|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH TỈNH NINH BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do- Hạnh phúc |
|
Bản án số: 07/2024/HNGĐ-ST Ngày: 09/5/2024 V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH TỈNH NINH BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Giang Thị Thúy Thu.
- Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Quách Thị Thu Hương.
- 2. Bà Hoàng Thị Kim Phượng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thanh Mai - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình tham gia phiên tòa: Bà Lê Đức Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 05 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 03/2024/TLST- HNGĐ ngày 10 tháng 01 năm 2024 về Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2024/QĐXX-ST ngày 12 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1990.
- - Bị đơn: Anh Vũ Hồng P, sinh năm 1989.
Cùng nơi cư trú: số nhà C, ngõ A, phố V, P, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình.
Tại phiên toà: có mặt nguyên đơn; vắng mặt có lý do bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày:
Chị và anh Vũ Hồng P đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện vào ngày 24/10/2010, tại UBND phường Đ, thành phố N, tỉnh Ninh Bình. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị chung sống với bố mẹ chồng khoảng 4 năm tại phường Đ, thành phố N sau đó chuyển ra ở riêng tại phường N, thành phố N. Cuộc sống vợ chồng vui vẻ, hạnh phúc được khoảng 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh P chơi bời, không quan tâm đến vợ con và gia đình, mâu thuẫn về kinh tế dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi, chửi nhau, có lần anh P còn đánh chị và đập phá đồ đạc trong nhà khiến cuộc sống vợ chồng luôn căng thẳng, ảnh hưởng đến con cái. Bố, mẹ hai bên và bản thân chị cũng đã góp ý với anh P nhiều lần nhưng không được, anh P vẫn tiếp tục chơi bời. Từ tháng 12 năm 2023 đến nay vợ chồng tuy sống chung nhà nhưng ly thân, không quan hệ vợ chồng với nhau. Nay, chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng nên đề nghị Tòa án xem xét giải quyết cho chị được ly hôn anh P.
Về con chung: vợ chồng chị có 02 con chung là cháu Vũ Bảo N, sinh ngày 25/9/2012 và cháu Vũ Đức A, sinh ngày 12/9/2016. Khi ly hôn tại đơn khởi kiện và bản tự khai chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được nuôi 2 con; về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con: chị đề nghị anh P cấp dưỡng cho con mỗi tháng mỗi con là 1.500.000 đồng. Tại biên bản về kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và không tiến hành hoà giải chị thay đổi quan điểm về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con: chị và anh P tự thỏa thuận, không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và công nợ chung: Vợ chồng chị tự thỏa thuận, không đề nghị Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Vũ Hồng P:
Quá trình giải quyết vụ án anh P không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu của chị T, không nộp tài liệu, chứng cứ. Ngày 03/4/2024 theo yêu cầu của anh P, Toà án tiến hành lập biên bản lấy lời khai. Anh P trình bày: anh đã nhận được thông báo thụ lý vụ án của Toà án. Vợ chồng anh cũng có những mâu thuẫn, tuy nhiên anh không mong muốn hai vợ chồng ly hôn nhưng nếu chị T nhất quyết muốn ly hôn thì anh cũng đồng ý ly hôn.
Về con chung: vợ chồng anh có 2 con chung, nếu phải ly hôn anh hay chị T nuôi con đều được nhưng sắp tới anh phải đi làm ăn xa nên anh đồng ý cho chị T nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục 2 con chung. Về cấp dưỡng cho con : vợ chồng anh tự thoả thuận, không đề nghị Toà án giải quyết.
Về tài sản chung: Vợ chồng anh không đề nghị Toà án giải quyết.
Do công việc phải đi làm ăn xa, anh không đến Toà án giải quyết vụ án được nên anh đề nghị Toà án giải quyết vắng mặt anh. Anh xin vắng mặt trong các buổi làm việc, hoà giải, xét xử tại Toà án.
* Tại phiên tòa: chị T xuất trình 02 giấy xác nhận thu nhập để chứng minh thu nhập đảm bảo nuôi con và trình bày: ngoài lý do mâu thuẫn chị đã trình bày trước đây thì anh P còn là người sử dụng trái phép chất ma túy, bị Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình kết án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, năm 2022 anh P ra trại cải tạo nhưng chỉ được một thời gian lại tiếp tục sử dụng ma túy, chị khuyên bảo thì anh P chửi bới, đe dọa đánh đập chị nên chị giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh P. Về con chung: chị đề nghị được chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục cả 2 con chung là cháu N và cháu A; Về cấp dưỡng cho con: chị tự thoả thuận với anh P, không đề nghị Toà án giải quyết; Về tài sản chung và công nợ chung: chị không đề nghị Tòa án giải quyết.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình phát biểu ý kiến: về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, đã tuân thủ, thực hiện đầy đủ, đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 71, điều 234 BLTTDS; Bị đơn chưa thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 72 BLTTDS.
Quan điểm về nội dung vụ án: Áp dụng Điều 51; khoản 1 Điều 56; 81; 82; 83; 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 BLTTDS năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH, đề nghị HĐXX xử:
- - Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T. Cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Vũ Hồng P.
- - Về con chung: Giao cháu Vũ Bảo N, sinh ngày 25/9/2012 và cháu Vũ Đức A, sinh ngày 12/9/2016 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật đến khi các cháu đủ 18 tuổi. chị T và anh P tự thoả thuận việc cấp dưỡng tiền nuôi con chung, không đề nghị Toà án giải quyết.
- - Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: chị Nguyễn Thị T phải nộp 300.000 đồng, được trừ vào số tiền đã nộp tạm ứng án phí tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình (biên lai số 0000179 ngày 09/01/2024) .
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
-
Về thủ tục tố tụng: chị T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con với anh Vũ Hồng P, có nơi cư trú tại phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình.
Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho các đương sự chị T thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình, anh P đề nghị Toà án giải quyết vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh P.
-
Về nội dung vụ án:
- - Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị T và anh Vũ Hồng P xác lập quan hệ hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, không vi phạm điều kiện, thủ tục kết hôn, có đăng ký kết hôn năm 2010 nên là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.
- Sau khi kết hôn chị T và anh P chung sống hòa thuận hạnh phúc được khoảng 1 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo chị T là do anh P chơi bời, sử dụng trái phép chất ma túy, không quan tâm đến vợ con, mâu thuẫn về kinh tế, vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau, có lần anh P còn đánh chị, đập phá đồ đạc trong nhà. Chị T và gia đình hai bên đã góp ý với anh P nhiều lần nhưng không được, từ tháng 12 năm 2023 đến nay vợ chồng tuy sống chung nhà nhưng ly thân, không quan hệ với nhau nên chị đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh P. Anh P xác định vợ chồng có mâu thuẫn không mong muốn ly hôn nhưng nếu chị T nhất quyết ly hôn thì anh P cũng đồng ý. Quá trình giải quyết vụ án anh P không đến Toà án mà đề nghị giải quyết vắng mặt chứng tỏ anh P cũng không thiết tha mong muốn cải thiện quan hệ vợ chồng để về đoàn tụ, cùng nhau nuôi dạy con chung.
- UBND phường N, thành phố N cung cấp trong quá trình sinh sống vợ chồng anh P chị T thường xảy ra đánh cãi nhau, có lần trưởng phố và công an khu vực phải đến hoà giải và giữ an ninh trật tự tại phố.
- Từ những phân tích trên, cho thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh P đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận đơn khởi kiện của chị T, cho chị T được ly hôn anh P là phù hợp với Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
- - Về con chung: chị T và anh P có 2 con chung là cháu Vũ Bảo N, sinh ngày 25/9/2012 và cháu Vũ Đức A, sinh ngày 12/9/2016. Khi ly hôn chị T có nguyện vọng được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung . Anh P cũng đồng ý để chị T nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục 02 con chung. Xét thấy 02 cháu đều có nguyện vọng ở với mẹ, bản thân chị T đảm bảo điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng các cháu, nên căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của các con cần giao cháu N và cháu A cho chị T trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi là phù hợp với khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con: Tại đơn khởi kiện và bản tự khai chị T đề nghị anh P cấp dưỡng cho mỗi con mỗi tháng là 1.500.000 đồng, nhưng tại biên bản về kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và không tiến hành hoà giải được và tại phiên tòa chị T đề nghị để chị tự thoả thuận với anh P, không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Về tài sản chung, công nợ chung: Do các đương sự không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: chị T là người khởi kiện xin ly hôn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về việc giải quyết vụ án là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình. Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” đối với anh Vũ Hồng P.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị T ly hôn anh Vũ Hồng P.
- Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung là cháu Vũ Bảo N, sinh ngày 25/9/2012 và cháu Vũ Đức A, sinh ngày 12/9/2016 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.
- Về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con: chị Tình tự thoả thuận với anh P, không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Anh P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó; các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng cho con.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: chị Nguyễn Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị T đã nộp trong biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000179 ngày 09/01/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình.
Án xử sơ thẩm, nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6 Điều 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà |
|
- Lưu hồ sơ; Giang Thị Thúy Thu |
Bản án số 07/2024/HNGĐ-ST ngày 09/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH TỈNH NINH BÌNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 07/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH TỈNH NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử cho ly hôn
