TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 07/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 10 – 01 – 2024.
V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn, nuôi con chung"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ
Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Bảo
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Phan Phước Tân;
- Ông Nguyễn Quốc Thanh
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàn Mỹ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Phú
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú tham gia phiên tòa: Bà Lâm Thị Thanh Thúy – Kiểm sát viên
Ngày 10 tháng 01 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 343/2023/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2023 về tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 563/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 11 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Ra Đ, sinh năm 1987 (có mặt)
Nơi cư trú: Tổ 20, ấp H, xã P, huyện P, tỉnh An Giang
- Bị đơn: Bà Bùi Thị N, sinh năm 1983 (có đơn xin xét xử vắng mặt)
Nơi cư trú: Khóm P, thị trấn Đ, huyện A, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện cùng với các tài liệu, chứng cứ kèm theo và quá trình tố tụng tại Tòa án, ông Đ trình bày:
Hôn nhân giữa ông với bà N xác lập trên cơ sở tự tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện P, tỉnh An Giang năm 2008 (Theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 09, ngày 21/01/2008). Quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng đến 2020 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng đã hết tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được và đã nhiều lần hàn gắn tình cảm nhưng vẫn không thành. Trước đây năm 2019, ông có nộp đơn khởi kiện xin ly hôn với bà N đến Tòa án huyện A, do cũng muốn hàn gắn lại nên đã rút đơn nhưng cảm thấy không thay đổi được gì, vì vậy xin ly hôn với bà N.
Về con chung: Trong quá trình chung sống, cả hai có 01 con chung tên là Nguyễn Bùi Gia P, sinh ngày 29/9/2009. Hiện nay cháu đang sống với bà N; sau khi ly hôn, ông đồng ý để bà N được tiếp tục nuôi dạy con chung. Xin không cấp dưỡng.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn là bà N trình bày: Xác nhận lời trình bày của ông Đ về thời gian chung sống, việc kết hôn, con chung là đúng. Sau khi kết hôn thì cả hai sinh sống ở nhiều nơi do đặc thù công việc của ông Đ. Đến đầu năm 2023 vợ chồng cất nhà ở xã Đ, huyện A. Sau khi cất nhà thì ông Đ đi làm ăn xa, vợ chồng cũng có liên lạc với nhau nhưng vài tháng nay thì ông Đ chỉ gọi cho con để nói chuyện chứ không nói chuyện, liên lạc với bà rồi tự nộp đơn khởi kiện, ly hôn. Bà xác định vợ chồng sống chung không mâu thuẫn, xác nhận năm 2019 ông Đ có khởi kiện xin ly hôn nhưng sau đó rút đơn lại. Trước thời điểm ông Đ nộp đơn khởi kiện lần này thì do nhớ chồng và muốn con gặp cha nên có nói là nếu ông Đ làm đơn thì bà đồng ý kí tên, ly hôn nhưng nay không đồng ý ly hôn do còn thương chồng.
Con chung là cháu Nguyễn Bùi Gia P trình bày: Cháu hiện sống với mẹ. Về nguyên nhân mâu thuẫn không biết nhưng khoảng 01 tháng trước khi cháu gọi cho cha thì một người phụ nữ bắt máy, xưng là vợ ông Đ. Nếu cha mẹ ly hôn thì muốn sống với mẹ.
Tòa án đã tiến hành hòa giải để các bên tự hàn gắn, chung sống lại nhưng ông Đ không đồng ý đoàn tụ, bà N không chịu ly hôn. Tại phiên họp về việc tiếp cận, công khai chứng cứ các đương sự không bổ sung chứng cứ mới.
Tại đơn xin vắng mặt tại phiên tòa ngày 21/12/2023, bà N đồng ý ly hôn.
Tại phiên tòa, ông Đ có mặt vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bà N có đơn xin vắng mặt, đồng thời trình bày ý kiến thuận tình ly hôn.
Đại diện Viện Kiểm sát thực hành quyền kiểm tra, giám sát việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa phát biểu: Về việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán trong quá trình hòa giải, xác minh thu thập chứng cứ, xác định quan hệ tranh chấp, tư cách người tham gia tố tụng... là hoàn toàn phù hợp với pháp luật tố tụng dân sự. Đối với thành phần Hội đồng xét xử, thư ký phiên toà không có thành viên nào thuộc đối tượng phải thay đổi, tại phiên tòa thủ tục xét xử vắng mặt được đảm bảo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Ông Đ khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp quyền nuôi con với bà N. Bà N đang cư trú trên địa bàn huyện A. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, đây là tranh chấp Hôn nhân và gia đình về ly hôn, nuôi con chung và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Phú.
Về sự vắng mặt của đương sự: Bà N có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân:
Xét yêu cầu của ông Đ xin ly hôn với bà N thì thấy: Hôn nhân giữa ông Đ với bà N xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn nên có giá trị pháp lý và làm phát sinh các quyền, nghĩa vụ của vợ chồng đối với nhau theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình.
Mặc dù Tòa án đã tiến hành mở phiên hòa giải để tạo điều kiện cho ông, bà hàn gắn, chung sống lại nhưng ông Đ không đồng ý đoàn tụ. Về nguyên nhân mâu thuẫn, lời trình bày của cháu P cho thấy do ông Đ có mối quan hệ với người phụ nữ khác và thời gian không chung sống thì không liên lạc với bà N. Bà N không đồng ý ly hôn với lý do không có mâu thuẫn nhưng bà khai trước đây ông Đ đã khởi kiện yêu cầu ly hôn với bà nhưng sau đó rút lại yêu cầu; trước thời điểm ông Đ nộp đơn khởi kiện lại bà có nói là nếu ông Đ làm đơn thì bà đồng ý kí tên, thuận tình ly hôn và tại đơn xin vắng mặt ngày 21/12/2023 bà N thuận tình ly hôn. Điều này cho thấy mâu thuẫn trong đời sống vợ chồng đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Đ.
[3] Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Bùi Gia P, sinh ngày 29/9/2009. Hiện nay cháu đang sống với bà N.
Xét thấy: Cháu P có nguyện vọng muốn sống chung với mẹ khi cha, mẹ ly hôn và đang do mẹ nuôi dưỡng, ông Đ không có ý kiến về quyền nuôi con chung nên để đảm bảo cho sự phát triển ổn định về tâm, sinh lý của con chung, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu P cho bà N tiếp tục nuôi dạy.
[4] Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Bà N không yêu cầu ông Đ thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét buộc ông Đ phải cấp dưỡng. Trường hợp có tranh chấp về nghĩa vụ cấp dưỡng thì bà N có quyền khởi kiện trong vụ án khác.
[5] Về tài sản chung, nợ chung: Do các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết, không đề cập trong phần quyết định. Trường hợp sau này ông, bà có tranh chấp về việc chia tài sản chung, giải quyết các khoản nợ chung thì có quyền khởi kiện trong vụ án khác.
[6] Về án phí: Do yêu cầu của ông Đ được chấp nhận nên ông phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 273 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 9, Điều 58 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 hướng dẫn về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
- Về hôn nhân: Ông Nguyễn Ra Đ được ly hôn bà Bùi Thị N.
- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Bùi Gia P, sinh ngày 29/9/2009 đang sống với bà N cho bà được tiếp tục nuôi dạy. Ông Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Bà N cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông Đ trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con dựa trên các căn cứ theo quy định của pháp luật hoặc hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên.
- Về án phí: Ông Đ phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình, được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà ông đã nộp theo biên lai thu số 0008566 ngày 10/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú.
Đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc vắng mặt khi tuyên án, thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú./.
* Nơi gửi: THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA - TAND tỉnh AG (1); - VKSND tỉnh AG (1); - (2); - THA H. AP (1); - UBND xã H, Phú Tân, An Giang (1); - Các đương sự (2); - Lưu HS + VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quang B |
Bản án số 07/2024/HNGĐ-ST ngày 10/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 07/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/01/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, nuôi con
