Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 07/2024/HS-PT

Ngày: 10 - 01 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa:Ông Nguyễn Xuân Văn.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thanh Nhã và bà Trần Thị Lê Na

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quyền - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Kiều Diễm - Kiểm sát viên

Ngày 10 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 899/2023/TLPT-HS ngày 08 tháng 11 năm 2023 đối với các bị cáo Phùng Văn G, Trần Văn C, Phùng Văn G1, Trần Văn T, Nguyễn Chí T1 phạm tội Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 58/2023/HS-ST ngày 06-07/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội.

Các bị cáo có kháng cáo:

  1. 1. Phùng Văn G, sinh năm 1958, tại Hà Nội; HKTT và chỗ ở: Thôn Đ, xã Đ, huyện B, thành phố Hà Nội; quốc tịch: Việt Nam, dân tộc: Kinh, tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 05/10; con ông: Phùng Mạnh T2 (đã chết); con bà: Phùng Thị Quốc C1, sinh năm 1936; vợ: Chu Thị C2; có 04 con, con lớn sinh năm 1981, con nhỏ sinh năm 1996; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/10/2022 đến ngày 28/11/2022 được thay đổi biện pháp ngăn chặn sang cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt)
  2. 2. Phùng Văn G1, sinh năm 1973, tại Hà Nội; HKTT và chỗ ở: Thôn Đ, xã Đ, huyện B, thành phố Hà Nội; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/12; con ông: Phùng Văn A (chết); con bà: Trần Thị D; vợ: Trần Thị X; có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1998, con nhỏ nhất sinh năm 2007; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/10/2022 đến ngày 16/10/2022 được thay đổi biện pháp ngăn chặn sang cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt)
  3. 3. Trần Văn T, sinh năm 1983, tại Hà Nội; HKTT và chỗ ở: Thôn Đ, xã Đ, huyện B, thành phố Hà Nội; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; con ông: Trần Văn T3 (đã chết); con bà: Chu Thị H; vợ: Hà Thị H1; có 04 con, con lớn nhất sinh năm 2005, con nhỏ nhất sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/10/2022 đến ngày 16/10/2022 được thay đổi biện pháp ngăn chặn sang cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt)
  4. 4. Trần Văn C, sinh năm 1967, tại Hà Nội; HKTT và chỗ ở: Thôn Đ, xã Đ, huyện B, thành phố Hà Nội; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 06/10; con ông: Trần Văn D1; con bà: Nguyễn Thị M (đã chết); vợ: Chu Thị T4; có 02 con, con lớn nhất sinh năm 1991, con nhỏ nhất sinh năm 1993; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt)
  5. 5. Nguyễn Chí T1, sinh năm 1977, tại Hà Nội; HKTT và chỗ ở: Thôn A, xã V, huyện B, TP .; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 09/12; con ông: Nguyễn Chí T5; con bà: Hoàng Thị Thúy N; vợ: Phùng Thị T6 và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2015, con nhỏ nhất sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Tại Bản án số 01/2016/HSST ngày 19/01/2016, TAND huyện Thanh Sơn - Phú Thọ xử 30 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt)

- Ngoài ra còn có 05 bị cáo không kháng cáo, không bị kháng cáo kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 23h40' ngày 07/10/2022, Tổ công tác Đội CSHS - Công an huyện B phối hợp Công an xã Đ - B kiểm tra, phát hiện bắt quả tang 10 đối tượng đang có hành vi đánh bạc, sát phạt nhau bằng tiền dưới hình thức đánh "Chắn" trên 2 chiếu bạc tại nhà Phùng Văn G (SN: 1958; HKTT: thôn Đ - xã Đ - huyện B - TP .), cụ thể :

- Tại chiếu bạc số 1 gồm có: Phùng Văn T7 (SN: 1963; Người chia bài); Trần Văn Đ (SN: 1987); Chu Văn Đ1 (SN: 1987); Phùng Văn G1 (SN: 1973); Trần Văn T (SN: 1983) đều có HKTT: thôn Đ - xã Đ - B - Hà Nội.

- Tại chiếu bạc số 2: Trần Văn C (SN: 1967; Người chia bài); Trần Văn T8 (SN: 1992); Chu Xuân P (SN: 1979); Trần Văn L (SN: 1981) đều có HKTT: thôn Đ - xã Đ - B - Hà Nội và Nguyễn Chí T1 (SN : 1977 ; HKTT: Vân Canh - H - Hà Nội).

- Chủ nhà: Phùng Văn G (SN: 1958 ; HKTT: thôn Đ - xã Đ - B - Hà Nội).

Vật chứng, đồ vật tài sản thu giữ, gồm:

* Tại chiếu bạc số 1:

- 02 bộ chắn, mỗi bộ gồm 100 quân bài; 01 đĩa sứ có đường kính 15,5 cm;

- Số tiền 2.080.000đ.(Hai triệu không trăm tám mươi nghìn đồng) thu trên chiếu bạc, tại vị trí ngồi của các con bạc là tiền sử dụng vào việc đánh bạc;

- T9 trên người Trần Văn T số tiền 2.500.000đ; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A10 màu đỏ, có số Imeil: 357966102362226; số Imei 2: 357967102362224; lắp số thuê bao: 0977826283;

- Thu trên người Trần Văn Đại số tiền 28.000đ; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F5 màu đen, có số Imei 1: 866566030963691; Imei2: 866566030963683; lắp 02 số thuê bao: 0983383374 và số 0332252074; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Noikia 105 có số Imei: 353101115610544; lắp số thuê bao: 0916591987; 01 xe máy nhãn hiệu Honda, kiểu dáng Wave RSX, màu trắng đen, BKS: 29V1- 666.88, có SK: RLHJA3844KY019357, SM: JA52E-0043419;

- Thu trên người Phùng Văn G1 số tiền 2.020.000đ; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus, màu vàng gold, có số Imei: 352062069222085; lắp số thuê bao: 0975387429; 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, kiểu dáng Dream màu nâu, BKS: 29V1- 14745, có SK: RLHHA0805Y267626, SM: HA08E-1567704;

- Thu trên người Chu Văn Đ1 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s màu trắng hồng có số Imei: 355341073650583; lắp số thuê bao: 0972296787; 01 xe máy nhãn hiệu Honda, kiểu dáng Wave anpha màu đen, BKS: 29V1- 762.90, có SK: RLHJA3920 MY204084, SM: JA39E-2322590;

* Tại chiếu bạc số 2:

- 02 (hai) bộ chắn, mỗi bộ gồm 100 quân bài; 01 (một) đĩa sứ có đường kính 15 cm;

- Số tiền 2.315.000đ.(Hai triệu ba trăm mười năm nghìn đồng) thu trên chiếu bạc, tại vị trí ngồi của các con bạc là tiền sử dụng vào việc đánh bạc;

- T9 trên người Trần Văn T8 số tiền 910.000đ; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màu trắng, có số Imei 1: 868595040787137; Imei2: 868595040787129; lắp số thuê bao: 0983607489; 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha, kiểu dáng E, màu xanh dương, BKS: 29V1- 56902; có SK: RLCUG1010JY040543; SM: G3D4E-805971;

- Thu trên người Chu Xuân P số tiền 1.555.000đ; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280, màu xanh, có số Seri1: 353482/55271789; Seri 2: 353482/57271787; lắp số thuê bao: 0975094041; 01 xe máy nhãn hiệu Honda, kiểu dáng Wave S màu xanh, BKS: 78U1 - 4938; có SK: RNUWCHAHY9A39086; SM: RL9FM1P39FMB-V003921;

- Thu trên người Trần Văn L 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đỏ, có số Imeil: 865498043950559; Imei 2: 865498043950542; lắp số thuê bao: 0974688581;

- Thu trên người Nguyễn Chí T1 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A11, màu đen, có số Imei: 356938143714086; Imei2: 356498843714058; bên trong gắn sim số: 0326811977; 01 xe máy kiểu dáng Dream, màu nâu, BKS: 33P3- 3031, có SK: RRKDCG1TT7XA01699; SM: VTT17JL-1P50FMG001699;

- Thu trên người Phùng Văn G số tiền 250.000đ;

- T9 trên người Trần Văn C số tiền 910.000đ;

Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Phùng Văn G và những người có hành vi đánh bạc, thu giữ toàn bộ tang vật, đưa về trụ sở để làm rõ.

Căn cứ tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra xác định nội dung diễn biến vụ án và hành vi của các bị can, cụ thể như sau:

Khoảng 20 giờ 00' ngày 07/10/2022, lần lượt Trần Văn T đi bộ; Trần Văn Đ điều khiển xe mô tô kiểu dáng Wave RSX, màu trắng đen, BKS: 29V1- 666.88; Chu Văn Đ1 điều khiển xe mô tô kiểm dáng Wave alpha, màu đen, BKS: 29V1- 762.90; Phùng Văn G1 điều khiển xe mô tô kiểm dáng Honda Dream, màu nâu, BKS: 29V1- 147.45 và Phùng Văn T7 đi bộ đến nhà Phùng Văn G ngồi chơi, uống nước. Tại đây, T; Đ; Đ1 và G1 rủ nhau đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền dưới hình thức chơi “Chắn”. Gia đồng ý cho những người này đánh bạc tại nhà mình để thu lợi bất chính. Để phục vụ đánh bạc, G lấy 01 đĩa sứ đường kính khoảng 15cm và 02 bộ bài chắn có sẵn trong nhà đưa cho T7 để làm công cụ đánh bạc. Gia bảo T7 đứng ra chia bài cho T; Đ; Đ1 và G1 đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền dưới hình thức đánh "Chắn" tại nhà ở của G. Sau đó, T7 và số người trên cùng nhau ngồi đánh bạc tại gian phòng khách nhà G. Trong đó, T, Đ, Đ1 và G1 mở thành 04 cửa để đánh bạc “chắn” với nhau; T7 là người ngồi chia bài cho 4 người này đánh bạc để thu tiền “hồ”. Gia, T7 và những người này thống nhất: Mỗi khi có người được “ù to” (ù có cước sắc như ù T10 đỏ 2 lèo, ù Bạch thủ chì, ù Bạch định, Thiên ù hoặc 10 chắn) thì người đó phải bỏ ra 20.000đ tiền “hồ”. Số tiền này, G và T7 thoả thuận chia nhau theo tỷ lệ 6-4 (G3 sẽ được hưởng 60%; Thử hưởng 40%). Khi tham gia đánh bạc, Trần Văn T sử dụng số tiền 3.000.000đ; Trần Văn Đ sử dụng 728.000đ; Chu Văn Đ1 sử dụng số tiền 600.000đ; Phùng Văn G1 sử dụng số tiền 2.300.000đ mang theo để tham gia đánh bạc (gọi là chiếu bạc số 1). Khi T7; T; Đ; Đ1 và G1 đang đánh bạc thì lần lượt, Trần Văn C đi bộ; Trần Văn L đi bộ; Trần Văn T8 điều khiển xe mô tô kiểu dáng YAMAHA ECITER, BKS : 29V1-569.02 và Chu Xuân P điều khiển xe mô tô kiểu dáng Dream, BKS : 78U1-4938 đến nhà G. Lúc này, G tiếp tục lấy 2 bộ bài chắn và 1 đĩa sứ trong nhà G làm công cụ đánh bạc và rủ L; T8 và P đánh bạc cùng và bảo C đứng ra chia bài cho G ; L; T8 và P đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền dưới hình thức đánh chắn. Gia và những người này cũng thoả thuận: Trong quá trình đánh bạc, nếu ai thắng bạc “ù to” (ù có cước sắc như ù T10 đỏ 2 lèo, ù Bạch thủ chì, ù Bạch định, Thiên ù hoặc 10 chắn) thì người đó phải bỏ ra 20.000đ tiền “hồ”. Gia và C sẽ chia nhau hưởng số tiền này theo tỷ lệ 6-4 (tỷ lệ ăn chia Gia sẽ được hưởng 60%; C hưởng 40%). Trần Văn T8 sử dụng số tiền 910.000đ; Chu Xuân P sử dụng số tiền 1.755.000đ và Phùng Văn G sử dụng số tiền 450.000₫ mang theo để tham gia đánh bạc (gọi là chiếu bạc số 2). Những người này đánh bạc được một lúc thì lần lượt, Nguyễn Chí T1 điều khiển xe mô tô kiểu dáng Dream, BKS: 33P3-3031 đi cùng Phùng Bá P1 (SN: 1973, HKTT: T - B - Hà Nội) và Lê Văn T11 (SN: 1975, HKTT: Thái Bình - Đ - B) đến nhà G. Lúc này, T1 bảo G nghỉ đánh bạc để T1 vào thay chân đánh bạc cùng với L; T1 và P1 thì G đồng ý. Khi nghỉ, nhường chỗ cho T1 đánh bạc, Gia đang bị thua bạc, còn lại số tiền 250.000đ để trên người. Nguyễn Chí T1 sử dụng số tiền 715.000đ mang theo để tham gia đánh bạc. Phùng Bá P1 và Lê Văn T11 có mặt tại nhà G nhưng chỉ ngồi xem đánh bạc chứ không tham gia đánh bạc.

Những người tham gia đánh bạc tại hai chiếu bạc, thống nhất luật chơi như sau: Quy ước ù "Suông" được 20.000 đồng và mỗi "Dịch" được thêm 10.000 đồng (Mỗi dịch tương đương 1 điểm tùy theo "Cước sắc" của người "Ù"). Khi bắt đầu ván bạc, mỗi người chơi được chia cho 19 quân bài (Người chơi đầu tiên được chia 20 quân bài) còn lại 23 quân bài đặt lên đĩa sứ trên chiếu làm “Nọc”. Một bộ bài chắn còn lại, T7 và C chia sẵn ở chiếu bạc để thay đổi mỗi khi chơi xong một ván. Sau khi chia bài, người thắng ván trước sẽ rút một quân “nọc” để bốc tìm người đánh đấu tiên. Sau đó, người này sẽ đánh quân bài lẻ ở bài mình. Người cửa dưới có thể ăn để tròn bài hoặc bốc quân bài ở “nọc” để ăn hoặc cho người cửa dưới ăn. Cứ như vậy cho đến khi có người đủ điều kiện và bốc được quân “nọc” đang chờ ù thì người này sẽ ù, thắng bạc ván đó. Nếu “Ù suông” (ù không có cước sắc) thì những người chơi còn lại sẽ phải trả cho người này số tiền 20.000 đồng/1 người; nếu “Ù có cước sắc” thì tùy loại cước để tính điểm mà những người chơi còn lại phải trả cho người được “Ù cước sắc” mỗi điểm tương đương với số tiền 10.000 đồng. Cước sắc được các con bạc quy định như sau: Suông 2 điểm; T12, Trì 3 điểm; Thiên ù, Địa ù, C3 ù, Ù bòn, Bạch thủ, Tôm 4 điểm; Có T13 khai, Có C4, Có B, Lèo 5 điểm; Bạch thủ chì 6 điểm; Bạch định 7 điểm; Tám đỏ 8 điểm; T10 đỏ 2 lèo 12 điểm. Đến khoảng 23 giờ 40' cùng ngày, khi Trần Văn T; Trần Văn Đ; Chu Văn Đ1; Phùng Văn G1; Phùng Văn T7; Trần Văn L; Trần Văn T8; Nguyễn Chí T1; Chu Xuân P và Trần Văn C đang đánh bạc thì bị tổ công tác Đội ĐTTP về TTXH - CA huyện B và Công an xã Đ kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang.

Tại cơ quan CSĐT, Phùng Văn G, Trần Văn T; Trần Văn Đ; Chu Văn Đ1; Phùng Văn G1; Phùng Văn T7; Trần Văn L; Trần Văn T8; Nguyễn Chí T1; Chu Xuân P và Trần Văn C đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi tham gia Tổ chức đánh bạc và đánh bạc của bản thân cùng đối tượng như đã nêu trên.

* Đối với số vật chứng đã thu giữ, gồm:

- Đối với 04 bộ bài chắn; 02 đĩa sứ. Qúa trình điều tra xác định là công cụ sử dụng vào mục đích đánh bạc.

- Tổng số tiền 11.658.000đ thu trên chiếu bạc và trên người các bị can. Qúa trình xác định số tiền này các đối tượng sử dụng vào mục đích đánh bạc.

- Số tiền 910.000đ thu trên người Trần Văn C khi bắt quả tang. Quá trình điều tra, xác định số tiền trên là tiền cá nhân của C, ngày 07/10/2022, C không sử dụng số tiền này vào mục đích đánh bạc.

- Đối với số vật chứng là 09 chiếc điện thoại di động gồm: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A10 màu đỏ, lắp số thuê bao: 0977826283; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F5 màu đen, lắp 02 số thuê bao: 0983383374 và số 0332252074; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Noikia 105, lắp số thuê bao: 0916591987; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus, màu vàng gold, lắp số thuê bao: 0975387429; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s màu trắng hồng, lắp số thuê bao: 0972296787; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màu trắng, có số lắp số thuê bao: 0983607489; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280, màu xanh, lắp số thuê bao: 0975094041 ; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đỏ, lắp số thuê bao: 0974688581; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A11, màu đen, bên trong lắp số thuê bao: 0326811977. Quá trình điều tra, xác định: 09 chiếc điện thoại này là tài sản của Trần Văn T; Trần Văn Đ; Chu Văn Đ1; Phùng Văn G1; Trần Văn L; Trần Văn T8; Nguyễn Chí T1 và Chu Xuân P sử dụng để liên lạc hàng ngày. Qúa trình điều tra xác định không có thông tin, dữ liệu điện tử gì liên quan đến vụ án.

- Đối với 06 xe mô tô gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, kiểu dáng Wave RSX, màu trắng đen, BKS: 29V1- 666.88, có SK: RLHJA3844KY019357, SM: JA52E-0043419; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, kiểu dáng Dream màu nâu, BKS: 29V1- 14745, có SK: RLHHA0805Y267626, SM: HA08E-1567704; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, kiểu dáng Wave anpha màu đen, BKS: 29V1-762.90, có SK: RLHJA3920 MY204084, SM: JA39E-2322590; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, kiểu dáng Exciter, màu xanh dương, BKS: 29V1-56902; có SK: RLCUG1010JY040543; SM: G3D4E-805971; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, kiểu dáng Wave S màu xanh, BKS: 78U1 - 4938; có SK: RNUWCHAHY9A39086; SM:RL9FM1P39FMB-V003921 và 01 xe máy kiểu dáng Dream, màu nâu, BKS: 33P3- 3031, có SK: RRKDCG1TT7XA01699; SM: VTT17JL-1P50FMG001699 . Qúa trình điều tra xác định là tài sản của Trần Văn Đ, Phùng Văn G1, Chu Văn Đ1, Trần Văn T8, Chu Xuân P và Nguyễn Chí T1. Ngày 07/10/2022, Đ, G1, Đ1, T1, P và Nguyễn Chí T1 đã điều khiển những phương tiện này đi đến nhà Phùng Văn G để tham gia đánh bạc.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 58/2023/HS-ST ngày 06-07/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Phùng Văn G phạm tội “Tổ chức đánh bạc” và tội “ Đánh bạc”; bị cáo Trần Văn C phạm tội “Tổ chức đánh bạc”; bị cáo Trần Văn T, Phùng Văn G1, Trần Chí T14 phạm tội “ Đánh bạc”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; Điểm a, khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 55; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Xử phạt: Bị cáo Phùng Văn G 09 (chín) tháng tù về tội Đánh bạc và 21 (hai mươi mốt) tháng tù về tội Tổ chức đánh bạc. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 30 ( ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Bị cáo được trừ thời gian tạm giữ tạm giam từ ngày 08/10/2022 đến ngày 28/11/2022.

Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Xử phạt: Bị cáo Trần Văn C 13 ( mười ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù, tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Xử phạt: Bị cáo Trần Văn T 12 ( mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù, tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án. Bị cáo được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 08/10/2022 đến ngày 16/10/2022

Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Xử phạt: Bị cáo Phùng Văn G1 12 ( mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án. Bị cáo được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 08/10/2022 đến ngày 16/10/2022.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Chí T1 10 ( mười) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù, tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.

Miễn hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về tội danh, hình phạt đối với các bị cáo khác, về biện pháp tư pháp án phí và quyền kháng cáo.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 11/7/2023 và 13/7/2023, các bị cáo Phùng Văn G, Phùng Văn G1, Trần Văn T, Nguyễn Chí T1 và Trần Văn C kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.

Tại phiên tòa: Các bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản án sơ thẩm đã quy kết. Các bị cáo Phùng Văn G, Phùng Văn G2 và Trần Văn C khai đã có thời gian tham gia quân đội; bị cáo Trần Văn T và Nguyễn Chí T1 là cha đơn thân, hoàn cảnh gia đình khó khăn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội sau khi xem xét kháng cáo của các bị cáo, đề nghị chấp nhận kháng cáo của các bị cáo. Cụ thể:

  • - Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; Điểm a, khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55; Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt: Phùng Văn G từ 06 - 08 tháng tháng tù về tội Đánh bạc và từ 12 - 13 tháng tù về tội Tổ chức đánh bạc. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là từ 18 – 21 tháng tù.
  • - Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt: Trần Văn C 12 tháng tù về tội Tổ chức đánh bạc nhưng cho hưởng án treo.
  • - Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt: Trần Văn T 08 – 10 tháng tù về tội Đánh bạc nhưng cho hưởng án treo.
  • - Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt: P -10 tháng tù về tội Đánh bạc nhưng cho hưởng án treo.
  • - Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt: N - 10 tháng tù về tội Đánh bạc.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

[1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo Phùng Văn G, Trần Văn C, Phùng Văn G1, Trần Văn T, Nguyễn Chí T1 trong thời hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về nội dung: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo khác và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, nên có căn cứ xác định:

Ngày 07/10/2022, Phùng Văn G đã có hành vi sử dụng nhà ở của mình thuộc thôn Đ, xã Đ, B, Hà Nội và chuẩn bị công cụ, phương tiện (04 bộ bài chắn, 02 đĩa) để tổ chức cho 02 chiếu bạc đánh bạc tại nhà G với mục đích thu lợi bất chính. Chiếu bạc thứ nhất: Thu trên chiếu bạc, tại vị trí ngồi số tiền 2.080.000₫ gồm có các bị caó Trần Văn T; Trần Văn Đ; Chu Văn Đ1 và Phùng Văn G1 và đã sử dụng tổng số tiền là 6.628.000₫ (Sáu triệu sáu trăm hai mươi tám nghìn đồng) vào mục đích đánh bạc, Phùng Văn T7 đã thu được tổng 240.000đ tiền “hồ”. Chiếu bạc thứ hai thu trên chiếu bạc, tại vị trí ngồi số tiền 2.315.000₫ gồm có các bị caó Phùng Văn G, Trần Văn L, Trần Văn T8, Nguyễn Chí T1, Chu Xuân P và đã sử dụng tổng số tiền là 5.030.000đ (Năm triệu không trăm ba mươi nghìn đồng) vào mục đích đánh bạc. Ngoài ra, G còn có hành vi thoả thuận, phân công cho Phùng Văn T7 và Trần Văn C chia bài cho các bị caó đánh bạc để thu tiền “hồ”. Tổng số tiền các bị cáo đã sử dụng để đánh bạc là 11.658.000đ (Mười một triệu sáu trăm năm mươi tám nghìn đồng).

Vì vậy, Tòa cấp sơ thẩm xét xử Phùng Văn G về tội Tổ chức đánh bạc và tội Đánh bạc theo quy định tại a khoản 1 Điều 322 và khoản 1 Điều 321; Trần Văn C về tội Tổ chức đánh bạc theo quy định tại a khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự; các bị cáo Phùng Văn G1, Trần Văn T, Nguyễn Chí T1 về tội Đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

[3] Xét kháng cáo của các bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Các bị cáo phạm các tội thuộc tệ nạn xã hội nên Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng hình phạt tù để xử phạt các bị cáo là có căn cứ. Tuy nhiên, đối với bị cáo Phùng Văn G đã sử dụng nhà của mình để cho các bị cáo đánh bạc nhưng số tiền đánh bạc không lớn, nhân thân bị cáo chưa có tiền án tiền sự, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn ăn hối cải, bị cáo từng có thời gian phục vụ trong lực lượng quân đội nên chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội, giảm một phần hình phạt cho bị cáo.

Đối với các bị cáo khác đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nhân thân chưa có tiền án tiền sự; riêng đối với bị cáo T1 đã từng phạm tội nhưng khác loại và đã được xóa án tích từ lâu; bị cáo C từng có thời gian phục vụ trong lực lượng quân đội, phạm tội với vai trò giúp sức; các bị cáo G1, T phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo T1, T có hoàn cảnh gia đình khó khăn; các bị cáo đều là lao động chính, có địa chỉ nơi cư trú rõ ràng. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của các bị cáo và một phần đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội; cho các bị cáo được cải tạo ngoài xã hội cũng đủ để giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[5] Về án phí: Do kháng cáo của các bị cáo được chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên, căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c, e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự;

QUYẾT ĐỊNH:

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phùng Văn G, Phùng Văn G1, Trần Văn T, Trần Văn C, Nguyễn Chí T1; sửa bản án hình sự sơ thẩm số 58/2023/HS-ST ngày 06-07/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội về một phần hình phạt đối với các bị cáo. Cụ thể:

Tuyên bố: Phùng Văn G phạm tội “Tổ chức đánh bạc” và tội “ Đánh bạc”; Trần Văn C phạm tội “Tổ chức đánh bạc”; Trần Văn T, Phùng Văn G1, Nguyễn Chí T1 phạm tội “ Đánh bạc”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm a, khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 55; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt Phùng Văn G: 06 tháng tù về tội Đánh bạc và 12 tháng tù về tội Tổ chức đánh bạc. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Được trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/10/2022 đến ngày 28/11/2022.

- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt Trần Văn C: 13 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 26 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo Trần Văn C cho UBND xã Đ, huyện B, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt Trần Văn T: 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo Trần Văn T cho UBND xã Đ, huyện B, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt Phùng Văn G1: 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo Phùng Văn G1 cho UBND xã Đ, huyện B, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt Nguyễn Chí T1: 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 20 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Chí T1 cho UBND xã V, huyện B, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án Hình sự. Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án Hình sự 02 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án treo.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, các bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP Hà Nội;
  • - TAND, VKSND, Công an,
  • Chi cục THADS huyện Ba Vì;
  • - Người kháng cáo;
  • - Lưu HSVA, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Xuân Văn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2024/HS-PT ngày 10/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự (tổ chức đánh bạc và đánh bạc)

  • Số bản án: 07/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phùng Văn G và đồng phạm đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger