Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ AYUN PA

TỈNH GIA LAI

Bản án số: 07/2024/HSST

Ngày: 07-5-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AYUN PA, TỈNH GIA LAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Toàn

Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Nguyễn Đăng Khoa

- Ông Nguyễn Đình Hồng

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Tăng Thị Bích Liên, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Ông Võ Đình Sơn, Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 05/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/QĐXXST-HS ngày 22/4/2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn V, sinh năm 1981 tại: N, Quảng Nam; nơi cư trú: Bôn Hoai, xã C, thị xã A, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H và bà Lê Thị H1; có vợ là Ung Thị Vân A và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bắt tạm giữ từ ngày 05/01/2024 đến ngày 08/01/2024, sau đó được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Nguyễn Đức H2, sinh năm 1993. Có đơn xin vắng mặt. Địa chỉ: Số B H, phường C, thị xã A, tỉnh Gia Lai.
  2. Nguyễn Đình Q, sinh năm 1988. Có đơn xin vắng mặt. Địa chỉ: Đường P, tổ A, phường S, thị xã A, tỉnh Gia Lai.
  3. Lê Đức T, sinh năm 1988. Có đơn xin vắng mặt. Địa chỉ: Thôn Q, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 05/01/2024, nhận thấy Nguyễn Văn V có biểu hiện nghi vấn, Cơ quan điều tra Công an thị xã A đã mời V về trụ sở làm việc. Tại Cơ quan điều tra, V đã thừa nhận hành vi đánh bạc của mình và tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động màu xanh, nhãn hiệu SAM SUNG Galaxy M14 5G, bên trong có chứa 01 sim V1, số thuê báo C1 V sử dụng để thực hiện việc ghi bán lô, số đề.

Kết quả điều tra xác định: Vào khoảng cuối tháng 12/2023, trong thời gian nhàn rỗi, Nguyễn Văn V đã nảy sinh ý định đánh bạc theo hình thức ghi bán lô, số đề (Chủ đề). Thực hiện ý định, V thông tin cho một số người quen biết, thường hay mua lô, số đề (Con đề) biết việc mình làm chủ đề. Hình thức đánh bạc này được dựa theo kết quả xổ số kiến thiết M để làm căn cứ thắng thua (Thứ hai dựa theo kết quả xổ số của Phú Yên, thứ ba Đ, thứ tư Khánh Hòa, thứ năm Bình Định, thứ sáu Gia Lai, thứ bảy Quảng Ngãi, chủ nhật Khánh Hòa). Quy ước đánh như sau: Số “Đầu 2 số” là 02 số của giải tám; số “Đuôi 2 số” là 02 số cuối của giải đặc biệt; số “Đầu 3 số là 03 số của giải 7, số “Đuôi 3 số” là 03 số cuối của giải đặc biệt; “Lô 02 số” hoặc “Lô 03 số” là 02 số hoặc 03 số cuối của các giải; số “Đá” là ghi 02 lô của lô 02 số. Tỷ lệ ăn thua như sau: Đánh “Lô 02 số” hoặc đánh “Đầu 2 số” hoặc “Đuôi 2 số” tỷ lệ ăn thua là 01 ăn 70 lần; đánh số “Đá”, số “Đầu, đuôi số 3 số” và “Lô 03 số” tỷ lệ ăn thua là 01 ăn 500 lần. Khi ghi lô, số đề, trường hợp con đề đánh số đầu, số đuôi 2 số hoặc 3 số thì phải trả cho V 80% số tiền đánh ( Đánh 100.000 đồng, phải trả 80.000 đồng); trường hợp con đề đánh “Lô 02 số” hoặc “Lô 03 số” thì 01 điểm phải trả cho V số tiền 13.000 đồng hoặc 12.800 đồng; trường hợp đánh số “Đá” thì 01 điểm phải trả Vân 26.000 đồng.

Trong thời gian từ ngày 31/12/2023 đến ngày 05/01/2024, Nguyễn Văn V đã có hai ngày thực hiện hành vi đánh bạc theo hình thức ghi bán lô, số đề dưới dạng tin nhắn từ thuê bao số “0336729356“ của V đến thuê bao của những người đánh đề: Cụ thể như sau:

Ngày 31/12/2023, dựa theo kết quả xổ số Khánh Hòa, Nguyễn Văn V đã ghi bán lô 66 -300 điểm cho Nguyễn Đức H2, sinh năm: 1993, trú tại: số B H, phường C, A, Gia Lai. Kết quả H2 không trúng số, V thu lợi bất chính 3.840.000 đồng; ghi bán lô 32, 72 mỗi lô 20 điểm cho Lê Đức T, sinh năm: 1988, trú tại: Thôn Q, xã I, A, Gia Lai, kết quả T không trúng số, V thu lợi bất chính 520.000 đồng; ghi bán cho Nguyễn Đình Q, sinh năm: 1988, trú tại: Đường P, P. S, A, Gia Lai các lô, số như sau: Lô 379; 479; 579 mỗi lô 10 điểm, các số đầu, số đuôi của các số 379; 479; 579 mỗi số 20.000 đồng; lô 79, 97 mỗi lô 20 điểm; các số đầu, số đuôi số 79 mỗi số 300.000 đồng; các số đầu, đuôi số 97 mỗi số 60.000đ. Tổng số tiền V thu của Q là 1.582.000đ. Khi có kết quả xổ số, Quốc trúng lô 97- 20 điểm với số tiền 1.400.000 đồng. Như vậy, số tiền V dùng để đánh bạc với Q là 2.982.000 đồng, thu lời bất chính 182.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc ngày 31/12/2023 là 7.342.000 đồng.

Ngày 04/01/2024, dựa theo kết quả xổ số Bình Định, Nguyễn Văn V tiếp tục ghi bán cho Nguyễn Đức H2 lô 66 - 300 điểm, kết quả H2 không trúng, V thu lợi bất chính 3.840.000 đồng; tiếp tục bán cho Lê Đức T lô 05- 20 điểm; lô 50 – 20 điểm và lô 72 – 20 điểm, số tiền trí trả cho V là 780.000 đồng. Khi có kết quả xổ số, T trúng lô 05 – 20 điểm, V trả cho trí số tiền 1.400.000 đồng. Như vậy, số tiền V dùng đánh bạc với T là 2.180.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc ngày 04/01/2024 là 6.020.000 đồng.

Tổng số tiền Nguyễn Văn V đánh bạc 2 lần là 13.362.000 đồng, tổng số tiền thu lợi bất chính 2 lần 7.762.000 đồng. Lê ĐứcTrí thu lợi bất chính 1.400.000 đồng. Quá trình điều tra, Lê Đức T đã giao nộp số tiền 620.000 đồng cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã A.

Vật chứng vụ án:

  • 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu SAM SUNG Galaxy M14 5G màu xanh, số IMEI (khe 1) 351277362007410, số IMEI (khe 2) 351359622007412, bên trong có chứa 01 sim V1, số hiệu 8984048000071155407, do Nguyễn Văn V tự nguyện giao nộp.
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu SAM SUNG màu xanh, tên thiết bị Galaxy AO2, số sêri: R58RC0794GH, số IMEI 1: 351094567486723, bên trong có chứa 01 sim V1, số hiệu 8984048000925146611 và 01 sim nhãn hiệu TRUEMOVE số hiệu 8966041023615, do Nguyễn Đức H2 tự nguyện giao nộp.
  • 01(một) điện thoại di động hiệu NOKIA màu đen, số CODE: 0592248; số IMEI: 355956/04/952871/8, bên trong có chứa 01 sim V1, số hiệu 8984048000040478672, do Lê Đức T tự nguyện giao nộp.
  • Tiền VNĐ: 620.000 đồng (số tiền Lê Đức T thu lợi bất chính từ việc trúng lô số đề, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã A đã tiến hành thu giữ).

Tại Cáo trạng số 06/CT-VKS ngày 08 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai truy tố bị cáo Nguyễn Văn V về tội Đánh bạc, theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn V về tội Đánh bạc và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm g khoản 1 Điều 52, điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 12 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 24 đến 36 tháng.

- Về hình phạt bổ sung: Đề nghị áp dụng khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự, phạt bổ sung đối với bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng để nộp vào ngân sách nhà nước.

- Về biện pháp tư pháp: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 47 BLHS, tuyên tịch thu sung quỹ nhà nước toàn bộ số tiền thu lợi bất chính bị cáo đã tạm nộp là 7.762.000 đồng và tịch thu của Lê Đức T và Nguyễn Đình Q mỗi người 1.400.000 đồng. Lê Đức T đã tạm nộp 620.000 đồng, còn phải nộp tiếp 780.000 đồng.

- Về vật chứng: Đề nghị HĐXX áp dụng a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tuyên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước các điện thoại di động là công cụ do bị cáo và các con bạc dùng để đánh bạc trong vụ án này.

T1 tiêu hủy các sim điện thoại trong các điện thoại nói trên do bị cáo và những người liên quan dùng liên lạc để đánh bạc.

- Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn V tại phiên tòa phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, làm rõ tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Trong 02 ngày 31/12/2023 và 04/01/2024, bị cáo V đã 02 lần đánh bạc với các con bạc khác bằng hình thức ghi lô và số đề. Theo quy định tại Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP ngày 22/10/2010, của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao thì cả hai lần đánh bạc này của bị cáo đều đủ định lượng cấu thành tội phạm đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về cả hai lần đánh bạc này. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo nhận thức rõ đánh bạc trái phép là một tệ nạn xã hội, đồng thời là một trong những nguyên nhân dẫn đến phát sinh các loại tội phạm khác, bị dư luận xã hội bất bình lên án, nhưng vì mục đích vụ lợi bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.

Bị cáo có nhân thân tốt, ngoài việc phạm tội trong vụ án này bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Cả hai lần đánh bạc của bị cáo trong hai ngày đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội hai lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS. Trong vụ án này, bị cáo không bị bắt giữ qua phạm pháp quả tang mà được cơ quan CSĐT mời làm việc khi có biểu hiện nghi vấn về hành vi đánh bạc. Tại thời điểm đầu tiên làm việc với cơ quan điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn và tích cực hợp tác. Thể hiện qua việc bị cáo đã tự nguyện giao nộp ngay chiếc điện thoại di động là công cụ bị cáo dùng liên lạc và thiết lập các giao dịch đánh lô, số đề với các con bạc khác trong 02 lần đánh bạc. Đồng thời đã khai rõ tên tuổi, địa chỉ các đối tượng đã đánh bạc với bị cáo. Hành động tích cực của bị cáo ngay từ thời điểm chưa khởi tố vụ án đã góp phần tích cực giúp CQĐT nhanh chóng làm rõ toàn bộ vụ án. Vì vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại các điểm s và t khoản 1 Điều 51 BLHS. Ngoài ra, sau khi nhận quyết định truy tố, bị cáo đã có hành động tích cực khi tự nguyện nộp lại toàn bộ số tiền được cáo trạng xác định là khoản tiền thu lợi bất chính để nộp vào ngân sách nhà nước. Vì vậy, bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại khoản 2 Điều 51 của BLHS, cần xem xét cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

[3] Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng hiện tại bị cáo có nơi cư trú ổn định, rõ ràng. Bản thân bị cáo có đủ điều kiện để tự cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương nên căn cứ Điều 65 Bộ luật Hình sự, HĐXX chấp nhận đề nghị nghị của VKS xử phạt tù bị cáo nhưng không cần thiết phải cách ly khỏi xã hội mà cho hưởng án treo và giao về cho UBND xã nơi bị cáo thường trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

[4] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo phạm tội có tính chất vụ lợi nên ngoài hình phạt chính cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền sung vào quỹ nhà nước đối với bị cáo để tăng tính răn đe.

[5] Đối với hành vi đánh bạc của Nguyễn Đức H2, Lê Đức T và Nguyễn Đình Q do mức độ đánh bạc của ba đối tượng này chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên Công an thị xã A, tỉnh Gia Lai đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định.

[6] Về biện pháp tư pháp: Trong hai lần đánh bạc vào hai ngày 31/12/2023 và 04/01/2024, bị cáo đã thu lợi bất chính 7.762.000 đồng. Các con bạc Lê Đức T và Nguyễn Đình Q mỗi người thu lợi bất chính 1.400.000 đồng (Tiền thắng bạc). Toàn bộ số tiền thu lợi bất chính nói trên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước. Riêng Lê Đức T mới tạm nộp tạm nộp 620.000 đồng, còn phải nộp tiếp 780.000 đồng.

[7] Về xử lý vật chứng:

Vật chứng chưa xử lý là 03 chiếc điện thoại di động do bị cáo và các con bạc giao nộp hiện còn giá trị sử dụng nên căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu sung vào ngân sách nhà nước. Vật chứng là các sim điện thoại gắn trong các điện thoại nói trên, do bị cáo và các con bạc sử dụng liên lạc để đánh bạc hiện không còn giá trị sử dụng. (Tại phiên tòa bị cáo đề nghị tiêu hủy chiếc sim của bị cáo) nên căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy.

[8] Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân và Kiểm sát viên: Cơ quan điều tra Công an thị xã A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ayun Pa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, tuân thủ quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có người nào có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội Đánh bạc.

Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm g khoản 1 Điều 52; các điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Tuyên xử:

-Về hình phạt chính:

Phạt bị cáo Nguyễn Văn V 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 24 (Hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 07/5/2024. (Bị cáo đã bị tạm giữ từ ngày 05/01 đến 08/01/2024)

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã C, thị xã A, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Về hình phạt bổ sung:

Phạt bị cáo Nguyễn Văn V 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) để sung quỹ nhà nước.

2. Về biện pháp tư pháp:

Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự.

Tịch thu sung quỹ nhà nước toàn bộ số tiền thu lợi bất chính trong vụ án, gồm: Tịch thu của bị cáo Nguyễn Văn V đã tạm nộp 7.762.000 đồng (Bảy triệu bảy trăm sáu mươi hai ngàn đồng); tịch thu của người có quyền, nghĩa vụ liên quan Lê Đức T và Nguyễn Đình Q mỗi người 1.400.000 đồng (Một triệu bốn trăm ngàn đồng) Lê Đức T đã tạm nộp 620.000 đồng, còn phải nộp tiếp 780.000 đồng.

3. Về xử lý vật chứng:

Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu sung quỹ 03 chiếc điện thoại như sau:

  • 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu SAM SUNG Galaxy M14 5G màu xanh, số IMEI (khe 1) 351277362007410, số IMEI (khe 2) 35135962200741.
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu SAM SUNG màu xanh, tên thiết bị Galaxy AO2, số sêri: R58RC0794GH, số IMEI 1: 351094567486723.
  • 01(một) điện thoại di động hiệu NOKIA màu đen, số CODE: 0592248;sốIMEI: 355956/04/952871/8.

Tịch thu tiêu hủy các sim điện thoại như sau:

  • 01 sim V1, số hiệu 8984048000071155407,(do Nguyễn Văn V tự nguyện giao nộp); 01 sim Viettel, số hiệu 8984048000925146611 và 01 sim nhãn hiệu TRUEMOVE số hiệu 8966041023615 (do Nguyễn Đức H2 tự nguyện giao nộp); 01 sim Viettel, số hiệu 8984048000040478672 (Do Lê Đức T tự nguyện giao nộp.)

(Tình trạng tiền tạm nộp và vật chứng theo biên lai thu tiền số 0008504 ngày 16/4/2024 của Chi cục THA DS thị xã A và Biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 15 tháng 4 năm 2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an thị xã A và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã A, tỉnh Gia Lai)

4. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Buộc bị cáo Nguyễn Văn V phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ nhà nước.

5. Quyền kháng cáo:

Bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án đến Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 07/5/2024 đối với người có mặt tại phiên tòa và 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ đối với người vắng mặt. Bị cáo có quyền kháng cáo toàn bộ bản án; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo đối với phần bản án liên quan đến bản thân mình.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND thị xã Ayun Pa;
  • - CQ. CSĐT Công an TX. Ayun Pa;
  • - CQ.THA HS Công an TX. Ayun Pa;
  • - Chi cục THA DS TX. Ayun Pa;
  • - Bị cáo và những người liên quan;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Văn Toàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2024/HSST ngày 07/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AYUN PA, TỈNH GIA LAI về tội đánh bạc

  • Số bản án: 07/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AYUN PA, TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trong 02 ngày 31/12/2023 và 04/01/2024, bị cáo V đã 02 lần đánh bạc với các con bạc khác bằng hình thức ghi lô và số đề. Theo quy định tại Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP ngày 22/10/2010, của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao thì cả hai lần đánh bạc này của bị cáo đều đủ định lượng cấu thành tội phạm đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger