TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 07/2024/DS-PT Ngày 08 - 01 - 2024 V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Chí Tâm
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Huỳnh Thị Hương Thủy
Bà Kiều Kim Xuân
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Hoàng Nhân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp: Bà Nguyễn Bạch Nga - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Vào ngày 08 tháng 01 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 250/2023/TLPT-DS ngày 09 tháng 10 năm 2023, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 20/2023/DS-ST ngày 20 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 421/2023/QĐ-PT ngày 14 tháng 11 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Ngô Ngọc D, sinh năm 1957;
Địa chỉ: Số nhà F, ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1960;
Địa chỉ: Số H, ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1973;
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Chị Nguyễn Cẩm T1, sinh năm 2000;
Cùng địa chỉ: G, ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Bùi Thị S, sinh năm 1965;
- Anh Nguyễn Thành S1, sinh năm 1991;
- Chị Nguyễn Thanh T2, sinh năm 1999;
- Chị Nguyễn Cẩm T1, sinh năm 2000;
- Anh Phạm Văn B1, sinh năm 1999;
- Ủy ban nhân dân thành phố S;
- Bà Nguyễn Ngọc A, sinh năm 1956;
- Anh Ngô Thế D1, sinh năm 1984;
- Anh Ngô Thế D2, sinh năm 1986;
- Bà Ngô Ngọc D3, sinh năm 1955;
Cùng địa chỉ: G, ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thanh S2 - Chức vụ: Phó Chủ tịch UBND thành phố S.
Cùng địa chỉ: Số F, ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.
Địa chỉ: Số F, ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.
Địa chỉ: Số B, Khóm B, Phường B, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.
* Do có đơn kháng cáo của ông Ngô Ngọc D là nguyên đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Nguyên đơn ông Ngô Ngọc D ủy quyền cho ông Nguyễn Văn B trình bày:
Hộ ông Ngô Ngọc D được UBND thị xã S (nay là thành phố S) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (QSDĐ) thửa 1261, tờ bản đồ số 01, diện tích 1.021,44m² vào ngày 24/7/2002, nguồn gốc đất là nhận thừa kế từ cha ruột là ông Ngô Thạnh D4 chết để lại.
Ngày 23/6/2004, ông D khởi kiện tranh chấp quyền sử dụng đất với bà Nguyễn Thị N và bà Võ Thị H. Ngày 19/5/2006, ông D rút toàn bộ đơn khởi kiện do đó Tòa án thị xã Sa Đéc (nay là thành phố S) ra quyết định số 25/2006/QĐĐC đình chỉ giải quyết vụ án. Sau đó, ông D chuyển nhượng cho ông Ngô Thế D2 diện tích 200m² và Ngô Thế D1 diện tích 400m², diện tích còn lại là 421,44m².
Đến ngày 08/02/2007, UBND thị xã S (nay là thành phố S) có quyết định số 16/QĐ.UBND-NĐ thu hồi, điều chỉnh giấy chứng nhận QSDĐ thửa 1261, tờ bản đồ số 01, diện tích 1.021,44m² đã cấp cho hộ ông Ngô Ngọc D để công nhận cho bà Nguyễn Thị N được quyền quản lý, sử dụng phần đất có chiều ngang trước và sau 4,05m, chiều dài 12,3m; Công nhận cho bà Võ Thị H được quản lý, sử dụng phần đất chiều ngang phía trước 13m, chiều ngang phía sau 14,3m, chiều dài một cạnh là 15,3m và một cạnh là 13,5m. Diện tích đất còn lại là 175,8m². Việc Uỷ ban thu hồi điều chỉnh giấy chứng nhận QSDĐ của ông D để cấp lại cho bà N và bà H ông D cũng không có thắc mắc, khiếu nại gì.
Ngày 19/8/2020, ông D làm thủ tục cấp đổi và được Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận QSDĐ thửa 178, tờ bản đồ 21, diện tích 79m² (giảm 96,8m²) cho hộ ông Ngô Ngọc D.
Sau đó, ông D làm đơn có mất giấy chứng nhận QSDĐ thửa 178, tờ bản đồ 21 và làm thủ tục xin cấp lại giấy chứng nhận QSDĐ. Đến ngày 31/12/2020, hộ ông Ngô Ngọc D được Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Đ cấp lại giấy chứng nhận QSDĐ thửa 178, tờ bản đồ 21, diện tích 79m² (giãm 96,8m²). Trên đất hiện nay có căn nhà của ông Nguyễn Văn T. Đối với diện tích khi cấp đổi diện tích giảm chỉ còn 79m² ông D cũng không có thắc mắc hay khiếu nại gì.
Ông T cất nhà ở trên đất từ năm 1998, ông D cũng biết và có yêu cầu di dời nhà nhưng ông T không chịu đi, do ông D bận đi làm nên không có thời gian khởi kiện hộ ông T.
Năm 2002, ông D có khiếu nại ông T đến ban N1 yêu cầu di dời trả đất. Ngày 07/11/2002, Ban nhân dân ấp có mời hòa giải thì ông T cam kết sẽ di dời tài sản trả đất cho ông D nhưng đến nay ông T không thực hiện. Sau đó, do ông D bận công tác nên không có thời gian đi khởi kiện ông T, nay ông D về hưu nên khởi kiện ông T lấy lại đất để sử dụng.
Ông D kiện yêu cầu ông T và gia đình ông T di dời tài sản có trên đất (căn nhà) trả lại cho ông D phần đất diện tích 79m² thể hiện tại các mốc M1, M2, M3, M4, M5, M6, M1 (theo sơ đồ đo đạc của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố S) thuộc thửa 178, tờ bản đồ 21, diện tích 79m² do hộ Ngô Ngọc D đứng tên giấy chứng nhận QSDĐ (đất tọa lạc tại ấp P, xã T, thành phố S).
Trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn thì nguyên đơn đồng ý trả cho bị đơn tiền san lắp cát số tiền là 15.000.000 đồng. Đối với tài sản trên đất (căn nhà) nguyên đơn yêu cầu bị đơn tự di dời, không đồng ý trả giá trị, không hỗ trợ chi phí di dời.
Bản chính giấy chứng nhận QSDĐ thửa 178, tờ bản đồ 21, ông D đang giữ không có thế chấp cho bất kỳ cá nhân, cơ quan, tổ chức nào.
- Bị đơn ông Nguyễn Văn T và Người đại diện hợp pháp chị Nguyễn Cẩm T1 trình bày:
Nguồn gốc phần đất tranh chấp là của cha ông T là ông Nguyễn Văn T3 cho ở từ năm 1988, trước đó đất của ai thì ông T không biết. Hiện trạng đất trước đây có con mương (dùng để chôn cất người chết, người dân thường gọi là đất nhị tùy), xung quanh lau sậy, cỏ mọc um tùm. Do có con mương nên trước đây gia đình ông T phải cất nhà sàn để ở, từ từ mới san lấp con mương thành nền nhà như hiện nay. Hiện trên phần đất tranh chấp có 12 thành viên trong gia đình đang sinh sống. Do trình độ học vấn thấp, không am hiểu quy định của pháp luật nên ông T chưa đi đăng ký kê khai để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận QSDĐ. Sau đó, không nhớ năm mấy ông T có đi làm thủ tục kê khai đăng ký QSDĐ nhưng UBND xã T không thông báo kết quả cho ông T biết. Do ông T đi làm để lo kinh tế gia đình nên ngày qua ngày không hỏi đến. Khi nộp hồ sơ kê khai xin cấp Giấy chứng nhận QSDĐ cho Ủy ban nhưng không có làm biên nhận nên không có chứng cứ nộp cho Tòa.
Trong quá trình ông T cất nhà ở cũng không có ai tranh chấp, từ trước đến nay ông D không có sử dụng đất này. Đồng thời, ông T đã cất nhà ở trên đất từ năm 1988 đến nay ông không thấy có cơ quan nào đến đo đạc để cấp giấy chứng nhận QSDĐ cho ông D.
Theo ông D trình bày, năm 2002, ông D có khiếu nại ông T đến ban N1, tại buổi hòa giải ông T có tham gia và có viết cam kết sẽ di dời tài sản trả đất cho ông D; ông T không thừa nhận có việc này, ông T không thừa nhận chữ ký trên tờ cam kết ngày 07/11/2002 là của ông T. Tuy nhiên, ông T không yêu cầu giám định chữ ký vì ông T không có tiền để đi làm thủ tục giám định.
Nay ông T yêu cầu được tiếp tục quản lý, sử dụng phần đất diện tích qua đo đạc thực tế là 79m² thể hiện tại các mốc M1, M2, M3, M4, M5, M6, M1 (theo sơ đồ đo đạc của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố S) thuộc thửa 178, tờ bản đồ 21 (đất tọa lạc tại ấp P, xã T, thành phố S). Ông T không đồng ý trả giá trị đất cho ông D và cũng không đồng ý di dời trả đất cho ông D. Hiện nay ông T và gia đình không còn chỗ ở nào khác và cũng không còn đất ở nơi nào khác.
Đối với giấy chứng nhận QSDĐ thửa 178, tờ bản đồ 21 đã cấp cho hộ ông Ngô Ngọc D thì bị đơn yêu cầu điều chỉnh để cấp lại cho bị đơn trong trường hợp yêu cầu của bị đơn được chấp nhận.
Đối với số tiền san lắp cát, tài sản trên đất (căn nhà) trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn thì bị đơn yêu cầu nguyên đơn phải trả giá trị tiền san lắp cát và giá trị căn nhà số tiền theo giá của Hội đồng định giá ngày 15/02/2022.
Ngoài ra, ông T không còn ý kiến, yêu cầu gì khác trong vụ án này.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị S3, anh Nguyễn Thanh S4, chị Nguyễn Thanh T2, chị Nguyễn Cẩm T1, anh Phạm Văn B1 trình bày:
Bà S3 là vợ ông T, chị T1, chị T2, anh B1, anh S4 là con, con dâu và con rễ của ông T hiện đang sống chung nhà với ông T, các đương sự thống nhất với lời trình bày của ông T. Các đương sự yêu cầu tiếp tục quản lý, sử dụng QSDĐ diện tích 79m² thuộc thửa 178 (vị trí, kích thước theo sơ đồ đo đạc của chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố S). Vì hiện nay, các đương sự không còn chỗ ở nào khác.
Ngoài ra, các đương sự không còn ý kiến, yêu cầu gì khác.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Ngọc A, anh Ngô Thế D1, anh Ngô Thế D2 trình bày:
Bà Ngọc A là vợ ông D, anh D1, anh D2 là con ông D. Các đương sự thống nhất theo lời trình bày của ông D và không có ý kiến gì thêm.
Ngoài ra, các đương sự không còn ý kiến, yêu cầu gì khác.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Ngô Ngọc D3 trình bày:
Bà D3 là chị ruột ông D, việc ông T ở trên phần đất tranh chấp bà không biết vì bà có gia đình sống ở Phường B, thành phố S, ít khi tới lui bên ông D. Nay bà D3 thống nhất theo lời trình bày của ông D và không có ý kiến trong vụ án này.
Ngoài ra, bà D3 không còn ý kiến, yêu cầu gì khác.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND thành phố S, ủy quyền cho ông Bùi Thanh S5 có văn bản ý kiến:
UBND thị xã S (nay là thành phố S) cấp giấy chứng nhận QSDĐ đối với thửa đất 1261, tờ bản đồ số 01 cho hộ Ngô Ngọc Danh ngày 24/7/2002 dựa trên cơ sở: Đơn xin đăng ký QSDĐ ngày 14/3/2000 của ông Ngôc Ngọc D5. Tại thời điểm cấp giấy chứng nhận QSDĐ có đo đạc thực tế tại biên bản đo đạc thửa đất ngày 14/3/2000 của UBND xã T, tứ cận có ký giáp ranh. Theo hồ sơ đăng ký cấp giấy chứng nhận không thể hiện trên đất có tài sản.
Về trình tự thủ tục cấp giấy chứng nhận QSDĐ lần đầu cho hộ Ngô Ngọc D là đúng theo quy định pháp luật tại thời điểm cấp.
Ngoài ra, Ủy ban không có ý kiến, yêu cầu gì khác trong vụ án này, đề nghị Tòa án xét xử theo quy định pháp luật.
Bản án dân sự sơ thẩm 20/2023/DS-ST ngày 20 tháng 6 năm 2023 của
Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc quyết định:
- Căn cứ vào Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 228, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
- Điều 236 của Bộ luật dân sự 2015
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của ông Ngô Ngọc D về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn T và gia đình ông T di dời tài sản trả lại cho ông Ngô Ngọc D phần đất diện tích 79m², thuộc thửa 178, tờ bản đồ số 21.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Ông Ngô Ngọc D phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chổ và định giá tài sản là số tiền là 2.092.000 đồng (Ông D đã nộp tạm ứng đủ và chi xong).
Ông Nguyễn Văn T, bà Trần Thị S3, anh Nguyễn Thành S1, chị Nguyễn Thanh T2, chị Nguyễn Cẩm T1, anh Phạm Văn B1 được sử dụng phần đất diện tích 79m² thuộc thửa đất số 178, tờ bản đồ 21 do hộ ông Ngô Ngọc D đứng tên được xác định bởi các mốc M1, M2, M3, M4, M5, M6, M1 (theo sơ đồ đo đạc ngày 15/02/2022 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố S). Hiện ông T, bà S3, anh S1, chị T2, chị T1, anh B1 đang quản lý, sử dụng.
(Có sơ đồ đo đạc ngày 15/02/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S và biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ của Tòa án kèm theo).
Đề nghị cơ quan có thẩm quyền điều chỉnh Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất đã cấp cho hộ ông Ngô Ngọc D ngày 31/12/2020 đối với thửa đất số 178, tờ bản đồ 21 để cấp lại cho các đương sự theo như bản án đã tuyên trên.
Các đương sự có trách nhiệm liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để điều chỉnh, kê khai quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Chi phí do các đương sự chịu theo quy định pháp luật.
Ông Ngô Ngọc D được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định do ông D là người cao tuổi và có đơn xin miễn giảm theo quy định.
Ngoài ra bản án còn tuyên quyền kháng cáo và quyền yêu cầu thi hành án của các đương sự. Sau khi xét xử sơ thẩm nguyên đơn ông D kháng cáo với yêu cầu hủy bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, buộc ông Nguyễn Văn T trả lại 79m² đã chiếm hữu trái pháp luật lại cho ông D.
Tại phiên tòa phúc thẩm có mặt ông B, bà S3, chị T1. Các đương sự có mặt và khẳng định đã xuất trình thêm đầy đủ chứng cứ cho Tòa án giải quyết vụ án và không có khiếu nại yêu cầu gì thành phần những người tham gia tố tụng.
Ông B trình bày: Ông D thay đổi yêu cầu kháng cáo là yêu cầu Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ theo Điều 236 Bộ luật dân sự 2015 sửa Bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông D đối với hộ ông T. Đất tranh chấp có nguồn gốc của ông D4 (chết năm 1989) cho ông D. Năm 2000, ông D đi đăng ký quyền sử dụng đất. Đến năm 2020 ông D xin đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, diện tích thửa đất còn lại là 79m². Ông T có ở trên đất chung với bà N. Theo bà N trình bày ông T sử dụng đất từ năm 1990. Ông T không có đăng ký quyền sử dụng đất nên ông T không phải là người chiếm hữu ngay tình và liên tục phần đất tranh chấp vì đã có tranh chấp nhiều lần thể hiện qua Biên bản hòa giải năm 2002, Quyết định đình chỉ của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc và Quyết định số 109 ngày 06/3/2008 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đ. Do ông T không có đất ở khác do đó ông D yêu cầu ông T trả lại giá trị đất theo hợp đồng định giá là 395.000.000 đồng.
Bà S3 trình bày: Không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông D.
Chị T1 trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông D vì gia đình ông T đông người sinh sống trên phần đất tranh chấp và gia đình không còn có phần đất nào khác.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã chấp hành đúng theo quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp đương sự có mặt thực hiện đúng theo quy định pháp luật. Về nội dung giải quyết vụ án: Xét yêu cầu kháng cáo của ông D là không có cơ sở chấp nhận. Đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về thủ tục tố tụng: Không có đương sự khiếu nại gì về thành phần những người tham gia tố tụng hay có yêu cầu gì khác.
- Về nội dung tranh chấp ông Ngô Ngọc D yêu cầu ông Nguyễn Văn T và gia đình ông T di dời tài sản có trên đất trả lại cho ông D phần đất diện tích 79m² thuộc thửa 178, tờ bản đồ 21 do hộ Ngô Ngọc D đứng tên giấy chứng nhận QSDĐ (đất tọa lạc tại ấp P, xã T, thành phố S) cấp ngày 31/12/2020.
- [2.1] Về nguồn gốc đất:
- [2.1.1] Theo nguyên đơn ông D và hồ sơ đăng ký quyền sử dụng đất: Nguồn gốc là của ông Ngô Thành D6 (chết năm 1989) cha của ông D để lại. Năm 2000, ông D đi kê khai và được UBND thị xã S (nay là thành phố S) cấp giấy chứng nhận QSDĐ lần đầu vào ngày 24/7/2002 thửa 1261, tờ bản đồ số 01, diện tích 1.021,44m² cho hộ ông D. Sau đó, ông D chuyển nhượng cho ông Ngô Thế D2 và Ngô Thế D1 diện tích 600m2, diện tích còn lại là 421,44m². Đến ngày 08/02/2007, UBND thị xã S thu hồi, điều chỉnh giấy chứng nhận QSDĐ thửa 1261, diện tích 1.021,44m² của hộ ông D để công nhận cho bà Nguyễn Thị N và bà Võ Thị H diện tích 245,6m². Diện tích đất còn lại là 175,8m². Sau khi UBND thị xã S có quyết định thu hồi diện tích 245,6m² để cấp lại cho bà H, bà N ông D cũng không có khiếu nại gì đối với quyết định của UBND thị xã S. Ngày 19/8/2020, ông D làm thủ tục cấp đổi và được Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận QSDĐ thửa 178, tờ bản đồ 21, diện tích 79m² (giảm 96,8m²). Sau đó, ông D cớ mất giấy đất và ngày 31/12/2020 được Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Đ cấp lại giấy chứng nhận QSDĐ diện tích 79m².
- [2.1.2] Bị đơn trình bày: Nguồn gốc phần đất tranh chấp là của cha ông T là ông Nguyễn Văn T3 cho ở từ năm 1988, trước đó đất của ai thì ông T không biết. Hiện trạng đất trước đây là con mương (người dân thường gọi là đất nhị tùy), xung quanh lau sậy, cỏ mọc um tùm, do là con mương nên trước đây gia đình ông T phải cất nhà sàn để ở, từ từ mới san lấp con mương thành nền nhà như hiện nay. Do gia đình ông T chưa đi kê khai đăng ký cấp giấy chứng nhận QSDĐ đến nay. Trên phần đất tranh chấp ông T đã cất nhà từ năm 1988 không có ai tranh chấp.
- [2.2] Về quá trình sử dụng đất:
- [2.2.1] Nguyên đơn xác định: Phần đất tranh chấp là của cha ông D là ông Ngô Thạnh D4, năm 1989 ông D4 chết để lại cho ông D quản lý nhưng ông D không có sử dụng đất. Khi ông T ở trên đất lúc đó ông D4 đã chết. Ông D cho rằng việc ông T cất nhà ở trên đất từ năm 1998 ông D cũng biết, cũng có yêu cầu ông T di dời đi nhưng ông T không chịu đi và do ông D bận đi làm nên không có thời gian kêu ông T di dời nên ông T và vợ con ông T ở trên đất cho đến nay. Tuy nhiên, ông D không có tài liệu, chứng cứ gì chứng minh cho lời trình bày của mình.
- [2.2.2] Bị đơn xác định: Phần đất đang tranh chấp có nguồn gốc là do ông Nguyễn Văn T3 cha của ông T cho gia đình ông T ở từ năm 1988 cho đến nay và khi đó phần đất này là con mương lạng. Đối với việc ông D trình bày, ngày 07/11/2002 ông T có viết cam kết đồng ý di dời trả đất cho ông D thì ông T không thừa nhận có ký tên vào Tờ cam kết. Ông T xác định từ năm 1988 ông T đã cất nhà ở trên phần đất tranh chấp mặc dù lúc đầu chỉ là nhà sản (vì cất trên con mương lạng) nhưng từ khi ông T cất nhà ở không có ai tranh chấp, ông D cũng không có tranh chấp. Đến khoảng năm 2019 khi con đường nhựa trước nhà mở ra thì ông D mới bắt đầu tranh chấp với ông T đến nay.
- [3] Về kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ: Qua đó đạc phần đất tranh chấp có diện tích 79m².
- [4] Do bị đơn chỉ yêu cầu được tiếp tục sử dụng đất, không yêu cầu hủy Giấy chứng nhận QSDĐ đối với thửa 178, tờ bản đồ 21 do hộ ông Ngô Ngọc D đứng tên. Về phía Ủy ban thành phố S cũng không có ý kiến gì trong vụ án này. Vì vậy, xét thấy chỉ cần điều chỉnh Giấy chứng nhận QSDĐ đã cấp cho hộ ông D theo bản án đã tuyên.
- [5] Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Ngọc A, anh Ngô Thế D1, anh Ngô Thế D2, bà Ngô Ngọc D3 thống nhất theo yêu cầu khởi kiện của ông D và không có yêu cầu độc lập gì khác nên không xem xét, giải quyết.
- [6] Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà bà Trần Thị S3, anh Nguyễn Thành S1, chị Nguyễn Thanh T2, chị Nguyễn Cẩm T1, anh Phạm Văn B1 thống nhất theo yêu cầu của ông T4 và không có yêu cầu độc lập gì khác nên không xem xét, giải quyết.
- [7] Đồng thời căn cứ vào đây để quyết định về án phí; chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản các đương sự phải chịu theo quy định pháp luật. Sau khi xét xử sơ thẩm ông D kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm với yêu cầu chấp nhận đơn khởi kiện của ông D, tại phiên tòa ông D yêu cầu trả lại giá trị quyền sử dụng đất là 395.000.000 đồng. Các đương sự không cung cấp chứng cứ gì khác chứng minh yêu cầu kháng cáo của mình.
- [8] Qua các chứng cứ có trong hồ sơ và thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm thì yêu cầu kháng cáo của D ngoài những nhận định của Tòa án cấp sơ thẩm thì ông D không cung cấp chứng cứ gì chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình.
- [9] Hội đồng xét xử phúc thẩm còn xét thấy:
- [10] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do giữ nguyên bản án sơ thẩm, nên ông D phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Tuy nhiên do ông D là người cao tuổi thuộc trường hợp được miễn tiền án phí theo quy định pháp luật.
Tòa án cấp sơ thẩm qua thu thập chứng cứ xét:
Năm 2002, ông D trình bày có khiếu nại đến Ban N1 yêu cầu ông T di dời trả đất. Tại Biên bản giải quyết tranh chấp đất đai ông D và Tờ cam kết cùng ngày 07/11/2002 mà ông D cung cấp (bản photo) cho Tòa án thể hiện ông T có viết cam kết đồng ý di dời trả đất cho ông D, thời gian di dời từ ngày 07/11/2002 đến ngày 07/11/2003, không thể hiện nội dung di dời phần đất nào, của ai. Do ông D bận đi làm ở Trường Cao đẳng cộng đồng tỉnh Đ không có sống ở S nên không có thời gian khởi kiện để yêu cầu ông T di dời tài sản trả đất cho ông D. Hiện nay, ông D đã về hưu có nhu cầu sử dụng đất nên phát sinh tranh chấp với ông T.
Do đó xét trình bày của nguyên đơn cho rằng bị đơn ở trên đất từ năm 1998 và khi biết bị đơn ở trên đất ông D có yêu cầu bị đơn di dời trả đất. Tuy nhiên, phía bị đơn ông T không thừa nhận và ông D cũng không có tài liệu chứng cứ chứng minh cho lời trình bày của mình. Bên cạnh đó, Biên bản hòa giải tại ấp P và Tờ cam kết cùng ngày 07/11/2002 ông D cung cấp chỉ là bản photo không có công chứng, chứng thực và cũng không được cơ quan có thẩm quyền nào xác nhận. Mặt khác, ông T không thừa nhận chữ ký, chữ viết họ tên trong Biên bản hòa giải và Tờ cam kết cùng ngày 07/11/2002 là của ông T. Ngoài ra, tại Tờ cam kết ngày 07/11/2002 có nội dung, ông Nguyễn Văn T có cất nhà trên phần đất của ông Ngô Ngọc D, nên ông T cam kết sẽ di dời trả lại đất sau một năm, nhưng khi ký tên xác nhận thì tên người cam kết lại là Huỳnh Văn T4. Hơn nữa, ủy ban xã T, thành phố S xác định không còn lưu giữ hồ sơ hòa giải vào năm 2002. Tại phiên tòa sơ thẩm, ông D và ông T4 đều xác định không yêu cầu giám định chữ ký của ông T4 tại Biên bản hòa giải và Tờ cam kết cùng ngày 07/11/2002. Do đó, căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 95 BLTTDS đây không được xem là chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của ông D.
Qua xác minh những người làm chứng xác định từ năm 1988 họ sống gần nhà ông T4 đã thấy ông T4 cất nhà ở trên phần đất đang tranh chấp (kế bên nhà của bà N mẹ ông T4), khi đó phần đất tranh chấp chỉ là con mương, lau sậy cỏ mọc um tùm, ông T4 phải cải tạo san lắp từ từ mới có được nền nhà như hiện nay, từ khi ông T4 cất nhà ở họ cũng không thấy có ai tranh chấp kể cả ông Ngô Ngọc D, hiện gia đình ông T4 rất nghèo. Lời trình bày của các nhân chứng cũng phù hợp với sơ đồ đo đạc do nguyên đơn tự đo vẽ để cấp giấy lần đầu vào ngày 14/3/2000.
Trên cơ sở đó, có đủ căn cứ để xác định gia đình ông T4 đã chiếm hữu phần đất đang tranh chấp không có căn cứ pháp luật ngay tình, liên tục, lâu dài từ năm 1988 cho đến nay là trên 30 năm, nên đã xác lập quyền sở hữu đối với phần đất tranh chấp nên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông D.
Đối với kháng cáo của ông D thì không cung cấp chứng cứ gì chứng minh được ông D đăng ký quyền sử dụng đất được hộ gia đình ông T4 đồng ý, không có thủ tục thực hiện đo đạc, khảo sát đất thực tế. Ông B (người đại diện của ông D) cũng xác định ông D4, ông Danh t trước đến nay không sử dụng phần đất tranh chấp. Đất tranh chấp ông B, bà S3, chị T1 đều thừa nhận là nằm giữa phần đất của bà H và bà N mà theo tranh chấp trước đây ông D tranh chấp đã được Tòa án thị xã S thụ lý giải quyết và Ủy ban thị xã S giải quyết theo Quyết định số 16 ngày 08/02/2007, Ủy ban nhân dân tỉnh Đ giải quyết theo Quyết định số 109 ngày 06/3/2008 thì đất bà N có nguồn gốc mua từ ông Trần Văn Q (ngang 4m x dài 10m theo văn bản tự lập năm 1976) và 01 phần đất mương không xác định diện tích. Khi giải quyết thì công nhận cho bà N quyền quản lý, sử dụng chiều ngang 4,05m x chiều dài 12,3m (theo Biên bản khảo sát hiện trạng đất tranh chấp ngày 27/4/2004). Do đó phù hợp diện tích đất mặt tiền và phần diện tích đất con mương gia đình ông T4 sang lấp sử dụng cất nhà như hiện nay.
Đối với Biên bản hòa giải của ấp P và Tờ cam kết cùng ngày 07/11/2002 mà ông D cung cấp bản photo, ông T4 không thừa nhận chữ ký thì người làm chứng bà Nguyễn Thị D7 là chủ tọa buổi hòa giải trình bày ông T4 không có mặt tại buổi hòa giải nên lời trình bày của ông D là không có căn cứ.
Từ các phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm quyết định giữ nguyên bản án sơ thẩm. Chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát đại diện Viện kiểm sát. Các phần còn lại của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 308; Điều 148 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Không chấp nhận kháng cáo của ông Ngô Ngọc D.
Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của ông Ngô Ngọc D về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn T và gia đình ông T di dời tài sản trả lại cho ông Ngô Ngọc D phần đất diện tích 79m², thuộc thửa 178, tờ bản đồ số 21.
- Về án phí dân sự sơ thẩm, phúc thẩm:
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản sơ thẩm: Ông Ngô Ngọc D phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chổ và định giá tài sản với số tiền là 2.092.000 đồng. Ông D đã nộp tạm ứng đủ và chỉ xong.
Ông Nguyễn Văn T, bà Trần Thị S3, anh Nguyễn Thành S1, chị Nguyễn Thanh T2, chị Nguyễn Cẩm T1, anh Phạm Văn B1 được sử dụng phần đất diện tích 79m² thuộc thửa đất số 178, tờ bản đồ 21 do hộ ông Ngô Ngọc D đứng tên được xác định bởi các mốc M1, M2, M3, M4, M5, M6, M1 (theo sơ đồ đo đạc ngày 15/02/2022 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố S). Hiện ông T, bà S3, anh S1, chị T2, chị T1, anh B1 đang quản lý, sử dụng.
(Kèm theo sơ đồ đo đạc ngày 15/02/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S và biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ của Tòa án kèm theo).
Đề nghị cơ quan có thẩm quyền điều chỉnh Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất đã cấp cho hộ ông Ngô Ngọc D ngày 31/12/2020 đối với thửa đất số 178, tờ bản đồ 21 để cấp lại cho các đương sự theo như bản án đã tuyên trên.
Các đương sự có trách nhiệm liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để điều chỉnh, kê khai quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Chi phí do các đương sự chịu theo quy định pháp luật.
Ông Ngô Ngọc D được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm, phúc thẩm theo quy định theo quy định.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Chí Tâm |
Bản án số 07/2024/DS-PT ngày 08/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 07/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 08/01/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn; Ngô Ngọc Danh Bị đơn: Nguyễn Văn Thành
