Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BẢO YÊN

TỈNH LÀO CAI

Bản án số:07/2024/HSST

Ngày 07 tháng 6 năm 2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO YÊN, TỈNH LÀO CAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Nguyễn Thị Thanh Vân.

Các Hội thẩm nhân dân

  1. Ông Long Trọng Nhiên
  2. Ông Nguyễn Trung Kiên

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Mạnh Tuấn -Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Ông Hứa Xuân Cường- Kiểm sát viên

Thành phần những người tiến hành tố tụng tại điểm cầu thành phần (Phòng trực tuyến Nhà tạm giữ Công an huyện B, tỉnh Lào Cai.) gồm có:

Bà Lê Thị D -Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai.

Bà Nguyễn Thị Khánh H – Cán bộ Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai.

Ngày 07 tháng 6 năm 2024 tại phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai. Tòa án nhân dân huyện Bảo yên, tỉnh Lào Cai. Xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 06 /2024/HSST ngày 26/4/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/QĐXXST- HS ngày 24 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn Đ; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 30 tháng 5 năm 1986 tại: xã C, huyện L, tỉnh Hà Nam; Nơi cư trú: Thôn T, xã L, huyện V, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Minh T, con bà: Nguyễn Thị V; Vợ: Thiều Thị H1; bị cáo có 03 con; con lớn nhất sinh năm 2008, con nhỏ nhất sinh năm 2016; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị xử lý hành chính; chưa bị truy tố xét xử.

Bị cáo Nguyễn Văn Đ bị bắt từ ngày 23/02/2024 hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện B. Có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan tại điểm câu trung tâm: Chị Thiều Thị H1; sinh năm 1991; dân tộc: Dao; nghề nghiệp: Tự do

Địa chỉ: Thôn T, xã L, huyện V, tỉnh Yên Bái. Có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 22/02/2024 Nguyễn Văn Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave alpha màu xanh, biển số: 21E1-631.31 đi từ nhà đến xã B để đón vợ, đi đến bản L, xã B bị cáo nảy sinh ý định mua ma túy về để sử dụng, nên bị cáo dừng xe mua của một người đàn ông không biết tên 1 gói ma túy với giá 450.000đ (bốn trăm năm mươi nghìn đồng). Sau đó bị cáo để túi ma tuý vào túi áo khoác bên trái đang mặc trên người, tiếp tục điều khiển xe mô tô đi đến khu vực bản L, xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai thì bị lực lượng Công an xã B, huyện B kiểm tra, Nguyễn Văn Đ đã tự giác lấy 01 gói nilon màu trắng buộc chun vàng, bên trong là gói nilon màu trắng bên trong có 03 (ba) gói giấy màu trắng trong túi áo ra giao nộp và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Nguyễn Văn Đ khai nhận là ma tuý của Nguyễn Văn Đ, cất giấu để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang Nguyễn Văn Đ và niêm phong số ma tuý thu giữ theo quy định; Ngoài ra còn tạm giữ của Nguyễn Văn Đ 01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu Honda Wave alpha màu xanh, biển số: 21E1-631.31 số khung RLHJA3935PY 018957; số máy JA70E0025842 xe đã qua sử dụng.

Tại bản kết luận giám định số 89/KL-GĐMT ngày 26/02/2024 của Phòng KTHS Công an tỉnh L, kết luận: 01 gói nilon màu trắng buộc chun vàng, bên trong là gói nilon màu trắng bên trong chứa 03 (ba) gói giấy màu trắng thu giữ của Nguyễn Văn Đ ngày 22/02/2024 có khối lượng 0,308 (không phẩy ba trăm linh tám) gam là loại chất ma túy Heroine

Cáo trạng số 06/KSĐT ngày 25/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm vào tội: "Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng điểm a,c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự xử lý theo quy định của pháp luật.

Tịch thu sung quỹ nhà nước ½ chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Honda Wave alpha màu xanh, biển số: 21E1-631.31 số khung RLHJA3935PY 018957; số máy JA70E0025842 xe đã qua sử dụng.

Trả lại cho chị Thiều Thị H1 ½ chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Honda Wave alpha màu xanh, biển số: 21E1-631.31 số khung RLHJA3935PY 018957; số máy JA70E0025842 xe đã qua sử dụng.

Tính án phí và tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo theo quy định của pháp luật

Tại phiên toà: Bị cáo Nguyễn Văn Đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như tóm tắt ở trên và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trả lại chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Honda Wave alpha màu xanh, biển số: 21E1-631.31 số khung RLHJA3935PY 018957; số máy JA70E0025842 xe đã qua sử dụng cho chị và bị cáo vì đó là tài sản chung của vợ chồng, là phương tiện đi lại của gia đình, bị cáo không sử dụng chiếc xe vào mục đích tàng trữ trái phép chất ma túy.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn Đ: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận tội, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng, tang vật thu giữ và kết luận giám định. Khoảng 17giờ 30 phút ngày 22/02/2024, Nguyễn Văn Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda waves BKS: 21E1-63131 đi đón vợ bị cáo tại xã B. Trên đường đi đón vợ bị cáo đã nảy sinh ý định đi mua ma túy để sử dụng, bị cáo bỏ ra 450.000đ (bốn trăm năm mươi nghìn đồng) để mua được 0,308 (không phẩy ba trăm linh tám) gam là loại chất ma túy Heroine về với mục đích sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác Công an xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai phát hiện bắt giữ cùng toàn tang vật.

Từ những phân tích trên Hội đồng xét xử xét thấy có đủ căn cứ xác định hành vi tàng trữ 0,308 (không phẩy ba trăm linh tám) gam chất ma túy Heroine của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” Tội phạm được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo về tội danh và điều luật viện dẫn nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương. Do vậy hội đồng xét xử cần phải áp dụng một mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có thể giáo dục bị cáo trở thành con người sống có ích cho xã hội đồng thời mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[3] Về nhân thân: Bị cáo chưa bị xử lý hành chính chưa bị truy tố xét xử.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo sau khi phạm tội đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình nên cần áp dụng điểm s khoản 1điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng”, do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên bị cáo không có tài sản nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về vật chứng vụ án: 0,240 (không phẩy hai trăm bốn mươi) gam chất ma túy Heroine còn lại sau trích mẫu giám định và 01 gói nilon màu trắng buộc chun vàng, 01 gói nilon màu trắng bên trong 03 (ba) mảnh giấy màu trắng. Xét thấy đây thuộc danh mục các chất Nhà nước cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ theo điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2; điểm a,b khoản 3 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự là phù hợp.

Đối với 01 chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Honda Wave alpha màu xanh, biển số: 21E1-631.31 số khung RLHJA3935PY 018957; số máy JA70E0025842 xe đã qua sử dụng mang tên chủ sở hữu Nguyễn Văn Đ. Xác định đây là tài sản của vợ chồng bị cáo để làm phương tiện đi lại hàng ngày của gia đình bị cáo, trên đường đi đón vợ bị cáo mới nảy sinh ý định mua ma túy để sử dụng, bị cáo không sử dụng xe vào việc tàng trữ trái phép chất ma túy ngày 22/02/2024. Khi bị kiểm tra số ma túy mua được bị cáo để trong túi áo khoác đang mặc trên người chứ không tàng trữ trên xe. Cần trả lại tài sản cho bị cáo và vợ bị cáo là chị Thiều Thị H1. Viện kiểm sát đề nghị tích thu sung quỹ nhà nước ½ chiếc chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Honda Wave alpha màu xanh, biển số: 21E1-631.31 số khung RLHJA3935PY 018957; số máy JA70E0025842 xe đã qua sử dụng mang tên chủ sở hữu Nguyễn Văn Đ là chưa phù hợp.

Đối với người nam giới không biết tên đã bán ma túy cho bị cáo ngoài lời khai của bị cáo Nguyễn Văn Đ ra không có tài liệu nào khác làm rõ nên không đề cập xử lý trong vụ án này.

[6] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điều 136 khoản 2 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1điều 51; điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt 23/02/2024.

Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2; điểm a,b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 0,240 (không phẩy hai trăm bốn mươi) gam chất bột khô màu trắng được đựng riêng vào túi đựng mẫu vật và 01 gói nilon màu trắng buộc

chun vàng, 01 gói nilon màu trắng bên trong chứa 03 (ba) mảnh giấy màu trắng được niêm phong trong một bì thư in sẵn của phòng KTHS- Công an tỉnh L mặt trước của bì niêm phong này có ghi “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ trong quá trình bắt quả tang Nguyễn Văn Đ ngày 22/02/2024.

Theo biên bản giao nhận của Chi cục Thi hành án huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai ngày 25/4/2024.

Trả lại cho Bị cáo Nguyễn Văn Đ và chị Thiều Thị H1 01 chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Honda Wave alpha màu xanh, biển số: 21E1-631.31 số khung RLHJA3935PY 018957; số máy JA70E0025842 xe đã qua sử dụng. Giấy chứng nhận đăng ký xe mang tên Nguyễn Văn Đ xã L, huyện V, tỉnh Yên Bái.

Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/4/2024 giữa Công an huyện B và Chi cục thi hành án dân sự huyện Bảo Yên.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự ; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự

Nơi gửi:

  • - TAND tỉnh;
  • - VKSND Tỉnh Lc, huyện B;
  • - Chi cục THADS huyện;
  • - THA phạt tù;
  • - Bị cáo, NCQLNVLQ
  • - CA huyện B;
  • - Sở tư pháp;
  • - UBND xã L, huyện V;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - L văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thanh V1

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2024/HSST ngày 07/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO YÊN, TỈNH LÀO CAI về tàng trữ trái phép chất ma tuý (criminal case)

  • Số bản án: 07/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO YÊN, TỈNH LÀO CAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đạm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger