|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 07/2024/DS-ST
Ngày: 09 - 01 - 2024
V/v tranh chấp Hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN,TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thuỳ Giang
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Xuân Loan
Bà Lê Thị Thanh Vân
- Thư ký phiên tòa: Bà Khưu Huỳnh Mỹ Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Đức – Kiểm sát viên.
Trong ngày 09 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 390/2023/TLST-DS ngày 16 tháng 10 năm 2023 về “tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 624/2023/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 11 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 602/2023/QÐST-DS ngày 25 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần Á (A);
Địa chỉ trụ sở: Số D N, phường E, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh;
Người đại diện theo pháp luật: Ông Từ Tiến P; chức vụ/chức danh: Tổng Giám đốc;
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Thanh H; chức vụ/chức danh: Giám đốc Phòng Quản lý nợ;
Người đại diện theo ủy quyền lại: Ông Phạm Minh T; chức vụ/chức danh: Nhân viên Xử lý nợ;
Địa chỉ liên lạc: Lầu H, Tòa nhà A, 444A - D C, Phường A, Quận C, thành phố Hồ Chí Minh.
2. Bị đơn: Ông Châu Minh T1, sinh năm 1970;
Địa chỉ: Số A khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang.
Tại phiên tòa, ông Phạm Minh T đại diện cho nguyên đơn vắng mặt và có đơn xin vắng mặt; ông Châu Minh T1 vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng thương mại cổ phần Á (viết tắt là Ngân hàng) trình bày:
Ngân hàng thương mại cổ phần Á có cấp tín dụng cho ông Châu Minh T1 theo:
- Hợp đồng tín dụng trả góp số BIK.CN.1415.161118 ngày 16 tháng 11 năm 2018: số tiền vay là 300.000.000 đồng; mục đích cho vay là tiêu dùng tín chấp; phương thức cho vay là cho vay từng lần; phương thức giải ngân là toàn bộ số tiền cho vay (nợ gốc) được giải ngân một lần vào tài khoản thanh toán số 3145877 của ông Châu Minh T1 mở tại Ngân hàng; thời hạn cho vay là 60 tháng, kể từ ngày kế tiếp ngày bên được cấp tín dụng nhận tiền vay lần đầu; lãi suất trong hạn là lãi suất tính theo dư nợ vay ban đầu 7,9%/năm (LS1), lãi suất tính theo dư nợ cho vay thực tế 15,54%/năm (LS2), lãi suất quá hạn là 150% lãi suất trong hạn (LS2), lãi suất phạt chậm trả lãi là 10%/năm.
- Thẻ tín dụng theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng số 7918320030600 ngày 16 tháng 11 năm 2018 và Bảng các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng (là một phần không tách rời của Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng) của Ngân hàng: số thẻ tín dụng 9704** **** 1691 cấp ngày 16 tháng 11 năm 2018; loại thẻ: Express Credit; hạn mức thẻ: 20.000.000 đồng; hiệu lực thẻ: tháng 11/2020; lãi suất (trong hạn, quá hạn), phí: Theo Bảng các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng.
Quá trình thực hiện các hợp đồng tín dụng ông T1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng. Do đó, căn cứ thỏa thuận giữa hai bên về việc chấm dứt cho vay, chấm dứt sử dụng thẻ, thu hồi nợ trước hạn và chuyển nợ quá hạn:
- Ngày 12 tháng 7 năm 2022, Ngân hàng đã chuyển khoản tiền nợ của thẻ số 9704** **** 1691 cấp ngày 16 tháng 11 năm 2018 sang nợ quá hạn, đồng thời quyết định chấm dứt việc sử dụng thẻ và thu hồi toàn bộ nợ thẻ chưa thanh toán nêu trên.
- Ngày 07 tháng 12 năm 2022, Ngân hàng ra Thông báo thu hồi nợ trước hạn đối với khoản vay của Hợp đồng tín dụng trả góp số BIK.CN.1415.161118 ngày 16 tháng 11 năm 2018.
Dư nợ tính đến ngày 01 tháng 11 năm 2023 của ông T1 còn nợ Ngân hàng các khoản sau:
- Hợp đồng tín dụng trả góp số BIK.CN.1415.161118 ngày 16 tháng 11 năm 2018: Nợ vốn gốc 91.000.000 đồng, lãi trong hạn 19.881.667 đồng, lãi quá hạn 19.648.308 đồng, phạt chậm trả lãi 2.925.878 đồng, tổng cộng: 133.455.852 đồng.
- Thẻ số 9704** **** 1691 cấp ngày 16 tháng 11 năm 2018: Nợ vốn gốc 23.040.821 đồng, lãi quá hạn 6.257.685 đồng, tổng cộng: 29.298.506 đồng.
Đối với thẻ số 9704** **** 1691 cấp ngày 16 tháng 11 năm 2018, cách tính lãi và số tiền còn nợ như sau:
- Lãi quá hạn = (tổng dư nợ – (lãi trong hạn + phí)) x lãi suất quá hạn
- Số tiền vốn = dư nợ cuối kỳ trước khi chuyển quá hạn (ngày 12 tháng 7 năm 2022) + lãi trong hạn + phí + phạt chậm trả).
- Từ ngày 24 tháng 9 năm 2022, Ngân hàng đã không tính lãi trong hạn, phí, phạt chậm trả đối với ông C.
Bị đơn ông Châu Minh T1: Vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án, không cung cấp tài liệu, chứng cứ để giải quyết vụ án.
Tòa án đã tiến hành tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và tiến hành hòa giải nhưng bị đơn đều vắng mặt không lý do, nên vụ án không tiến hành hòa giải được. Do đó, Tòa án mở phiên tòa sơ thẩm xét xử công khai vụ án để Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.
Tại phiên tòa:
- Ông Phạm Minh T vắng mặt và có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, cung cấp bản tự khai với nội dung: Ngân hàng giữ nguyên yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu ông C trả tiền nợ vay theo các hợp đồng tín dụng và tiền lãi, phí phát sinh. Cụ thể: Yêu cầu ông C phải trả số tiền còn nợ cho Ngân hàng tạm tính đến ngày 09 tháng 01 năm 2024: Đối với Hợp đồng tín dụng số BIK.CN.1415.161118: vốn gốc là 91.000.000 đồng, lãi trong hạn là 19.881.667 đồng, lãi quá hạn là 23.658.266 đồng, phạt chậm trả lãi là 3.548.828 đồng; tổng cộng là 138.088.761 đồng. Đối với thẻ tín dụng: vốn gốc là 21.717.317 đồng, lãi trong hạn là 0 đồng, lãi quá hạn là 7.162.887 đồng, phạt chậm trả lãi là 0 đồng; tổng cộng 28.880.204 đồng.
- Ông Châu Minh T1 vắng mặt và không cung cấp ý kiến, tài liệu, chứng cứ.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:
Về thủ tục tố tụng: Hội đồng xét xử, Thư ký tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về trình tự, thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt suốt quá trình giải quyết vụ án nên chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Ngày 16 tháng 11 năm 2018, Ngân hàng ký hợp đồng tín dụng đối với ông Châu Minh T1 với số tiền cho vây là: 300.000.000 đồng và 01 thẻ tín dụng hạn mức là 20.000.000 đồng. Lãi suất theo hợp đồng đã thỏa thuận. Thực hiện Hợp đồng tín dụng trên, Ngân hàng đã đồng ý giải ngân cho ông T1 tổng số tiền 320.000.000 đồng. Đến ngày 07 tháng 12 năm 2022, do ông T1 không thực hiện việc trả nợ gốc và lãi nên Ngân hàng ra thông báo thu hồi nợ gốc và chuyển lại quá hạn cho ông T1 biết. Do ông T1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng yêu cầu nợ gốc, nợ lãi tính đến ngày 09 tháng 01 năm 2024: Đối với Hợp đồng tín dụng trả góp BIK.CN.1415161118 ngày 16 tháng 11 năm 2018, vốn gốc: 91.000.000 đồng; lãi trong hạn: 19.881.667 đồng; lãi quá hạn: 23.658.266 đồng, phạt chậm trả 3.548.828 đồng, tổng số tiền: 138.088.761 đồng. Đối với thẻ tín dụng 9704** **** 1691 cấp ngày 16 tháng 11 năm 2018: vốn gốc 21.717. 317 đồng, lãi suất còn nợ 7.162.887 đồng, tổng số tiền: 28.880.204 đồng. Căn cứ các Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng và Điều 7, Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao; Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đương sự, Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngân hàng khởi kiện ông Châu Minh T1 yêu cầu trả tiền vốn vay và lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng. Bị đơn có nơi cư trú tại địa bàn thành phố L. Do đó, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án dân sự về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên.
[2] Về tố tụng: Ông T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan; đại diện nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về nội dung:
[3.1] Xét thấy: Hợp đồng tín dụng trả góp số BIK.CN.1415.161118 ngày 16 tháng 11 năm 2018 và Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng số 7918320030600 ngày 16 tháng 11 năm 2018 (Bảng các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng kèm theo) đều được ký kết trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận, hình thức và nội dung hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội và phù hợp với quy định của pháp luật nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên theo quy định tại các Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự. Trong quá trình thực hiện các hợp đồng phía ông T1 đã không trả vốn, lãi đúng hạn là vi phạm nghĩa vụ của bên vay và làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của bên cho vay. Trong quá trình giải quyết, xét xử vụ án, ông T1 không cung cấp tài liệu, chứng cứ và ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là cố tình trốn tránh nghĩa vụ trả nợ. Do đó, yêu cầu của Ngân hàng là có cơ sở để chấp nhận.
[3.2] Đối với Hợp đồng tín dụng trả góp số BIK.CN.1415.161118 ngày 16 tháng 11 năm 2018, ông T1 đã thực hiện trả tiền vốn, lãi theo từng kỳ. Khi số tiền vốn còn lại 91.000.000 đồng thì ông T1 không tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả vốn, lãi. Do đó, ông T1 phải thực hiện trả vốn gốc và lãi trong hạn, lãi quá hạn, lãi tính trên số tiền nợ lãi còn chưa thanh toán theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Cụ thể: Số tiền nợ gốc là 91.000.000 đồng; tiền lãi tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm 09 tháng 01 năm 2024 là: lãi trong hạn còn nợ là 19.881.667 đồng; lãi quá hạn còn nợ là 22.258.176 đồng; lãi tính trên nợ lãi (phạt chậm trả lãi) là 3.548.828 đồng; lãi quá hạn của từng kỳ nợ gốc không thanh toán đúng hạn là 1.400.090 đồng. Tổng cộng là 138.088.761 đồng.
[3.3] Đối với việc sử dụng thẻ tín dụng. Quá trình giao dịch ông T1 đã thực hiện giao dịch rút tiền nhưng không thực hiện trả nợ. Xét thấy tính đến thời điểm ông T1 dừng giao dịch, Ngân hàng có thông báo yêu cầu thanh toán, và đã chuyển sang nợ quá hạn, thì xác định được số tiền nợ gốc là 21.717.317 đồng. Do đó, cần xác định đây là dư nợ gốc cuối cùng mà ông T1 phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng. Ông T1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngoài việc trả số tiền nợ gốc thì ông T1 còn phải trả các khoản lãi, phí cho Ngân hàng theo các điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng mà ông T1 đã ký với Ngân hàng. Việc Ngân hàng chuyển nợ quá hạn mà không yêu cầu ông T1 trả lãi trong hạn, phí, lãi tính trên nợ lãi chậm thanh toán (phạt chậm thanh toán) là có lợi cho ông T1. Vì vậy, cần buộc ông T1 phải trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc là 21.717.317 đồng và tiền lãi tính trên dư nợ quá hạn là 7.162.887 đồng (tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm 09 tháng 01 năm 2024). Tổng cộng là 28.880.024 đồng.
[3.4] Kể từ ngày 09 tháng 01 năm 2024, ông T1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong các hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận nên Ngân hàng không phải chịu án phí; ông T1 phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ:
- - Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, các Điều 227, 238, 271, 273, 278, 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Các Điều 463, 466, 470 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- - Khoản 14 và khoản 16 Điều 4, Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng.
- - Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Á đối với ông Châu Minh T1.
- Buộc ông Châu Minh T1 có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Á tổng số tiền 166.968.965 đồng (một trăm sáu mươi sáu triệu chín trăm sáu mươi tám nghìn chín trăm sáu mươi lăm đồng) tạm tính đến ngày 09 tháng 01 năm 2024, trong đó:
+ Số tiền phải trả theo Hợp đồng tín dụng trả góp số BIK.CN.1415.161118 ngày 16 tháng 11 năm 2018 tổng cộng là 138.088.761 đồng (một trăm ba mươi tám triệu không trăm tám mươi tám nghìn bảy trăm sáu mươi mốt đồng), gồm: Tiền nợ gốc là 91.000.000 đồng (chín mươi mốt triệu đồng); tiền lãi tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm 09 tháng 01 năm 2024: lãi trong hạn còn nợ là 19.881.667 đồng (mười chín triệu tám trăm tám mươi mốt nghìn sáu trăm sáu mươi bảy đồng); lãi quá hạn còn nợ là 22.258.176 đồng (hai mươi hai triệu hai trăm năm mươi tám nghìn một trăm bảy mươi sáu đồng); lãi tính trên nợ lãi (phạt chậm trả lãi) là 3.548.828 đồng (ba triệu năm trăm bốn mươi tám nghìn tám trăm hai mươi tám đồng); lãi quá hạn của từng kỳ nợ gốc không thanh toán đúng hạn là 1.400.090 đồng (một triệu bốn trăm nghìn không trăm chín mươi đồng).
+ Số tiền phải trả theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng số 7918320030600 ngày 16 tháng 11 năm 2018 (Bảng các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng kèm theo) tổng cộng là 28.880.024 đồng (hai mươi tám triệu tám trăm tám mươi nghìn không trăm hai mươi bốn đồng), gồm: Tiền nợ gốc là 21.717.317 đồng (hai mươi mốt triệu bảy trăm mười bảy nghìn ba trăm mười bảy đồng); tiền lãi tính trên dư nợ quá hạn (tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm 09 tháng 01 năm 2024) là 7.162.887 đồng (bảy triệu một trăm sáu mươi hai nghìn tám trăm tám mươi bảy đồng).
- Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (09 tháng 01 năm 2024) ông Châu Minh T1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng trả góp số BIK.CN.1415.161118 ngày 16 tháng 11 năm 2018 và Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng số 7918320030600 ngày 16 tháng 11 năm 2018 (Bảng các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng kèm theo) cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc. Trường hợp trong Hợp đồng tín dụng trả góp số BIK.CN.1415.161118 ngày 16 tháng 11 năm 2018 và Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng số 7918320030600 ngày 16 tháng 11 năm 2018 (Bảng các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng kèm theo), các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Châu Minh T1 phải chịu 8.348.448 đồng (tám triệu ba trăm bốn mươi tám nghìn bốn trăm bốn mươi tám đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Ngân hàng thương mại cổ phần Á không phải chịu án phí sơ thẩm nên được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 3.743.226 đồng (ba triệu bảy trăm bốn mươi ba nghìn hai trăm hai mươi sáu đồng) đã nộp theo biên lai thu tiền số 0002280 ngày 29 tháng 9 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
3. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thùy Giang |
Bản án số 07/2024/DS-ST ngày 09/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 07/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/01/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu KK
