|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN Bản án số 07/2024/HNGĐ-ST Ngày 08 - 01 - 2024 V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Xuân Thành và ông Hồ Bá Võ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Bích Hà – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Bằng Giang – Kiểm sát viên.
Trong ngày 08 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An mở phiên tòa xét xử công khai vụ án thụ lý số 392/2023/TLST - HNGĐ ngày 17 tháng 11 năm 2023 về Tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 359/2023/QĐST ngày 07 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Q, sinh năm 1982; địa chỉ: K, phường Đ, thành phố V, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
Bị đơn: Anh Lê Ngọc D, sinh năm 1980; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú trước khi xuất cảnh: K, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An; hiện đang sinh sống và làm việc tại: Mỹ; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn đề ngày 11/10/2023, bản tự khai chị Nguyễn Thị Q trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Q và anh Lê Ngọc D kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn ngày 09/4/2008 tại Ủy ban nhân dân phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc với nhau được 07 năm. Đến năm 2015, anh D đi Mỹ làm ăn, vợ chồng xa cách, không có điều kiện quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, tuy nhiên tình cảm vẫn bình thường. Năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mẫu thuẫn là do bất đồng quan điểm cũng như lối sống. Từ đó chị Q và anh D không còn liên lạc, không quan tâm, chăm sóc. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2020 cho đến nay. Nay chị Q thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị làm đơn xin ly hôn.
Về con chung: Chị và anh D chưa có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về phía bị đơn anh Lê Ngọc D: Sau khi thụ lý vụ án, Toà án đã thực hiện việc tống đạt Thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng cho anh D thông qua người thân là bà Trần Thị N (mẹ của anh D) và niêm yết theo quy định, nhưng anh D vắng mặt, do đó không có ý kiến. Chị Q không cung cấp được địa chỉ cụ thể hiện nay anh D đang cư trú tại Mỹ. Tòa án đã gửi văn bản yêu cầu bà Trần Thị N cung cấp địa chỉ, tin tức của anh D cũng như yêu cầu bà N thông báo cho anh D biết để anh D có ý kiến về việc giải quyết việc ly hôn gửi Tòa án. Ngày 01/12/2023, bà Trần Thị N đã gửi đơn trình bày có nội dung như sau: Bà là mẹ đẻ của anh Lê Ngọc D. Hiện nay anh D đang sinh sống và làm việc tại Mỹ. Chị Q và anh D kết hôn với nhau vào năm 2008 và chưa có con chung. Anh D1 thường xuyên liên lạc về với gia đình bằng điện thoại, nhưng không cung cấp được địa chỉ tại Mỹ, lý do anh D1 đi lao động không có địa chỉ cụ thể. Bà đã thông báo cho anh D1 biết việc chị Q làm đơn khởi kiện ly hôn gửi Tòa án, anh D1 cũng đồng ý. Đến nay Tòa án vẫn không nhận được văn bản thể hiện ý kiến của anh D1 về việc giải quyết vụ án.
Chị Q đã có đơn xin xét xử vắng mặt gửi Tòa án, toàn bộ ý kiến giữ nguyên như trong đơn khởi kiện và bản tự khai đã gửi cho Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Việc thu thập chứng cứ đầy đủ, tống đạt các văn bản tố tụng đúng quy định, đảm bảo quyền, nghĩa vụ của đường sự. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Q, cho chị Q được ly hôn anh Lê Ngọc D; dành quyền chia tài sản cho các đương sự khi có yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án và ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Thủ tục tố tụng:
[1.1] Vụ án ly hôn không có tranh chấp con chung, tài sản chung, nhưng Tòa án phải tiến hành thu thập chứng cứ nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát phải tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2] Thẩm quyền giải quyết: Bị đơn anh Lê Ngọc D có hộ khẩu thường trú tại khối F, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An, hiện đang làm việc và sinh sống tại Mỹ nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 40 và Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình.
[1.3] Thủ tục hòa giải: Bị đơn anh Lê Ngọc D hiện vắng mặt tại nơi cư trú, đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài. Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh D vẫn cố tình vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được.
[1.4] Sự vắng mặt của đương sự: Chị Nguyễn Thị Q đã nộp đơn khởi kiện xin ly hôn, viết bản tự khai và cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ cho Tòa án. Tuy nhiên, do điều kiện công việc, thường xuyên phải đi xa, chị Q không tham gia phiên tòa được và có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Chị Q phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật về các tài liệu, chứng cứ đã cung cấp cho Tòa án.
Anh Lê Ngọc D hiện đang ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo, niêm yết đầy đủ, hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh D thông qua người thân là bà Trần Thị N gồm các văn bản: Thông báo thụ lý vụ án; Công văn yêu cầu cung cấp địa chỉ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa. Đồng thời yêu cầu anh D trình bày ý kiến của mình về việc giải quyết ly hôn. Tuy nhiên. Tòa án không có địa chỉ cụ thể. Bà đã thông báo cho anh D1 biết việc chị Q làm đơn khởi kiện ly hôn gửi Tòa án, anh D1 cũng đồng ý. Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đã mở phiên tòa sơ thẩm lần thứ nhất vào ngày 22/12/2023, lần thứ hai vào ngày 08/01/2024 nhưng cả hai lần anh D1 đều vắng mặt và cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến cho Tòa án. Do đó, việc anh D1 vắng mặt thuộc trường hợp cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo theo quy định tại Công văn số 253/TANDTC – PC ngày 26/22/2018 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về việc giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài không rõ địa chỉ. Căn cứ khoản 1 khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự.
[2] Nội dung:
[2.1] Quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Q và anh Lê Ngọc D kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn vào ngày 09/4/2008 tại Ủy ban nhân dân phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân giữa chị Q và anh D là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc với nhau được 07 năm. Đến năm 2015, anh D đi Mỹ làm ăn, vợ chồng xa cách, không có điều kiện quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mẫu thuẫn là do bất đồng quan điểm cũng như lối sống. Từ đó chị Q và anh D không còn liên lạc, không quan tâm đến nhau. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2020 cho đến nay. Xét thấy, hôn nhân giữa chị Q và anh D đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị Nguyễn Thị Q yêu cầu giải quyết ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên cần chấp nhận.
[2.2] Con chung: Chị Nguyễn Thị Q và anh Lê Ngọc D chưa có con chung, chị Q không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh D chưa có ý kiến gì nên Tòa án chưa có cơ sở để xem xét.
[2.3] Tài sản chung, nợ chung: Chị Q không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh D cũng chưa có ý kiến gì nên Tòa án chưa có cơ sở để xem xét. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.
[3] Án phí: Chị Nguyễn Thị Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 56, 57, 122, 123, 127 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 37, Điều 147; khoản 1 Điều 207; khoản 1, 3 Điều 228; khoản 1 Điều 273, các Điều 469 và khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Q.
[1] Quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Q được ly hôn anh Lê Ngọc D.
[2] Án phí: Chị Nguyễn Thị Q phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệxx An theo biên lai số 0004490 ngày 19/10/2023.
[3] Quyền kháng cáo:
[3.1] Chị Nguyễn Thị Q vắng mặt, có quyền kháng cáo thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án sơ thẩm hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
[3.2] Anh Lê Ngọc D đang cư trú ở nước ngoài, vắng mặt, có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản sao bản án sơ thẩm hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thúy Ngọc |
Bản án số 07/2024/HNGĐ-ST ngày 08/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 07/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/01/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân gia đình Q D
