Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH KIÊN GIANG

Bản án số: 07/2024/DS-PT.

Ngày: 10/01/2024

V/v: “Tranh chấp hợp đồng

Cầm cố nhà và QSDĐ”.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Quang Tấn

Các thẩm phán: Bà Trần Thị Trâm Anh

Bà Đặng Thị Bích Vân

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Quốc Sang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa:

Ông Trương Văn C - Kiểm sát viên.

Trong ngày 10 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 180/2023/TLPT-DS ngày 08 tháng 11 năm 2023 về yêu cầu tranh chấp hợp đồng cầm cố nhà và quyền sử dụng đất.

Do bản án sơ thẩm số: 68/2023/DS-ST ngày 14 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 211/2023/QĐPT-DS ngày 01 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Dương Thị Kiều H, sinh năm 1997.
  2. Địa chỉ: Ấp T, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang.

    Đại diện ủy quyền của chị H: Bà Ngô Thị T, sinh năm 1977. (có mặt)

    Địa chỉ: Ấp T, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang.

  3. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Ú, sinh năm 1989. (có mặt)
  4. Địa chỉ: Ấp T, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang.

  5. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị X, sinh năm 1981. (vắng mặt)
  6. Địa chỉ: Ấp T, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang.

  7. Người kháng cáo: Bị đơn anh Nguyễn Văn Ú.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, các ý kiến và yêu cầu trong quá trình giải quyết vụ án đại diện ủy quyền của nguyên đơn Dương Thị Kiều H trình bày:

Vào ngày 22/11/2021, mẹ con bà K có cố cho chị H một miếng đất gắn liền căn nhà trên đất có diện tích 141m², tọa lạc tại ấp T, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang, với giá 200.000.000 đồng, thời hạn cố đất 01 năm (đến ngày 22/11/2022 hết hạn). Hai bên có làm giấy tay cố đất và nhà có thế chấp cho chị H 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (bản photo) tên Phạm Thị K1.

Sau khi cố nhà cộng đất cho mẹ con bà K1 thuê lại với giá 8.000.000đ/tháng, trả tiền hàng tháng. Còn tiền cố đất và nhà nếu đến thời hạn mà mẹ con bà K1 không chuộc lại thì phải giao nhà và đất cho chị H sử dụng.

Sau đó có đóng cho chị H được 01 tháng tiền thuê nhà là 8.000.000 đồng, từ tháng 01/2022 đến nay thì không trả nữa.

Đến nay đã quá thời hạn chuộc đất, chị H có đến gặp mẹ con bà K1 để nhắc nhở nhiều lần nhưng cứ hẹn lần hẹn lượt.

Chị H xác định chị Nguyễn Thị X có hỏi vay nhưng chị H không đồng ý vì xác định đúng người trong giấy đất cố thì chị H mới cố đất. Khi đó anh Ú cũng có nói sau khi làm giấy đất mới sẽ đưa nhưng chị H liên hệ nhiều lần anh Ú không đưa.

Chị H xác định ngay từ đầu không cho chị X vay tiền đến khi anh Ú cố đất mới giao tiền. Chị H xác định khi giao tiền là giao cho anh Ú.

Ngày 10/8/2023 đại diện ủy quyền của nguyên đơn có đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện xác định yêu cầu: Tuyên hợp đồng cố nhà cộng đất ngày 22/11/2021 giữa chị Dương Thị Kiều H với bà Phạm Thị K1 và anh Nguyễn Văn Ú là vô hiệu. Buộc anh Nguyễn Văn Ú trả lại chị H số tiền cố đất là 200.000.000 đồng và lãi suất theo quy định của pháp luật từ ngày ký hợp đồng cầm cố nhà và đất đến ngày Tòa án xét xử.

* Theo biên bản ghi lời khai ngày 30 tháng 6 năm 2023, các ý kiến và yêu cầu trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Nguyễn Văn Ú trình bày:

Vào ngày 22/11/2021, chị ruột của anh là Nguyễn Thị X, sinh năm 1981. Địa chỉ: ấp T, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang có nhờ anh ký chứng kiến trong hợp đồng cố nhà và quyền sử dụng đất. Anh thừa nhận có ký tên và ghi rõ họ tên trong hợp đồng vì anh nghĩ ký chứng kiến dùm chị X. Do chị X cũng có 02 căn nhà gần nhà anh nên anh tin là ký chứng kiến dùm chị X. Anh xác định chữ ký K1 không phải do mẹ anh ký mà do chị X ký và chữ ký chỗ xác nhận của UBND xã Đ là do chị X ký. Khi ký xong thì phía chị H giao tiền anh có đếm tiền dùm chị X và giao lại cho chị X. Do khi ký anh không đọc rõ và nghĩ rằng không có đưa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh thì đâu có liên quan đến anh. Tại ngày ký hợp đồng có mặt anh, chị H, chị T, chị X và ông Ngô Thanh H1 - Trưởng ấp Thạnh Tây A ngồi đó chứ anh H1 không có ký xác nhận gì.

Đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tên Phạm Thị K1 (photo) và giấy chứng nhận đăng ký kết hôn (photo) là do chị X lúc trước ở chung nhà với anh, tự lấy. Hiện tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tên của anh, anh đã thế chấp vay tại Ngân hàng N – Chi nhánh huyện A hơn nửa năm nay.

Chị X nói với anh cố nhà chị X mà do mẹ ở chung và nói cất cho mẹ anh nên anh mới ký tên chứng kiến.

Nay chị H xác định thay đổi yêu cầu khởi kiện không yêu cầu đối với bà Phạm Thị K1 anh không có ý kiến gì.

Đối với yêu cầu anh trả lại chị H số tiền cố đất là 200.000.000đ và lãi suất theo quy định của pháp luật từ ngày ký hợp đồng cầm cố nhà và đất đến ngày Tòa án xét xử. Anh không đồng ý vì anh chỉ ký chứng kiến thay cho bà Nguyễn Thị X.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 68/2023/DS-ST ngày 14/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang đã xét xử, quyết định:

Tuyên bố Hợp đồng cầm cố nhà và quyền sử dụng đất ngày 22/11/2021 giữa Dương Thị Kiều H với Phạm Thị K1 và Nguyễn Văn Ú là vô hiệu.

Buộc bị đơn anh Nguyễn Văn Ú có nghĩa vụ hoàn trả cho nguyên đơn số tiền 200.000.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng khác và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định pháp luật.

Đến ngày 12/10/2023 ông Nguyễn Văn Ú có đơn kháng cáo Bản án sơ thẩm với nội dung:

Đề nghị xem xét lại toàn bộ vụ án: Anh Ú không đồng ý trả cho chị H số tiền 200.000.000 đồng như Tòa sơ thẩm đã tuyên vì số tiền này do chị ruột của anh là chị Nguyễn Thị X cầm cố nhà, đất với chị H chứ không phải anh.

Tại phiên Tòa: Ông Út giữ nguyên nội dung kháng cáo, không đồng ý trả cho bà H số tiền 200.000.000 đồng. Đề nghị triệu tập bà X chịu trách nhiệm trả nợ cho bà H.

Tại phiên tòa: Đại diện nguyên đơn yêu cầu giữ nguyên án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang phát biểu quan điểm:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của các bên đương sự từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 01 Điều 308 BLTTDS giữ nguyên án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn chị Dương Thị Kiều H yêu cầu “Tuyên bố Hợp đồng cầm cố nhà và quyền sử dụng đất ngày 22/11/2021 giữa Dương Thị Kiều H với Phạm Thị K1 và Nguyễn Văn Ú là vô hiệu. Buộc bị đơn anh Nguyễn Văn Ú có nghĩa vụ hoàn trả cho nguyên đơn số tiền 200.000.000 đồng.” . Do đó, cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật “tranh chấp hợp đồng cầm cố nhà và quyền sử dụng đất” để giải quyết là phù hợp.

[1.2] Sự vắng mặt của các đương sự:

Chị Nguyễn Thị X đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không lý do chính đáng. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định khoản 2 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung tranh chấp:

Nguyên đơn yêu cầu tuyên hợp đồng cố nhà cộng đất ngày 22/11/2021 giữa chị Dương Thị Kiều H với bà Phạm Thị K1 và anh Nguyễn Văn Ú là vô hiệu. Buộc anh Nguyễn Văn Ú trả lại chị H số tiền cố đất là 200.000.000 đồng và xác định không yêu cầu tính lãi. Phía bị đơn anh Nguyễn Văn Ú đồng ý trả lại cho nguyên đơn Dương Thị Kiều H số tiền cố đất là 200.000.000 đồng nhưng xin trả dần mỗi tháng 3.000.000 đồng.

[3] Xét kháng cáo của bị đơn anh Nguyễn Văn Ú Hội đồng xét xử xét thấy:

Hợp đồng cầm cố nhà và QSD đất giữa chị Dương Kiều H và anh Nguyễn Văn Ú được lập cùng ngày 21/11/2021, nội dung anh Ú, bà K1, cầm cố nhà và đất cho chị H tổng diện tích 138m² đất tọa lạc tại ấp T, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang, theo giấy chứng nhận QSD đất số BN 390599 do UBND huyện A cấp ngày 8/11/2013. Xét về hình thức và nội dung của hợp đồng cầm cố điều vi phạm pháp luật. Do đó căn cứ các Điều 123, Bộ luật Dân sự 2015, Điều 167 Luật Đất đai năm 2013 thì giao dịch cầm cố nhà và đất giữa anh Ú, bà K1 và chị H là vô hiệu kể từ khi ký kết. Do đó xét yêu cầu của nguyên đơn tuyên bố hợp đồng vô hiệu và buộc bị đơn trả số tiền 200.000.000 đồng là có căn cứ. anh Ú kháng cáo không đồng ý thanh toán số tiền 200.000.000đồng cho chị H với lý do không nhận tiền và không thực hiện hợp đồng cầm cố là không có cơ sở, bởi lẽ: hợp đồng cầm cố là do anh Ú giao dịch, cầm cố quyền sử dụng đất tên anh Ú, chử ký trong hợp đồng của anh Ú, trong hợp đồng không có tên chị X, nên người chịu trách nhiệm giải quyết hậu quả thuộc về anh Ú, tại phiên Tòa sơ thẩm anh Ú chấp nhận trả cho chị H 200.000.000 đồng xin trả dần mõi tháng 3.000.000 đồng, nay lại làm đơn kháng cáo không đồng ý trả là không có căn cứ.

Tại phiên tòa phúc thẩm anh Ú không đưa ra các chứng cứ nào khác. Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Văn Ú.

Do vậy qua thảo luận nghị án, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận quan điểm đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang. Giữ y bản án dân sự sơ thẩm số: 68/2023/DS-ST ngày 14 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện An Minh.

[4]. Về án phí:

Án phí dân sự sơ thẩm: Yêu cầu khởi kiện của chị H được chấp nhận nên không phải nộp án phí.

Án phí dân sự phúc thẩm: anh Ú phải chịu án phí DSPT 300.000 đồng do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận, anh Ú được khấu trừ tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0001397 ngày 9/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang. Anh Ú không phải nộp thêm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 01 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ khoản 3 Điều 26; Điều 35; Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; Điều 272; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 123, 131 Bộ luật dân sự;

Căn cứ Điều 167 Luật đất đai;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Không Chấp nhận kháng cáo của bị đơn anh Nguyễn Văn Ú.

Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 68/2023/DS-ST ngày 14 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang.

Tuyên xử:

  1. Tuyên bố Hợp đồng cầm cố nhà và quyền sử dụng đất ngày 22/11/2021 giữa Dương Thị Kiều H với Phạm Thị K1 và Nguyễn Văn Ú là vô hiệu.
  2. Buộc bị đơn anh Nguyễn Văn Ú có nghĩa vụ hoàn trả cho nguyên đơn số tiền 200.000.000 đồng.

  3. Án phí dân sự:
    1. Về án phí dân sự sơ thẩm:
      • Anh Nguyễn Văn Ú chịu 10.300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
      • Hoàn trả cho chị Dương Thị Kiều H số tiền 6.350.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001179 ngày 27 tháng 3 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang.
    2. Án phí dân sự phúc thẩm:
    3. Anh Ú phải chịu án phí DSPT 300.000 đồng do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận, anh Ú được khấu trừ tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0001397 ngày 09/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang. Anh Ú không phải nộp thêm.

  4. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

- VKSND tỉnh Kiên Giang;

- TAND huyện An Minh;

- Chi cục THADS huyện An Minh;

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ vụ án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Quang Tấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2024/DS-PT ngày 10/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp hợp đồng cầm cố nhà và qsdđ

  • Số bản án: 07/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng Cầm cố nhà và QSDĐ
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/01/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà H tc với ông U
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger