|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ Bản án số: 07/2024/HNGĐ-ST Ngày: 11/01/2024 V/v "Tranh chấp ly hôn". |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Võ Bảo Anh |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Nguyễn Thanh Long |
| Bà Dương Hiền Trúc Lan |
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Phong Lan - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên toà: Ông Trần Thanh Vũ - Kiểm sát viên
Ngày 11 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 72/2023/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 4 năm 2023 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 226/2023/QĐXXST ngày 27 tháng 11 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 610/2023/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Chị Ngô Thị T, sinh năm 1997. (Xin vắng mặt)
Địa chỉ: Khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. -
Bị đơn: Ông Pan Cheng L, sinh năm 1978. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Số A, đường T, khóm F, phường T, khu D, thành phố Đ, Đài Loan.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện ngày 15/3/2023 và bản tự khai, nguyên đơn chị Ngô Thị T trình bày và yêu cầu:
Năm 2020 chị quen biết, tìm hiểu ông Pan Cheng L và tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân quận T, thành phố Cần Thơ theo Giấy chứng nhận kết hôn số 27 ngày 04 ngày 02 tháng 2020 và được Trích lục kết hôn bản sao số 17/TLKH-BS ngày 09 tháng 3 năm 2023. Sau khi kết hôn, chị và ông P Cheng Lun cùng về Đài Loan sinh sống, nhưng chỉ được khoảng ba tháng thì chị bỏ về Việt Nam với lý do bất đồng ngôn ngữ, không có tiếng nói chung và khó khăn trong cuộc sống. Từ khi chị về Việt Nam cho đến nay, chị không còn liên lạc được với ông Pan Cheng L. Do không còn duy trì mối quan hệ vợ chồng trong khoảng thời gian dài, nếu kéo dài cuộc hôn nhân giữa chị và ông P Cheng Lun ở hai quốc gia cũng không có được hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay chị yêu cầu được ly hôn với ông Pan Cheng L.
Về con chung, tài sản và nợ chung: Chị và ông Pan Cheng L không có con chung, không tạo lập được tài sản chung, nợ chung nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn ông Pan Cheng L vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, không có ý kiến phản hồi về việc chị T xin ly hôn với ông.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ:
Những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án, qua xem xét các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Ngô Thị T được ly hôn với ông Pan Cheng L.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
-
[1] Về tố tụng: Chị Ngô Thị T khởi kiện xin ly hôn với ông Pan C Lun cư trú tại Đài Loan, căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 37 và Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
Chị T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, còn ông Pan Cheng L đã được tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt (thủ tục thông báo, tống đạt của Tòa án đối với phía bị đơn đã hoàn tất, tại văn bản số 1120059738 ngày 21/8/2023 của Bộ Tư Pháp Lãnh thổ Đài Loan: "Cơ quan có thẩm quyền của lãnh thổ Đài Loan đã thực hiện ủy thác tư pháp nêu trên vào ngày 08/08/2023 bằng phương thức: Gởi hồ sơ ủy thác tư pháp tại đồn công an”. Tuy nhiên cho đến thời điểm xét xử, ông Pan Cheng L cũng không có ý kiến phản hồi. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự là có căn cứ.
-
[2] Về hôn nhân: Chị Ngô Thị T và ông P Cheng Lun xác lập quan hệ hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân quận T, thành phố Cần Thơ (Việt Nam) theo Giấy chứng nhận kết hôn số 27 ngày 04 ngày 02 tháng 2020 và được Trích lục kết hôn bản sao số 14/TLKH-BS ngày 20 tháng 02 năm 2023 nên xác định là hôn nhân hợp pháp. Theo bà T trình bày, sau khi kết hôn, bà và ông G chứng nhận kết hôn số 27 ngày 04 ngày 02 tháng 2020 và được trích lục kết hôn bản sao số 17/TLKH-BS ngày 09 tháng 3 năm 2023 cùng về Đài Loan sinh sống, nhưng chỉ ở được khoảng 03 tháng thì chị bỏ về Việt Nam, vì bất đồng ngôn ngữ, không có tiếng nói chung và khó khăn trong cuộc sống. Từ khi chị về Việt Nam cho đến nay, giữa chị và ông Pan Cheng L không còn liên lạc với nhau.
Xét thấy, giữa chị T và ông Pan Cheng L sau khi kết hôn, hai có thời gian ngắn chung sống ở Đài Loan nhưng từ khi chị T trở về Việt Nam thì ông Pan Cheng L vẫn ở Đài Loan, hai người sống ly thân, không quan tâm, liên lạc gì với nhau, không giữ gìn níu kéo quan hệ hôn nhân, tình cảm phai nhạt nên lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận cho chị T được ly hôn với ông P Cheng Lun là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
- [3] Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Chị T trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, nếu có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết bằng vụ án khác.
- [4] Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng và lệ phí ủy thác là 200.000 đồng, nguyên đơn phải chịu theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, Điều 37, khoản 4, Điều 147, Điều 153, khoản 2 Điều 227, khoản 5 Điều 477, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Ngô Thị T.
- - Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Ngô Thị T được ly hôn với ông Pan Cheng L.
- - Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Chị T trình bày không có nên không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Ngô Thị T phải chịu 300.000 đồng, được chuyển số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị T đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001697 ngày 17/3/2023 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ sang án phí, chị T đã nộp đủ án phí.
- Về lệ phí ủy thác: Chị Ngô Thị T phải chịu, công nhận đã nộp xong 200.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001793 ngày 11/5/2023 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ.
-
Về quyền kháng cáo:
Chị T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết.
Ông Pan Cheng L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân Cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm theo luật định./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã Ký) Võ Bảo Anh |
Bản án số 07/2024/HNGĐ-ST ngày 11/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 07/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/01/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận ly hôn
