh Thị R1 chung như vợ chồng và có với nhau một người con chung nhưng không đăng ký kết hôn, đến năm 2023, bà R1 và T không còn sống chung, sau đó, bà R1 quen biết và sống chung với ông Đinh Văn S13 quy định tại khoản 2 Điều 2 Nghị định số 77/2001/NĐ-CP ngày 22/10/2001 của Chính phủ quy định chi tiết về đăng ký kết hôn theo Nghị quyết số 35/2000/QH10 của Quốc hội về việc thi hành luật Hôn nhân gia đình năm 2000, quy định nam và nữ sống chung như vợ chồng từ sau ngày 01/01/2003 mà không đăng ký kết hôn thì pháp luật không công nhận họ là vợ chồng. Như vậy, bị cáo T12 bà R1 không được pháp luật công nhận là vợ chồng. Do đó, việc bà R1 và ông S14 chung như vợ chồng không vi phạm điều cấm của Luật Hôn nhân gia đình nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S xem xét trách nhiệm hình sự đối với bà R1 và ông S15 tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng theo Điều 182 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 65 và Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 584, Điều 585 và Điều 590 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên bố bị cáo: Đinh Văn T18 tội “Cố ý gây thương tích”, xử phạt bị cáo Đinh Văn T19 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng tính kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Đinh Văn T cho Ủy ban nhân dân thị trấn D, tỉnh Quảng Ngãi để giám sát, giáo dục.
Trường hợp bị cáo Đinh Văn T thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 của Luật thi hành án hình sự và thông báo bằng văn bản cho Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Tuyên bố trả tự do ngay tại phiên toà cho bị cáo Đinh Văn T
-
Về dân sự: Ghi nhận sự thoả thuận giữa bị cáo Đinh Văn T12 bị hại ông Đinh Văn S21 bị cáo T13 bồi thường cho ông S11 tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng chẵn).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong số tiền trên, nếu người phải thi hành án chậm thi hành án thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải trả cho người được thi hành án khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự.
Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
-
Tuyên tịch thu, tiêu huỷ vật chứng, tài sản sau:
- 01 (một) thùng nhựa, loại thùng đựng chai bia Dung Quất, màu xanh; 09 (chín) vỏ chai thủy tinh màu nâu, loại chai bia Dung Quất, dung tích 355ml;
- 02 (hai) vỏ chai thủy tinh trong suốt, loại chai nước ngọt “Number 1”, có dung tích 240ml; 01 (một) cổ vỏ chai thủy tinh bị vỡ phần thân, màu nâu, bên ngoài có dán giấy bạc màu vàng có dòng chữ “NHÀ MÁY BIA DUNG QUẤT, 02 - NGUYỄN CHÍ THANH, TP .kích thước (16x5) cm;
- 01 (một) cổ vỏ chai thủy tinh bị vỡ phần thân chai, màu nâu, bên ngoài dán giấy bạc màu vàng có dòng chữ “NHÀ MÁY BIA DUNG QUẤT, 02 – NGUYỄN CHÍ THANH, TP.QN”, kích thước (7,5x3) cm;
- 20 (hai mươi) mảnh thủy tinh bị vỡ, màu nâu, có nhiều kích thước;
- 01 (một) con dao, loại dao lỡ, kích thước (31x5)cm, lưỡi dao bằng kim loại đã hen rỉ và bị mẻ dài 20cm; cán dao bằng nhựa màu xanh dài 11cm;
- 03 (ba) áo sơ mi bị rách;
- 01 (một) võng vải dù, màu rằn ri;
(Phản ảnh tại biên bản giao, nhận vật chứng ngày 15/7/2024 giữa Công an huyện S Thi hành án dân sự huyện S);
-
Về án phí: Buộc bị cáo Đinh Văn T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
-
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đặng Anh Tuấn |
Bản án số 07/2024/HS-ST ngày 13/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN S TỈNH QUẢNG NGÃI về cố ý gây thương tích (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 07/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN S TỈNH QUẢNG NGÃI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Đinh Văn Triều và bà Đinh Thị Ráy sống chung như vợ chồng từ năm 1998 và có với nhau một người con chung nhưng không đăng ký kết hôn; đến năm 2023, bị cáo Triều và bà Ráy không còn chung sống nữa, sau đó bà Ráy quen biết và sống chung với ông Đinh Văn Séo, sinh năm 1981 tại nhà bà Ráy. Vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 11/4/2024, Triều đến nhà bà Ráy chơi thì gặp Đinh Văn Séo đang ngồi uống rượu tại gốc cây dừa gần nhà bà Ráy nên Triều đến ngồi cùng uống rượu. Đến khoảng 12 giờ 00 phút cùng ngày, sau khi uống rượu xong ông Séo đi ra võng ở ngoài vườn cây gần nhà bà Ráy nằm ngủ, còn Triều đi vào nhà bà Ráy lấy cơm ăn; một lúc sau, bà Ráy đi làm về thấy Triều dùng tay để bốc cơm ăn nên bà Ráy nói với Triều “ăn cơm sao bốc bằng tay” thì Triều và bà Ráy xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau; Triều lấy chén, đũa đập xuống nền nhà, bà Ráy thấy vậy cũng lấy chén đập xuống nền nhà, Triều lấy một vỏ chai thủy tinh loại chai Number 1 ở trong thùng nhựa đựng chai bia Dung Quất ném bà Ráy nhưng không trúng; bà Ráy chạy ra ngoài gọi ông Séo. Thấy bà Ráy đi gọi ông Séo, Triều lấy một vỏ chai bia Dung Quất loại chai thủy tinh đựng trong thùng nhựa bia Dung Quất đập vào trụ nhà bà Ráy làm vỡ phần thân chai, còn phần cổ chai Triều cầm trên tay nhưng do cổ chai bia ngắn và làm tay Triều bị thương nên Triều vứt bỏ và lấy một vỏ chai bia Dung Quất khác tiếp tục đập vỡ phần thân chai, còn phần cổ chai bia Triều cầm ở tay phải. Lúc này, ông Séo đi đến, bước lên hè nhà và nói với Triều “sao lại đánh mẹ Lễ” thì Triều cầm cổ vỏ chai bia Dung Quất giơ lên đâm ông Séo, ông Séo dùng tay nắm lại, giằng co để giật lại vỏ chai bia nhưng không được nên ông Séo xoay người định bỏ chạy thì Triều cầm vỏ cổ chai bia ở tay phải đâm 02 cái trúng vào vùng lưng bên trái của ông Séo, bị đâm ông Séo dùng tay ôm vết thương và quay lại nói với Triều "làm sao mà đâm tôi”. Thấy vậy, bà Ráy la to lên nên Triều vứt vỏ cổ chai bia và bỏ đi còn ông Séo ra võng ngồi thì được Đinh Xuân Long băng bó vết thương và đưa đi cấp cứu tại Trung tâm Y tế huyện Sơn Hà. Sau đó, được chuyển đến điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Ngãi.
