|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG – TP. ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 07/2024/HNGĐ-ST Ngày 12 tháng 4 năm 2024 V/v " Tranh chấp Ly hôn, nuôi con chung” |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG, TP. ĐÀ NẴNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Khánh
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Lê Duy Cửu
- Bà Lê Thị Hoàng Thương
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Ly - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Duy Linh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 12 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 147/2023/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 11 năm 2023 về việc tranh chấp "Ly hôn, nuôi con chung" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2024/QĐXX-HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2024/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ng, sinh năm: 1973; Địa chỉ: Thôn Quá Giáng 2, xã Hòa Phước, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. (có mặt)
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn K, sinh năm: 1975; Địa chỉ: Thôn Quá Giáng 2, xã Hòa Phước, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện gửi đến Tòa án ngày 14 tháng 11 năm 2023, bản tự khai và trình bày tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ng thể hiện:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Ng và ông Nguyễn Văn K xây dựng gia đình năm 1999 có đăng ký kết hôn tại UBND xã Hoà Phước, huyện Hoà Vang, thành phố Đà Nẵng, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện.
Sau đó vợ chồng chuyển về sinh sống tại thôn Quá Giáng 2, xã Hòa Phước, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng, trong quá trình chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân là do ông Nguyễn Văn K thường xuyên uống bia rượu say xỉn bạo hành đánh đập bà Nguyễn Thị Ng, bà Nga đã nhiều lần Công an xã Hòa Phước can thiệp.
Nay bà Nguyễn Thị Ng xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với ông Nguyễn Văn K.
- Về con chung: Bà Nguyễn Thị Ng xác định vợ chồng có 02 (hai) người con chung là Nguyễn Quốc H, sinh ngày 17/5/2000 và Nguyễn Quốc Long Nh, sinh ngày 27/10/2008.
Ly hôn, bà Ng có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Quốc Long Nh, sinh ngày 27/10/2008, không yêu cầu ông Nguyễn Văn K đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung.
Đối với con chung Nguyễn Quốc H, sinh ngày 17/5/2000 đã trên 18 tuổi nên không đề cập đến.
- Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Ng không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị Ng xác định không có.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án nhân dân huyện Hòa Vang đã gửi Thông báo về việc thụ lý vụ án cho ông Nguyễn Văn K, để biết việc bà Nguyễn Thị Ng gửi đơn xin ly hôn đến Tòa án. Đồng thời, Toà án đã thông báo về các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; quyết định về việc đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa đối với ông Nguyễn Văn K, nhưng ông Nguyễn Văn K không có ý kiến phản hồi và vắng mặt tại các phiên hoà giải cũng như hai lần mở phiên toà.
* Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang đã căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, thụ lý giải quyết vụ án đúng thẩm quyền. Tòa án đã tiến hành việc thu thập chứng cứ đảm bảo theo quy định tại Điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự.
Thời hạn chuẩn bị xét xử được đảm bảo theo quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự. Việc cấp, tống đạt văn bản tố tụng đảm bảo theo các Điều 171, 177 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân theo đúng quy định của pháp luật.
- Đối với các đương sự:
+ Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng;
+ Bị đơn, mặc dù đã được Tòa án thực hiện việc cấp tống đạt các văn bản tố tụng theo đúng trình tự do pháp luật quy định, nhưng vẫn vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng và cũng không gửi cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến, không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 71,72 và 234 Bộ luật tố tụng dân sự.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Việc bà Nguyễn Thị Ng yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Văn K là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, xử cho bà Nguyễn Thị Ng được ly hôn với ông Nguyễn Văn K.
Về con chung: Giao con chung chưa thành niên Nguyễn Quốc Long Nh, sinh ngày 27/10/2008 cho bà Ng trực tiếp nuôi dưỡng, ông Nguyễn Văn K không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung.
Đối với con chung Nguyễn Quốc H, sinh ngày 17/5/2000 đã trên 18 tuổi nên không đề cập đến
Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Ng không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập giải quyết.
Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị Ng xác định không có nên không đề cập đến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng phát biểu quan điểm về vụ án, sau khi thảo luận và nghị án. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Thị Ng khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn K, sinh năm: 1975; Địa chỉ: Thôn Quá Giáng 2, xã Hòa Phước, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. Căn cứ Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì đây là vụ án tranh chấp ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nên Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng thụ lý giải quyết là đúng quy định của pháp luật.
- Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông Nguyễn Văn K tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng ông Nguyễn Văn K vẫn vắng mặt. Vì vậy căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Nguyễn Văn K.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Ng và ông Nguyễn Văn K xây dựng gia đình năm 1999 có đăng ký kết hôn tại UBND xã Hoà Phước, huyện Hoà Vang, thành phố Đà Nẵng. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, đây là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật tôn trọng và bảo vệ.
Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, bà Nguyễn Thị Ng giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin được ly hôn với ông Nguyễn Văn K, lý do là tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được.
Xét yêu cầu của bà Nguyễn Thị Ng thì thấy: Hạnh phúc gia đình chỉ thực sự đạt được khi cả vợ chồng cùng yêu thương, chia sẻ, quan tâm nhau. Tuy nhiên theo bà Ng thì trong thời gian chung sống với nhau giữa bà và ông K không có được những điều đó thể hiện ở việc ông Nguyễn Văn K thường xuyên uống bia rượu say xỉn bạo hành, đánh đập bà Nga, sự việc này Công an xã Hòa Phước can thiệp nhưng vẫn không thay đổi.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập các bên đương sự để tiến hành hòa giải nhiều lần nhưng vẫn không thực hiện được do ông Nguyễn Văn K không hợp tác, điều này thể hiện ông Nguyễn Văn K không có thiện chí để hàn gắn hạnh phúc gia đình.
Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa bà Nguyễn Thị Ng và ông Nguyễn Văn K là có thật và đã đến mức độ trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Ng đối với ông Nguyễn Văn K là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
[3] Về quan hệ con chung: Bà Nguyễn Thị Ng có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung chưa thành niên Nguyễn Quốc Long Nh, sinh ngày 27/10/2008, không yêu cầu ông K phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung.
Còn ông Nguyễn Văn K không có lời khai và ý kiến đối với nguyện vọng được nuôi con chung của bà Nguyễn Thị Ng.
Xét thấy việc giao con chung cho ai nuôi dưỡng phải đảm bảo cuộc sống cũng như tương lai của con chung và điều kiện thực tế của mỗi bên. Hiện tại con chung đang được bà Nguyễn Thị Ng chăm sóc nuôi dưỡng, vì vậy cần giao con chung cho bà Nga tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng cháu Nguyễn Quốc Long Nh.
Bà Nguyễn Thị Ng không yêu cầu ông Nguyễn Văn K đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung nên không đề cập đến.
Đối với con chung Nguyễn Quốc H, sinh ngày 17/5/2000 đã trên 18 tuổi nên không đề cập đến
[4] Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Ng không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[5] Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị Ng xác định không có nên không đề cập đến.
[6] Về án phí: Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Bà Nguyễn Thị Ng phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm;
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều: 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp Ly hôn, nuôi con chung” của bà Nguyễn Thị Ng đối với ông Nguyễn Văn K
Tuyên Xử:
1.Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị Ng được ly hôn với ông Nguyễn Văn K.
2. Về quan hệ con chung: Giao con chung Nguyễn Quốc Long Nh, sinh ngày 27/10/2008 cho bà Nguyễn Thị Ng trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Ông Nguyễn Văn K không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi dưỡng con chung.
Các bên đương sự có mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Khi vì lợi ích con chung, các bên đương sự có quyền xin thay đổi người nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Đối với con chung Nguyễn Quốc H, sinh ngày 17/5/2000 đã trên 18 tuổi nên không đề cập đến
3.Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Ng không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập giải quyết.
4. Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị Ng xác định không có nên không đề cập đến.
5.Về án phí: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm: 300.000₫ bà Nguyễn Thị Ng phải chịu, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000₫ bà Nga đã nộp tại biên lai thu số 0001747 ngày 27/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. Như vậy bà Nguyễn Thị Ng đã nộp đủ án phí Hôn nhân gia đình;
6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án, hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hữu Khánh |
Bản án số 07/2024/HNGĐ-ST ngày 12/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG, TP. ĐÀ NẴNG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 07/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG, TP. ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: mâu thuẫn gia đình
