TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ PHONG TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 07/2024/HNGĐ - ST Ngày: 13/6/2024 V/v: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ PHONG, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Diên Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lô Văn Tuất và Lô Thị Thuý Hà.
Thư ký phiên tòa: Ông Lang Thanh Như - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Vi Thị Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số 25/2024/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2024, Về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Huống Văn C, sinh năm 1979;
- Địa chỉ: Bản Đ, xã Đ, huyện Q, tỉnh Nghệ An, có mặt.
- Bị đơn: Chị Hà Thị H, sinh năm 1978;
- Địa chỉ: Bản Đ, xã Đ, huyện Q, tỉnh Nghệ An;
- Hiện nay đang chấp hành án tại: Đ - K1 - Trại giam S Bộ C2 ở xã H, huyện T, tỉnh Nghệ An, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 08/5/2024, các tài liệu có trong hồ sơ và tại phiên tòa, nguyên đơn anh Huống Văn C trình bày:
Về hôn nhân: Anh Huống Văn C và chị Hà Thị H đăng ký kết hôn vào ngày 01/01/2003 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn thì vợ chồng chung sống hoà thuận cho đến khi chị H bị bắt về hành vi Vận chuyển trái phép chất ma tuý, dẫn đến vợ chồng phải ly thân hơn 4 năm nay, làm cho tình cảm vợ chồng nhạt phai, cuộc sống gia đình bị đảo lộn. Nay anh C nhận thấy tình cảm vợ chồng đã trầm trọng, cuộc sống chung không có, mục đích của hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết được ly hôn với chị Hà Thị H.
Về con chung: Anh Huống Văn C và chị Hà Thị H có 03 con chung là Huống Thành C1, sinh ngày 05/5/2000; Huống Thị Lệ Q, sinh ngày 17/6/2002 và Huống Thị Minh T, sinh ngày 15/02/2009; vợ chồng không ai có con riêng. Đối Với Huống Thành C1 và Huống Thị Lệ Q đã đủ 18 tuổi trưởng thành. Đối với Huống Thị Minh T, khi ly hôn anh C có nguyện vọng được nuôi cháu cho đến lúc 18, tuổi trưởng thành. Và không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Anh Huống Văn C không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai của bị đơn: Chị Hà Thị H thừa nhận việc đăng ký kết hôn với anh Huống Văn C vào năm 2003 tại UBND xã Đ, huyện Q; hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, chị H công nhận vợ chồng không còn tình cảm gì nữa. Nay anh Huống Văn C yêu cầu ly hôn thì chị H đồng ý.
Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là Huống Thành C1, sinh ngày 05/5/2000; Huống Thị Lệ Q, sinh ngày 17/6/2002 và Huống Thị Minh T, sinh ngày 15/02/2009; vợ chồng không ai có con riêng. Khi ly hôn chị H đồng ý để anh Huống Văn C được quyền nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị H có trình bày vợ chồng có một mảnh đất đứng tên 02 người do khai phá mà có. Chị H đề nghị Toà án không giải quyết; để sau này chị chấp hành án xong về sẽ giải quyết; anh C ở nhà không được tự ý bán khi chưa có ý kiến của chị H. Vợ chồng không có nợ ai và cũng không ai nợ gì của vợ chồng.
Vụ án này, Tòa án không hòa giải được vì vắng mặt bị đơn bởi vì chị H đang chấp hành án tại: Đ - K1 - Trại giam S Bộ C2 ở xã H, huyện T, tỉnh Nghệ An. Do đó, Tòa án triệu tập hợp lệ theo quy định của pháp luật nhưng chị H đề nghị Toà án giải quyết vắng mặt. Vì vậy, việc xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa ngày hôm nay:
Anh Huống Văn C vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với chị Hà Thị H với nội dung các lời khai mà anh đã trình bày tại Tòa án.
Chị Hà Thị H yêu cầu Toà án giải quyết vắng mặt bởi vì chị đang chấp hành án không thể có mặt tại phiên toà được.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm đối với vụ án:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, thư ký đã thực hiện đúng các trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng. Người tham gia tố tụng tại phiên tòa Nguyên đơn chấp hành pháp luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án; bị đơn không chấp hành pháp luật là do chị Hà Thị H đang phải chấp hành án nên vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà là có lý do.
Về nội dung vụ án:
Về hôn nhân: Áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cho anh Huống Văn C được ly hôn với chị Hà Thị H.
Về con chung: Áp dụng các Điều 81; 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu cho anh Huống Văn C được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con Huống Thị Minh T, sinh ngày 15/02/2009 cho đến lúc đủ 18 tuổi, trưởng thành.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Xét thấy anh C không có yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Hà Thị H.
Về tài sản chung và nợ chung: Anh C và chị H không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Đề nghị áp dụng Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về quy định mức miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc Anh Huống Văn C phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm.
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào lời khai của đương sự và kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân. Trong vụ án, bị đơn có chỗ ở hiện nay tại xã Đ, huyện Q, tỉnh Nghệ An theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Tòa án nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền.
Trong quá trình giải quyết vụ án đến khi kết thúc phần nghị án Hội đồng xét xử, Thẩm phán, Hội thẩm nhân, kiểm sát viên và Thư ký phiên Tòa tuân thủ theo quy định của Bộ luật tố tụng.
Bị đơn: Chị Hà Thị H được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng chị H có đơn yêu cầu Toà án giải quyết vắng mặt với lý do là đang chấp hành án nên không thể hoà giải và tham gia phiên toà. Tòa án đã tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về hôn nhân: Anh C và chị H đăng ký kết hôn vào ngày 01/01/2003 tại UBND xã Đ, huyện Q, tỉnh Nghệ An, trên cơ sở tự nguyên. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Xét thấy quá trình chuẩn bị xét xử cũng như tại phiên tòa anh C cùng trình bày nguyên nhân mâu thuẫn do chị H bị bắt về hành vi Vận chuyển trái phép chất ma tuý, dẫn đến vợ chồng phải ly thân làm cho tình cảm vợ chồng nhạt phai, cuộc sống gia đình bị đảo lộn. Nay anh C xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống mỗi người một nơi nên không thể chung sống hạnh phúc, anh và chị H không thể hàn gắn, đoàn tụ gia đình được nữa. Do đó, anh C yêu cầu được ly hôn với chị Hà Thị H.
Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa ngày hôn nay, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng chị H có đơn yêu cầu Toà án giải quyết vắng mặt với lý do là đang chấp hành án không thể có mặt để tham gia giải quyết vụ án và phiên toà. Do vậy, cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Huống Văn C là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là Huống Thành C1, sinh ngày 05/5/2000; Huống Thị Lệ Q, sinh ngày 17/6/2002 và Huống Thị Minh T, sinh ngày 15/02/2009. Khi ly hôn anh C có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là Huống Thị Minh T và không yêu cầu chị H đóng góp tiền nuôi dưỡng con. Cháu T cũng có nguyện vọng được sống chung cùng với anh C. Để tránh xáo trộn cuộc sống, cũng như để đảm bảo quyền lợi của cháu; nên Hội đồng xét xử, xét thấy cần giao con chung là Huống Thị Minh T cho anh C được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Anh C, chị H không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[5] Về án phí: Anh Huống Văn C phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; 174; 175; 177; Điều 227; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Căn cứ vào Điều 56, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân gia đình.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn. Cho anh Huống Văn C được ly hôn với chị Hà Thị H.
- Về con chung: Giao con chung là Huống Thị Minh T, sinh ngày 15/02/2009 cho anh Huống Văn C được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục kể từ tháng 6 năm 2024 cho đến khi con đủ 18 tuổi trưởng thành. Chị Hà Thị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn: Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho chị Hà Thị H.
Trường hợp quyết định được thi hành án theo qui định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6; 7; 7a; 9 thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về án phí: Anh Huống Văn C phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn) đồng, theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0010673 ngày 09 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Hồ Diên Tuấn |
Bản án số 07/2024/HNGĐ - ST ngày 13/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ PHONG, TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 07/2024/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ PHONG, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Anh Huồng Va Cường yêu cầu ly hôn chị Hà Thị H
