Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2024/DS-PT.

Ngày: 12/01/2024.

V/v: “Tranh chấp chia tài sản chung

và chia di sản thừa kế"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán- chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hương Giang

Các thẩm phán: Ông Nguyễn Hà Giang, ông Nguyễn Việt Hùng.

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Hoa-Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang: Ông Lương Thất Tùng – Kiểm sát viên.

Ngày 22/9/2023 và ngày 12/01/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 132/2023/TLPT- DS ngày 25/7/2023 về việc: “Tranh chấp chia tài sản chung và chia di sản thừa kế”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 24/2023/DS-ST ngày 29/5/2023 của Toà án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 149/2023/QĐ-PT ngày 7/8/2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 208 /2023/QĐ-PT ngày 29/8/2023; Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 98/2023/QĐ-PT ngày 22/9/2023; Thông báo thay đổi thời gian mở lại phiên tòa số 46/2023/QĐ-PT ngày 23/10/2023; Thông báo thay đổi thời gian mở lại phiên tòa số 222/2023/QĐ-PT ngày 22/12/2023 giữa:

Nguyên đơn: Chị Tô Thị Mai H, sinh ngày 05/03/2004;

Địa chỉ: Thôn Q, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang. (Có mặt tại phiên tòa 22/9/2023, vắng mặt tại phiên tòa 12/01/2024)

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Chị Hoàng Thị M, sinh năm 1983 (Có mặt)

Địa chỉ: Địa chỉ: Thôn Q, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Ong Thị T và Luật sư Ngô Thị T1 thuộc Văn phòng L3 – Đoàn luật sư tỉnh B (Luật sư T có mặt, Luật sư T1 vắng mặt tại phiên tòa 12/01/2024)

Bị đơn: Ông Tô Văn X, sinh năm 1963 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn Q, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Bà Nguyễn Kiều T2 – sinh năm 2000 và ông Phí Mạnh N – sinh năm 2000 thuộc Công ty L4 – Đoàn Luật sư thành phố H, địa chỉ: Số C, ngõ A, phố T, phường Y, quận C, thành phố Hà Nội. (ông N có mặt, bà T2 vắng mặt tại phiên tòa 12/01/2024)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Luật sư Nguyễn Thị Minh N1 và Luật sư Nguyễn Thị L thuộc Công ty L4 – Đoàn Luật sư thành phố H, địa chỉ: Số C, ngõ A, phố T, phường Y, quận C, thành phố Hà Nội. (Luật sư L có mặt, Luật sư N1 vắng mặt tại phiên tòa 12/01/2024)

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập:

- Ông Tô Quang T3, sinh năm 1973 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn Q, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Người đại diện theo ủy quyền của ông T3: Bà Vũ Thị Á, sinh năm 1962 (có mặt)

Địa chỉ: Thôn Q, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

- Chị Tô Thị Bích H1, sinh năm 1986 (có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn C, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang

- Chị Hoàng Thị M, sinh năm 1983 (có mặt)

Địa chỉ: Thôn Q, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

- UBND huyện L, tỉnh Bắc Giang do ông Nguyễn Văn Q – Chuyên viên phòng Tài nguyên và môi trường huyện L đại diện theo ủy quyền (theo văn bản ủy quyền ngày 01/12/2022) (vắng mặt)

- UBND xã N do ông Đinh Văn K – Chủ tịch UBND xã đại diện theo pháp luật. (vắng mặt)

Địa chỉ: Xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang

* Người kháng cáo: Ông Tô Văn X là bị đơn trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn chị Tô Thị Mai H và người đại diện theo ủy quyền và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn thống nhất trình bày:

Ông bà nội của chị là ông Tô Quang L1, sinh năm 1942, chết năm 2015 và bà Phạm Thị G, sinh năm 1941, chết ngày 16/10/2020. Ông bà nội chị có tất cả 04 người con, gồm:

  1. Tô Văn X, sinh năm 1963.
  2. Tô Quang T3, sinh năm 1973.
  3. Tô Quang T4, sinh năm 1980 (chết ngày 21/3/2010).
  4. Tô Thị Bích H1, sinh năm 1986.

Ngoài ra, cụ L1, cụ G không có nhận con nuôi nào khác.

Trong quá trình sinh sống, cụ L1, cụ G có tài sản chung là diện tích 1060m²

(trong đó có 400m² đất ở, 660m² đất vườn) tại thôn Q, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang, được huyện L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Q713385 ngày 11/12/2000, mang tên hộ ông Tô Quang L1. Tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hộ gia đình ông bà chị H gồm có 04 thành viên là cụ Tô Quang L1, cụ Phạm Thị G, anh Tô Quang T4, chị Tô Thị Bích H1. Còn hai người con trai lớn của cụ L1, cụ G là ông Tô Văn X, ông Tô Quang T3 khi đó đã trưởng thành, lập gia đình ở riêng, cũng ở trong cùng thôn Q, xã N.

Thửa đất của có tứ cạnh tiếp giáp:

Phía Đông: Giáp nhà ông H2, ông Lai

Phía Tây: Giáp đường đi của thôn

Phía Nam: Giáp đường đi của thôn

Phía Bắc: Giáp nhà ông L2

Trên thửa đất này, khi còn sống, cụ L1, cụ G đã xây dựng các tài sản gồm: 01 ngôi nhà mái bằng đổ trần lợp proximăng và 01 nhà bếp lợp ngói móc, 01 nhà chăn nuôi, 01 sân gạch, 01 giếng khoan, 02 bể nước và các cây ăn quả.

Năm 2003, bố mẹ chị kết hôn. Sau khi kết hôn thì bố mẹ chị ở cùng với ông L1, bà G, chị H1 tại thôn Q. Ngày 05/3/2004, chị được sinh ra.

Ngày 21/3/2010, bố chị là Tô Quang T4 chết vì bệnh hiểm nghèo.

Tháng 8/2010, cô chị là Tô Thị Bích H1 lấy chồng và chuyển về sinh sống tại nhà chồng ở thôn C, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Nhà còn mẹ con chị sống cùng vợ chồng cụ L1, cụ G.

Ngày 09/02/2015, cụ Tô Quang L1 bị bệnh chết, không để lại di chúc. Nhà chỉ còn mẹ con chị ở cùng cụ G. Cụ Gái tuổi già, sức khỏe yếu, bị bệnh tiểu đường, huyết áp cao... Năm 2017 bệnh cụ G chuyển nặng, không thể tự đi lại. Chủ yếu một mình mẹ chị chăm cụ G và lo toan gánh vác mọi công việc trong nhà.

Một thời gian sau khi cụ L1 chết, cụ G có ý định làm thủ tục tặng cho nhà đất sang tên cho chị. Do cụ L1 không để lại di chúc nên cụ Gái gọi ông X, ông T3 và chị H1 về họp gia đình nhưng không thống nhất được.

Ngày 26/9/2017, cụ G đã lập di chúc định đoạt phần đất thuộc quyền sử dụng của cụ G trong tổng diện tích 1060m² tại thôn Q, xã N, huyện L của cụ L1, cụ G đã được UBND huyện L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Q713385, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02308 QSDĐ/QĐ số 651QĐ/UB(H) ngày 11/12/2000, với nội dung: “Sau khi tôi qua đời, phần đất của tôi sẽ để lại cho cháu nội tôi là cháu Tô Thị Mai H, sinh năm 2004, hiện có hộ khẩu thường trú tại thôn Q, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang được sở hữu phần đất của tôi. Khi đó cháu Tô Thị Mai H là chủ sở hữu duy nhất của phần đất của tôi, không ai khác được gây mất đoàn kết gia đình, không ai được tranh chấp. Đây là di chúc đầu tiên của tôi và cũng là sự định đoạt đầu tiên về quyền sử dụng đất nói

trên".

Di chúc của cụ G lập có người làm chứng là ông Phạm Quang T6, là hàng xóm giáp nhà cụ G tại thôn Q, xã N chứng kiến, cụ G đã điểm chỉ và được UBND xã N tiếp nhận làm thủ tục chứng thực theo quy định của pháp luật. Số chứng thực: 120 quyển số: 01/2016 (1) – SCT/HĐ,GD Ngày 26/9/2017. Di chúc được lập thành 02 bản chính (mỗi bản chính gồm 01 tờ, 02 trang); cụ G giữ 01 bản, 01 bản lưu tại UBND xã N.

Đến tháng 10/2020, cụ G bệnh trở nặng, mẹ con chị chăm sóc cụ G chu đáo. Ngày 15/10/2020, vợ chồng ông X, bà Á sang nhà bảo mẹ con chị để 2 vợ chồng ông X, bà Á đưa cụ G về nhà vợ chồng ông X ở để khi cụ G chết thì vợ chồng ông X đứng ra lo liệu hậu sự cho cụ G. Vợ chồng ông X đưa cụ G về được 01 đêm, đến 9h30' sáng hôm sau ngày 16/10/2020 thì cụ G chết. Vợ chồng ông X tổ chức làm tang lễ cho cụ G, mẹ con chị cũng đến tham gia lo liệu công việc cho cụ G đến khi xong việc. Sau tang lễ, ông X lập bàn thờ cúng 49 ngày cho cụ G tại nhà ông X. Sau khi hết 49 ngày, ông X, bà Á báo cho mẹ chị biết sẽ chuyển ban thờ của cụ G về nhà của cụ G để thờ cúng từ ngày 20/10/2020 (âm lịch) và mẹ con chị đã dọn nhà cửa để cho vợ chồng ông X chuyển bàn thờ về thờ cúng.

Ngày 22/10/2020 (âm lịch), xảy ra sự việc vợ chồng ông X, bà Á cùng con trai vào nhà mẹ con chị ở khuân hết quần áo, đồ dùng cá nhân của hai mẹ con chị vứt ra ngoài sân rồi lấy khóa khác khóa cửa nhà lại vì cho rằng mẹ con chị không tôn trọng vợ chồng ông X trong việc thờ cúng cụ G. Khi mẹ chị phản đối thì vợ chồng ông X cho rằng đó là nhà của cụ L1, cụ G giờ để làm nhà thờ cúng, bắt hai mẹ con chị phải xuống ở nhà bếp lợp ngói móc đã cũ nát bên dưới. Căn nhà này không thể ở được, mẹ con chị đã sang ở nhờ nhà bà ngoại ở thôn T, xã N đó hơn 1km.

Do bất bình trước việc làm tự ý của vợ chồng ông X, mẹ chị đã gửi đơn lên UBND xã N đề nghị xem xét, yêu cầu chấm dứt ngay hành vi vi phạm pháp luật nêu trên. Đồng thời, mẹ chị cũng thông báo cho ông X và mọi người trong gia đình biết về bản Di chúc ngày 26/9/2017 của cụ Phạm Thị G. Sau khi biết về nội dung di chúc của bà nội thì gia đình đã tổ chức họp nhưng không thống nhất được việc phân chia di sản nhà đất của ông bà nội chị.

Đến nay, chị xác định nội bộ gia đình chị không thể tự thỏa thuận và thống nhất được việc phân chia đối với khối di sản nhà đất của cụ L1, cụ G để lại.

Chị xác định quyền sử dụng thửa đất số 00, tờ bản đồ số 00, diện tích 1060m² tại thôn Q, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang cùng tài sản trên đất là di sản của cụ L1, cụ G để lại. Cụ L1 chết không để lại di chúc. Cụ G và các con là Tô Văn X, Tô Quang T3, Tô Quang T4, Tô Thị Bích H1 là những người thuộc hàng thừa

kế thứ nhất của cụ L1. Anh Tô Quang T4 đã chết năm 2010, chị là con gái duy nhất của anh T4 nên theo pháp luật về thừa kế thế vị thì chị được nhận đối với kỷ phần thừa kế mà anh T4 được nhận từ di sản của cụ L1. Đồng thời, theo Di chúc của cụ G lập ngày 26/9/2017 thì chị được nhận toàn bộ phần đất của cụ G trong tổng thế diện tích đất 1060m² nêu trên.

Chị yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau:

  1. Chia tài sản chung là quyền sử dụng đất thửa đất số 00, tờ bản đồ số 00, diện tích 1060m² tại thôn Q, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang đã được UBND huyện L cấp giấy chứng nhập quyền sử dụng đất cho hộ ông Tô Quang L1 ngày 12/11/2000 cùng tài sản trên đất là di sản của cụ L1, cụ G để lại.
  2. Đề nghị Tòa án công nhận di chúc được lập ngày 26/09/2017 của cụ Phạm Thị G là hợp pháp. Chia thừa kế theo nội dung của di chúc là ½ giá trị nhà đất tại thửa số 00, tờ bản đồ số 00, diện tích 1060m² tại thôn Q, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang là di sản cụ Phạm Thị G.
  3. Đề nghị Tòa án chia di sản của cụ Tô Quang L1 để lại là ½ giá trị nhà đất tại thửa số 00, tờ bản đồ số 00, diện tích 1060m² tại thôn Q, xã G, huyện L, tỉnh Bắc Giang theo quy định của pháp luật.

Hiện nay, mẹ con chị vẫn đang ở nhờ nhà ông bà ngoại. Do đó, nguyện vọng của chị là được trích chia thừa kế bằng hiện vật (được nhận bằng đất) để làm nơi thờ cúng cụ L1, cụ G và ông T4.

Bị đơn là ông Tô Văn X do bà Vũ Thị Á đại diện theo ủy quyền trình bày: Ông là con cả của cụ Tô Quang L1, cụ Phạm Thị G. Về hàng thừa kế của cụ Tô Quang L1, cụ Phạm Thị G như chị H trình bày ông xác nhận là đúng. Tuy nhiên, về di chúc ngày 26/09/2017 của cụ Phạm Thị G lập hiện chị H đề nghị Tòa án công nhận, ông xác định di chúc này là giả mạo và vô hiệu vì chị Tô Thị Bích H1 là người thừa kế theo pháp luật của cụ G vì vậy chị H1 không thể là người viết di chúc và là người làm chứng theo quy định tại khoản 3 Điều 630 và khoản 1 Điều 632 BLDS. Hơn nữa khi lập di chúc chỉ có một người chứng kiến là anh Phạm Quang T6, anh T6 lúc thì xác định là chị Hoàng Thị M mang bản di chúc sang cho anh T6 ký hộ là trái với quy định tại Điều 636 BLDS. Việc có mình ông T6 ký tên vào bản di chúc với tư cách là người làm chứng là không đảm bảo đúng theo quy định tại Điều 634 BLDS. Do đó, ông đề nghị Tòa án tuyên bố bản di chúc ghi ngày 26/09/2017 được UBND xã N vào sổ chứng thực số 120 quyển số 01/2016 (1) – SCT/HĐ, GD vô hiệu.

Ông yêu cầu Tòa án chia di sản thừa kế của cụ Tô Quang L1, cụ Phạm Thị G để lại là diện tích 1060m² tại thôn Q, xã N, huyện L đã được UBND huyện L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Q713385, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02308 QSDĐ/QĐ số 651QĐ/UB(H) ngày 11/12/2000 theo pháp luật.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là ông Tô Quang T3 do bà Vũ Thị Á đại diện theo ủy quyền thống nhất trình bày: Ông là con thứ 2 của cụ L1, cụ G. Ông xác định thời điểm cụ L1, cụ G chết và di sản thừa kế của cụ L1, cụ G như chị H trình bày là đúng. Tuy nhiên, quan điểm của ông là đồng ý với ý kiến của ông X đã trình bày, ông không nhất trí với yêu cầu khởi kiện của chị H. Ông đề nghị Tòa án chia di sản thừa kế của cụ L1, cụ G để lại là diện tích 1060m² tại thôn Q, xã N, huyện L đã được UBND huyện L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Q713385, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02308 QSDĐ/QĐ số 651QĐ/UB(H) ngày 11/12/2000 và tài sản trên đất theo pháp luật. Phần thừa kế ông được nhận ông đồng ý cho ông X quản lý, sử dụng để làm nơi thờ cúng tổ tiên.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là chị Tô Thị Bích H1 trình bày: Chị là con gái út của cụ Tô Quang L1, cụ Phạm Thị G. Về thời điểm cụ L1, cụ G chết và hàng thừa kế của cụ L1, cụ G như chị H trình bày chị xác nhận là đúng. Về di chúc lập ngày 26/09/2017 của cụ Phạm Thị G là do chị là người viết di chúc này. Lý do chị viết là chị về thăm cụ G nên cụ gái có nhờ chị viết nội dung như trong di chúc, chị xác định việc cụ G lập di chúc như trên đúng theo nguyện vọng của cụ G và chị nhất trí với nội dung của di chúc. Chị xác định thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ cụ L1 chị là thành viên của hộ, chị yêu cầu Tòa án chia tài sản chung là diện tích 1060m² tại thôn Q, xã N, huyện L đã được UBND huyện L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Q713385, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02308 QSDĐ/QĐ số 651QĐ/UB(H) ngày 11/12/2000 và chia phần di sản thừa kế của cụ L1 cho chị theo pháp luật.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là UBND huyện L do ông Nguyễn Văn Q – Chuyên viên phòng Tài nguyên và Môi trường huyện L đại diện theo ủy quyền trình bày:

Đối với việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Tô Quang L1: Ngày 11/12/2000, hộ gia đình ông Tô Quang L1 được UBND huyện L cấp 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thôn Q, xã N với diện tích 1060m² (trong đó: Đất ở 400m²; vườn 660m²) theo Quyết định số 651/QĐ-CT(H), có số vào sổ 02308, số seri Q 713385. Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này là cấp cho hộ gia đình ông Tô Quang L1, không phải cấp riêng cho vợ chồng ông Tô Quang L1, bà Phạm Thị G.

Việc xác định các thành viên, nhân khẩu của hộ gia đình ông Tô Quang L1 tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2000 thuộc trách nhiệm của UBND xã N, cụ thể là Công an xã N. Trường hợp Toà án nhân dân huyện Lục Nam có nhu cầu kiểm tra xác minh các thành viên, nhân khẩu của hộ ông Tô Quang L1 thời điểm cấp Giấy chứng nhận năm 2000 nêu trên thì liên hệ UBND

xã N để được biết thông tin.

Đối với phần diện tích tăng thêm: Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ. Qua đo đạc thực tế thửa đất đang tranh chấp có diện tích là 1125,5m², tăng thêm 65,5m² so với diện tích thửa đất trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp năm 2000. Qua xác minh thực tế thì hộ gia đình ông L1 không mua bán chuyển nhượng thêm phần diện tích đất nào khác, không lấn chiếm đất công ích của UBND xã N, không tranh chấp với các hộ dân xung quanh. Nên phần diện tích đất này là do sai số đo đạc giữa hai lần đo và Giấy chứng nhận thì diện tích tăng thêm được xác định theo quy định tại Khoản 20 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai. Đề nghị Toà án nhân dân huyện Lục Nam xem xét giải quyết theo quy định pháp luật.

Quá trình Toà án nhân dân giải quyết việc tranh chấp di sản thừa kế vụ án dân sự số 44/2021/TLST-DS, ông X cung cấp thêm 01 phiếu thu nộp tiền mua ao cửa nhà ngày 01/3/1993 và cho biết phần đất ao này là do Hợp tác xã N2, xã N bán cho ông X.

Qua xem xét cho thấy tại phiếu thu mua ao của ông X nêu trên không thể hiện rõ kích thước, diện tích thửa đất, đơn vị giao bán đất, không thể hiện đầy đủ thông tin người nộp, nhận tiền. Vì vậy, chưa đủ cơ sở xác định diện tích đã cấp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Tô Quang L1 là bao gồm cả diện tích ao của Hợp tác xã N2, xã N đã bán cho ông Tô Văn X.

Do vụ việc đang được Tòa án nhân dân huyện Lục Nam giải quyết, đề nghị Tòa án nhân dân huyện Lục Nam căn cứ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho hộ ông Tô Quang L1 và các giấy tờ khác có liên quan để giải quyết vụ việc theo quy định của pháp luật

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là UBND xã N do ông Đinh Văn K – Chủ tịch UBND xã đại diện hợp pháp trình bày: Diện tích đất 1060m² của hộ gia đình ông Tô Quang L1 được UBND huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2000, theo bản đồ địa chính xã N vẽ năm 2016 là thửa số 325 tờ bản đồ 27. Diện tích đất của hộ ông Tô Quang L1 sau khi Tòa án tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ và đo vẽ diện tích có tăng lên là 65,5m² so với phần diện tích đã được UBND huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2000. Quan điểm của UBND xã N là phần diện tích đất này hộ ông L1 sử dụng ổn định không có tranh chấp với các hộ dân xung quanh, không lấn chiếm đất công ích của xã, không nhận chuyển nhượng, tặng cho từ người khác. Do đó, phần diện tích đất tăng thêm này là sai lệch về so liệu đo vẽ giữa đo vẽ thủ công và đo vẽ bằng máy. Đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.

Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản xác định:

Diện tích 1060m² (trong đó có 400m² đất ở, 660m² đất vườn) đã được

UBND huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2000 cho hộ ông Tô Quang L1 khi đo vẽ diện tích thực tế là 1125,5m² có các cạnh tiếp giáp như sau:

Phía Đông: Giáp nhà ông H2, ông Lai

Phía Tây: Giáp đường đi của thôn

Phía Nam: Giáp đường đi của thôn

Phía Bắc: Giáp nhà ông L2.

Giá đất ở là 1.350.000 đồng/m² x 400m² = 540.000.000 đồng

Giá đất vườn là 675.000 đồng/m² x 725,5m² = 489.712.500 đồng.

Tổng giá trị đất: 1.029.712.500 đồng.

Tài sản trên đất gồm có:

  • 01 ngôi nhà cấp 03 loại 3 xây năm 1985 diện tích 97,53m² có giá là 45.300.000 đồng;
  • 01 ngôi nhà bếp loại C diện tích 32,4m² có giá 3.200.000 đồng;
  • 01 sân lát gạch lá nem diện tích 82,4m² có giá 1.150.000 đồng;
  • Tường vành lao xây cay bê tông diện tích 29,9m² có giá 3.588.000 đồng;
  • Tường vành lao xây gạch chỉ + đá diện tích 76,9m² có giá 1.064.000 đồng;
  • 18 cây Na đường kính gốc trung bình 06cm có giá 5.850.000 đồng;
  • 04 cây Cau đường kính gốc 13cm có giá 532.000 đồng;
  • 01 Cây xoài đường kính gốc 06cm có giá 302.000 đồng;
  • 01 Cây Xoài đường kính gốc 17cm có giá 608.000 đồng;
  • 01 Cây Xoài đường kính gốc 30cm có giá 914.000 đồng;
  • 02 Cây Vải đường kính tán từ 3,7 – 3,9m có giá 5.034.000 đồng;
  • 01 cây Nhãn có đường kính tán 5,4m có giá 1.835.000 đồng;
  • 01 cây Nhãn có đường kính tán 4,9m có giá 1.400.000 đồng;
  • 01 cây Vải có đường kính tán 03m có giá 2.281.000 đồng;
  • 01 cây Sung đường kính gốc 20cm có giá 385.000 đồng;
  • 01 cây Xoan đường kính gốc 14cm có giá 154.000 đồng.

Tài sản trên đất có giá trị: 73.597.000 đồng.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là chị Hoàng Thị M: xác định diện tích đất 1060m² (trong đó có 400m² đất ở, 660m² đất vườn) đã được UBND huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2000 cho hộ ông Tô Quang L1 đo vẽ thực tế là 1125,5m² là tài sản của cụ L1 và cụ G mặc dù UBND huyện L xác định diện tích đất trên được cấp cho hộ gia đình. Chị M xin rút yêu cầu chia tài sản chung đối với phần tài sản của anh Tô Quang T4 trong diện tích đất 1060m² cấp cho hộ ông Tô Quang L1. Trường hợp chia thừa kế chị và chị H đồng ý giao phần diện tích đất có nhà và sân gạch, cùng công trình phụ trên đất cho ông X quản lý, sử dụng để làm nơi thờ cúng như ý kiến của ông X. Chị xác định trên phần diện tích đất này có tài sản gồm: 01 ngôi nhà mái bằng, 01 ngôi nhà bếp, 01

sân lát gạch, 02 cây cau, 01 cây vải, 16 cây na, 01 cây xoan. Trường hợp phần diện tích đất này có nhiều hơn phần định suất thừa kế ông X, ông T3, chị H1 được hưởng thì chị H yêu cầu ông X phải trích trả bằng tiền cho chị H.

Bị đơn là ông Tô Văn X do bà Vũ Thị Á đại diện theo ủy quyền: giữ nguyên ý kiến và yêu cầu của ông X. Đề nghị Tòa án xác định diện tích đất 1060m² (trong đó: Đất ở 400m²; vườn 660m²) đã được UBND huyện L, tỉnh Băc Giang cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2000 là tài sản riêng của cụ L1, cụ G không phải là tài sản của hộ gia đình. Ông X đề nghị Tòa án xem xét việc UBND huyện L, tỉnh Bắc Giang chưa trả lời việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Tô Quang L1 bao gồm cả phần ao do ông X mua năm 1993 của hợp tác xã N2, xã N là cấp chồng lấn, ảnh hưởng quyền lợi của ông X. Ông X đề nghị Tòa án tạm đình chỉ giải quyết vụ án để UBND huyện L trả lời đơn khiếu nại của ông X, khi nào có kết quả cuối cùng thì tiếp tục giải quyết vụ án.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là chị Tô Thị Bích H1 trình bày: Chị rút yêu cầu chia tài sản chung đối với diện tích đất 1060m² (trong đó: Đất ở 400m²; vườn 660m²) đã được UBND huyện L, tỉnh Bắc Giang cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2000 cho hộ ông Tô Quang L1. Chị xác định tài sản trên là của bố mẹ chị, chị không có đóng góp gì vào khối tài sản này. Chị xác định di chúc do cụ G lập ngày 26/09/2017 là đúng với ý chí và nguyện vọng của cụ G. Di chúc này là do anh Phạm Quang T6 khi được cụ G nói cho biết nguyện vọng lập di chúc thì anh T6 có nhờ chị viết hộ nội dung di chúc theo lời của cụ G đã nói cho anh T6. Sau khi chị viết di chúc xong thì anh T6 có đọc lại di chúc cho cụ G nghe về nội dung di chúc. Sau đó, chị cùng cụ G, anh T6 tới UBND xã N để chứng thực nội dung di chúc. Tại UBND xã N thì chỉ có cụ G, anh T6 vào làm việc với bộ phận chứng thực của UBND xã còn chị không tham gia. Chị đồng ý với yêu cầu khởi kiện của cháu H về việc công nhận di chúc của cụ G lập ngày 26/09/2017 là hợp pháp và chia phần di sản thừa kế của cụ G cho cháu H theo đúng nguyện vọng của cụ G để lại. Đối với phần di sản thừa kế của cụ L1 chị đề nghị Tòa án chia theo quy định của pháp luật. Chị đề nghị được nhận bằng đất. Chị đồng ý chia phần đất có sân và nhà cho ông X để làm nơi thờ cúng.

Do có nội dung trên, bản án dân sự sơ thẩm số 24/2023/DS-ST ngày 29/5/2023của Toà án nhân dân huyện Lục Nam đã quyết định:

Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 217, 147, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Căn cứ vào các Điều 609, 611, 612, 613, 618, 623, 624, 630, 643, 649, 650, 651, 652, 660 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Điều 11, Điều 12, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Tô Thị Mai H.
    1. Công nhận di chúc của cụ Phạm Thị G được lập ngày 26/9/2017 đã được chứng thực tại UBND xã N, số chứng thực: 120 quyển số: 01/2016 (1) – SCT/HĐ,GD là hợp pháp.
    2. Chị Tô Thị Mai H được chia và hưởng phần di sản thừa kế là 599,3m² (trong đó có 200m² đất ở và 399,3m² đất vườn) có các cạnh như sau: 1-22; 2-3; 3-4; 4-5; 5-12; 12-13; 13-14; 14-15; 15-16; 16-17; 17-18; 18-19; 19-20; 20-21; 21-1 (có sơ đồ kèm theo) và toàn bộ tài sản trên đất gồm: 01 Cây xoài đường kính gốc 06cm; 01 Cây Xoài đường kính gốc 17cm; 01 Cây Xoài đường kính gốc 30cm; 02 Cây Vải đường kính tán từ 3,7 – 3,9m; 01 cây Nhãn có đường kính tán 5,4m; 01 cây Nhãn có đường kính tán 4,9m; 01 cây Sung đường kính gốc 20cm; 02 cây Cau đường kính gốc 13cm, tường vành lao trên đất.

      Tổng giá trị tài sản chị H được hưởng là 554.185.500 đồng

    3. Ông Tô Văn X được chia và hường phần di sản thừa kế là diện tích đất 526,2m² (trong đó có 200m² đất ở và 326,2m² đất vườn) có các cạnh như sau: 12-5; 5-6; 6-7; 7-8; 8-9; 9-10; 10-11; 11-12 (có sơ đồ kèm theo) và được quyền quản lý, sử dụng tài sản trên đất gồm: 01 ngôi nhà cấp 03 loại 3 xây năm 1985 diện tích 97,53m²; 01 ngôi nhà bếp loại C diện tích 32,4m²; 01 sân lát gạch lá nem diện tích 82,4m², 01 cây Xoan đường kính gốc 14cm, 16 cây Na có đường kính gốc trung bình 06cm, 02 cây Cau đường kính gốc 13cm, tường vành lao trên đất

      Tổng giá trị tài sản ông X được nhận là 548.796.000 đồng

    4. Ông Tô Văn X phải trích trả cho chị Tô Thị Mai H số tiền 149.608.700 đồng.
    5. Ông Tô Văn X phải trích trả cho chị Tô Thị Bích H1 số tiền 118.585.200 đồng.
  2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Tô Văn X về việc tuyên bố di chúc ngày 26/9/2017 của cụ Phạm Thị G vô hiệu.
  3. Đình chỉ yêu cầu độc lập về chia tài sản chung của chị Tô Thị Bích H1.
  4. Đình chỉ yêu cầu độc lập về chia tài sản chung, chia di sản thừa kế của chị Hoàng Thị M.
  5. Chi phí tố tụng: Chị H, ông X, ông T3, chị H1 mỗi người chịu 1.825.000 đồng chi phí tố tụng. Xác nhận chị H đã nộp đủ. Buộc ông X, ông T3, chị H1 mỗi người phải thanh toán trả chị H số tiền 1.825.000 đồng.
  6. Án phí dân sự sơ thẩm:
    • - Chị Tô Thị Mai H được miễn án phí.
    • - Ông Tô Văn X được miễn án phí. Hoàn trả ông Tô Văn X số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0013505 ngày 19/01/2022 và số 0014406 ngày 03/03/2023 tổng số tiền 7.100.000 đồng.
    • - Bà Tô Thị Bích H1 phải chịu 5.929.200 đồng án phí nhưng được trừ vào số tiền 3.217.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền số 0014420 ngày 07/03/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Nam. Bà H1 phải nộp thêm số tiền là 2.712.200 đồng.
    • - Ông Tô Quang T3 phải chịu 5.929.200 đồng án phí nhưng được trừ vào số tiền 6.800.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền số 0014407 ngày 03/03/2023 của Chi cục THADS huyện L. Hoàn trả ông T3 số tiền 870.800 đồng.
  7. Về án phí dân sự phúc thẩm: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Tô Văn X.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãicủa số tiền còn phải thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2- Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7, 7a, 7b và 9 - Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 - Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND huyện Lục Nam;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Chi cục THADS huyện Lục Nam;
  • - Các đương sự;
  • - Cổng thông tin điện từ TANDTC;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hương Giang

SƠ ĐỒ KÈM THEO

BẢN ÁN SỐ 07/2024/DS-PT NGÀY 12/01/2024

VỀ VIỆC “TRANH CHẤP CHIA TÀI SẢN CHUNG VÀ CHIA DI SẢN THỪA KẾ”

CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hương Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2024/DS-PT ngày 12/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp chia tài sản chung và chia di sản thừa kế

  • Số bản án: 07/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia tài sản chung và chia di sản thừa kế
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 12/01/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp chia tài sản chung và chia di sản thừa kế
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger