Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHỢ MỚI

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 07/2024/HNGĐ-ST

Ngày 10-01-2024

V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm, gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Tâm Nhân.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Trương Phước Công;

ông Nguyễn Thanh Liêm.

- Thư ký phiên tòa: bà Lê Thị Cẩm Tiên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Kiều Tiên- Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 672/2023/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2023 về “ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 565/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:Cao Thị Xuân T, sinh năm 1980; nơi cư trú: tổ B, ấp Đ, xã M, huyện C, tỉnh An Giang.

- Bị đơn: ông Trần Trọng H, sinh năm 1976; nơi cư trú: tổ B, ấp Đ, xã M, huyện C, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 24/7/2023, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bà Cao Thị Xuân T trình bày: bà T và ông H chung sống với nhau vào năm 2020 tại Thành phố Hồ Chí Minh, có đăng ký ngày 09/8/2022 và được cấp chứng nhận kết hôn theo bản chính giấy chứng nhận kết hôn số 127 của Ủy ban nhân dân xã M. Quá trình chung sống, vợ chồng không có con chung.

Sau khi kết hôn với ông H thì bà T về quê sinh sống tại xã M, huyện C, tỉnh An Giang, còn ông H ở lại thành phố Hồ Chí Minh làm công nhân. Trong thời gian sống chung, bà T phát hiện ông H thường bày tỏ tình cảm với người phụ nữ khác đã từng quen nhau cách đây 10 năm, cho đến nay vẫn còn qua lại, chụp hình chung với người phụ nữ đó mặc dù ông H có kết hôn với bà T. Từ đó, bà T cảm thấy hụt hẫng, không muốn tiếp tục sống chung với ông H, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ năm 2022 và chính thức sống ly thân từ đầu tháng 01 năm 2023 đến nay. Vì vậy, bà T yêu cầu ly hôn với ông H. Khi ly hôn, bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản.

Tại phiên tòa: bà T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, vợ chồng không có con chung, tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới:

Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 195, 196, 197, 198 và Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm, bảo đảm các trình tự, thủ tục và quyền tranh tụng tại phiên tòa.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: bà T yêu cầu ly hôn, do vợ chồng mâu thuẫn, ông H không chăm lo hạnh phúc vợ chồng, có mối quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác, vợ chồng sống ly thân từ tháng 01 năm 2023 đến nay, vợ chồng không ai tạo điều kiện hàn gắn tình cảm và ông H cũng không có ý kiến phản hồi làm cho hôn nhân mâu thuẫn trầm trọng.

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T đối với ông H; bà T xác định vợ chồng không có con chung, tài sản chung nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phân tích, đánh giá và nhận định như sau:

[1] Bà T có đơn khởi kiện đối với ông H về yêu cầu ly hôn. Ông H có địa chỉ cư trú tại ấp Đ, xã M, huyện C, tỉnh An Giang. Do đó, quan hệ pháp luật của vụ án là “ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Ông H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Giữa bà T và ông H xác lập hôn nhân tự nguyện, có đăng ký và được Ủy ban nhân dân xã M cấp chứng nhận kết hôn nên quan hệ vợ chồng hợp pháp được tôn trọng và pháp luật bảo vệ. Tuy nhiên, bà T cho rằng “vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do ông H có mối quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác và sống ly thân kể từ tháng 01 năm 2023 đến nay”. Chứng minh cho vấn đề khởi kiện, bà T có giao nộp cho Tòa án bằng chứng là hình ảnh được bà T lấy từ trang mạng xã hội của ông H đăng tải thông tin, ghi nhận ông H ngồi tình tứ với người phụ nữ khác.

[3] Mặt khác, kể từ khi Tòa án thụ lý, hòa giải, xét xử vụ việc hôn nhân và gia đình, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông H nhằm tạo điều kiện, tổ chức hòa giải hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng ông H không có văn bản ý kiến, vắng mặt không có lý do thì xem như ông H bỏ mặc việc tham gia tố tụng tại Tòa án cấp sơ thẩm theo yêu cầu ly hôn của bà T. Bên cạnh đó, bà T không muốn tiếp tục sống chung với ông H mặc dù đã được Tòa án động viên, hàn gắn.

Như vậy, bà T, ông H đã bỏ mặc nhau, mạnh ai nấy sống riêng, không có tình nghĩa vợ chồng với nhau. Bên cạnh đó, ông H có quan hệ ngoại tình là sống không chung thủy, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không đạt được. Bà T yêu cầu ly hôn với ông H là có căn cứ. Theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1, 2 Điều 19, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà T về việc ly hôn đối với ông H.

[4] Bà T xác định vợ chồng không có con chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung. Theo quy định tại Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án không xem xét.

[5] Về án phí sơ thẩm: bà T phải chịu án phí ly hôn không có giá ngạch theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 5, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1, 2 Điều 19, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 2 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Chấp nhận khởi kiện của nguyên đơn bà Cao Thị Xuân T đối với bị đơn ông Trần Trọng H;

Cao Thị Xuân T được ly hôn với ông Trần Trọng H.

Giấy chứng nhận kết hôn số 127, ngày đăng ký 29/8/2022 do Ủy ban nhân dân xã M cấp cho bà T và ông H không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Về án phí sơ thẩm:Cao Thị Xuân T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai số 0014144 ngày 23 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới.

3. Bà T có quyền kháng cáo đối với bản án trong thời hạn 15 ngày được tính từ ngày tuyên án. Ông H vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

4. Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh An Giang;
  • - Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp;
  • - Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Mới;
  • - Ủy ban nhân dân nơi thực hiện đăng ký kết hôn;
  • - Lưu: văn thư, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Tâm Nhân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2024/HNGĐ-ST ngày 10/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG về ly hôn

  • Số bản án: 07/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: rong thời gian sống chung, bà T phát hiện ông H thường bày tỏ tình cảm với người phụ nữ khác đã từng quen nhau cách đây 10 năm, cho đến nay vẫn còn qua lại, chụp hình chung với người phụ nữ đó mặc dù ông H có kết hôn với bà T. Từ đó, bà T cảm thấy hụt hẫng, không muốn tiếp tục sống chung với ông H, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ năm 2022 và chính thức sống ly thân từ đầu tháng 01 năm 2023 đến nay. Vì vậy, bà T yêu cầu ly hôn với ông H.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger