|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do- Hạnh phúc |
|
Bản án số: 07/2024/HS-ST Ngày: 11-01-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: ông Nguyễn Quốc Hùng
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Tạ Kỳ Trung;
- Bà Dương Thị Mỹ Liên.
Thư ký phiên tòa: ông Trần Thế Sự - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng tham gia phiên tòa: ông Võ Trường Thọ - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 85/2023/HSST ngày 01 tháng 12 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2023/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:
Phan Anh T, sinh năm 1980, tại tỉnh Nghệ An. Nơi đăng ký HKTT: khối K, phường H, thị xã T, tỉnh Nghệ An; chỗ ở hiện nay: khu phố H, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: không có; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Huy C và bà Nguyễn Thị H; vợ: Lê Thị Tình T1; con có 02 người, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2014; tiền án: Tại Bản án số 65/2012/HSST ngày 21/9/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xử phạt Phan Anh T 13 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tổng hợp hình phạt với Bản án số 27/2012/HSST ngày 26/6/2012 của Tòa án nhân dân thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An buộc bị cáo Phan Anh T phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 15 năm tù; tiền sự: không. Về nhân thân: tại Bản án số 79/2008/HSST ngày 20/5/2008 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Đông, tỉnh Hà Tây xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; tại Bản án số 32/2008/HSST ngày 26/11/2008 của Tòa án nhân dân thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An xử phạt 04 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Bị cáo bị tạm giữ ngày 06/10/2023, tạm giam ngày 12/10/2023 cho đến nay. (có mặt)
Bị hại: anh Phạm Hoàng H1, sinh năm 1990. Địa chỉ: khu phố T, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 12 giờ ngày 03/10/2023, do không có tiền tiêu xài nên Phan Anh T điều khiển xe mô tô biển số 37Z3-3215 mang theo 01 cây xà beng tìm nhà dân để lấy trộm tài sản. T điều khiển xe đến khu vực khu phố T, phường A, thị xã T thì phát hiện nhà anh Phạm Hoàng H1 đóng cửa không có người trông giữ, T điều khiển xe mô tô để ở khu vực nghĩa địa rồi đi bộ ra phía sau trèo rào vào bên trong thì phát hiện nhà anh H1 có camera. T lấy áo mưa, khăn vải có sẵn tại nhà anh H1 mặc vào và che camera lại. Sau đó, T sử dụng thanh sắt phơi đồ nhà anh H1 để mở chốt cửa sau đi vào trong nhà lấy trộm tài sản gồm: Tiền Việt Nam 2.000.000 đồng; 01 ba lô màu đen bên trong có 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Asus màu vàng; 01 túi xách đựng bộ chăn, ga nệm (bên trong có 01 ví da nữ màu đỏ; 01 lắc tay chữ N, loại vàng 9999, có trọng lượng 1,99 chỉ; 01 sợi dây chuyền hoa mai, loại vàng 9999, có trọng lượng 03 chỉ; 01 kiềng cổ, loại vàng 980, có trọng lượng 02 chỉ; 01 đôi bông tai, loại vàng 9999, có trọng lượng 1,06 chỉ có đính kèm hột 03 ly; 01 vòng đeo tay bản vuông, loại vàng 980, có trọng lượng 02 chỉ; 01 sợi lắc tay dạng lắc bị, loại vàng 18K, có trọng lượng 02 chi; 01 chiếc nhẫn trơn có đính hạt, loại vàng 18K, có trọng lượng 0,4 chỉ; 02 chiếc nhẫn trơn, loại vàng 24K, mỗi chiếc nhẫn có trọng lượng 0,5 chỉ). Sau khi trộm được tài sản, T đem máy tính xách tay, ba lô, ví, túi xách, xà beng đến khu vực cầu T thuộc ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh vứt bỏ. Đối với số vàng trộm được, T đem bán tại các tiệm vàng tại khu vực huyện C và quận A, Thành phố Hồ Chí Minh được số tiền 63.100.000 đồng; T mua 01 điện thoại Iphone 15 Promax, chuyển vào tài khoản của T tại ngân hàng Q số tiền 5.000.000 đồng. Qua xác minh, ngày 06/10/2023, Cơ quan điều tra mời T làm việc và thừa nhận toàn bộ sự việc như trên. Cơ quan điều tra tiến hành truy tìm thu giữ vật chứng gồm: 01 ba lô màu đen; 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Asus, màu vàng.
Tại Kết luận định giá tài sản số 66/KL-HĐĐGTS ngày 10/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã T, tỉnh Tây Ninh, kết luận: 01 (một) máy tính xách tay nhãn hiệu Asus X507M (X507MA-BR316T) màu vàng trị giá 3.000.000 đồng; 01 (một) lắc tay chữ N, loại vàng 9999, có trọng lượng 1,99 chỉ trị giá 10.925.100 đồng; 01 (một) sợi dây chuyền hoa mai, loại vàng 9999, có trọng lượng 03 chỉ trị giá 16.470.000 đồng; 01 (một) kiềng cổ, loại vàng 980, có trọng lượng 02 chỉ trị giá 10.980.000 đồng; 01 (một) đôi bông tai, loại vàng 9999, có trọng lượng 1,06 chỉ có đính kèm hột 03 ly trị giá 5.819.400 đồng; 01 (một) vòng đeo tay bản vuông, loại vàng 980, có trọng lượng 02 chỉ trị giá 10.980.000 đồng; 01 (một) sợi lắc tay dạng lắc bị, loại vàng 18K, có trọng lượng 02 chỉ trị giá 6.633.200 đồng; 01 (một) chiếc nhẫn trơn có đính hạt, loại vàng 18K, có trọng lượng 0,4 chỉ trị giá 1.326.640 đồng; 02 (hai) chiếc nhẫn trơn, loại vàng 24K, mỗi chiếc nhẫn có trọng lượng 0,5 chỉ trị giá 5.490.000 đồng. Tổng trị giá 71.624.340 đồng.
Tại Kết luận định giá tài sản số 77/KL-HĐĐGTS ngày 10/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã T, tỉnh Tây Ninh, kết luận: 01 ví nữ màu đỏ, không nhãn hiệu, kích thước (20x10) cm được mua năm 2022 trị giá 10.000 đồng; 01 ba lô màu đen, chất liệu nylon, kích thước (40x30) cm mua năm 2019 trị giá 30.0000 đồng; 01 túi xách nhựa bên trong có 01 tấm chăn và 01 cái ga nệm bằng chất liệu cotton, màu xanh sọc trắng cùng kích thước (1,6x02) m trị giá 316.600 đồng.
Tại bản cáo trạng số: 85/CT-VKSTrB ngày 28 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh đã truy tố bị cáo Phan Anh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c, g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng trong phần tranh luận đã giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo T về tội danh trên, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: căn cứ điểm c, g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Phan Anh T từ 03 năm đến 04 năm tù;
Xét thấy bị cáo không có tài sản riêng, không có thu nhập ổn định nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo;
Về trách nhiệm dân sự: tại phiên tòa, bị cáo đồng ý bồi thường cho anh Phạm Hoàng H1 số tiền 70.950.940 đồng như bị hại yêu cầu nên ghi nhận;
Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
Về bào chữa: bị cáo T thống nhất với Cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát, không có ý kiến bào chữa cho mình.
Về nói lời nói sau cùng: bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: bị hại Nguyễn Hoàng H2 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt tại phiên tòa nhưng lời khai đã có đầy đủ trong hồ sơ, việc xét xử vắng mặt bị hại không ảnh hưởng đến nội dung vụ án nên bị cáo và đại diện Viện kiểm sát đề nghị xét xử vắng mặt bị hại. Căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Về tội danh: Trong quá trình điều tra, cũng như tại phiên toà, bị cáo Phan Tuấn A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình giống như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Xét lời khai nhận của bị cáo phù hợp với biên bản vụ việc, vật chứng, kết luận định giá tài sản cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã chứng minh được như sau: Vào khoảng 12 giờ ngày 03/10/2023, tại khu vực khu phố T, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh, Phan Anh T đã tái phạm nguy hiểm, chưa được xóa án tích, tiếp tục trộm cắp tài sản của anh Nguyễn Hoàng H2 với tổng trị giá là 73.980.940 đồng.
Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Phan Anh T phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c, g Khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết giảm nhẹ: trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, xét thấy bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; bị cáo có cha là người có công với cách mạng. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự sẽ được Hội đồng xét xử xem xét khi áp dụng hình phạt đối với bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng: bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
[4] Về tính chất của hành vi phạm tội và hình phạt:
Vụ án mang tính chất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện.
Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.
Xét thấy bị cáo không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 589 Bộ luật dân sự, Hội đồng xét xử xử lý vật chứng như sau:
- Về trách nhiệm dân sự: tại phiên tòa, ghi nhận bị cáo T đồng ý bồi thường cho anh Phạm Hoàng H1 số tiền 70.950.940 đồng như anh H1 yêu cầu.
Tiếp tục duy trì Lệnh Phong tỏa số 04/LPT-HS ngày 26/10/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T, tỉnh Tây Ninh để đảm bảo thi hành án cho bị hại.
- Về vật chứng:
- + Tiền Việt Nam 7.500.000 đồng là tiền do bị cáo lấy trộm tài sản của bị hại H1 bán có được nên tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án cho bị hại.
- + 01 (một) xe môtô nhãn hiệu Suman, loại xe Wave, màu sơn đỏ, biển số 37Z3- 3215, số máy FMH5R-151536, số khung 3UM5X-151536, dung tích xi lanh 109 cm³, là phương tiện dùng để đi trộm nên tịch thu sung ngân sách nhà nước.
- + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Mobell, màu đen, Model: M239, số I: 970101600881876, là tài sản cá nhân của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo;
- + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Promax, màu xanh, số Imeil: 356103502559224, số Imei2: 356103502668637 và 01 (một) vỏ hộp điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Promax, màu trắng. Đây là điện thoại mà bị cáo T dùng tiền trộm cắp của bị hại để mua nên tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị hại;
- + 01 (một) đôi giày da nam, màu đen, đế giày bằng nhựa, chiều dài 27,5 cm, chiều ngang nơi rộng nhất 9,8 cm, nơi nhỏ nhất 4,5cm; 01 (một) quần Jeans dài, màu xanh, S số 28, nhãn hiệu “NINWAY”; 01 (một) áo sơ mi dài tay, màu xanh, sọc đen, Size M, nhãn hiệu BURBERRY; 01 (một) mũ lưỡi trai, màu nâu. Đây là các vật chứng của vụ án không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
[5] Bị cáo Anh T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 3.547.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm c, g Khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phan Anh T 03 (Ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản".
Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 06/10/2023.
- Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 589 Bộ luật dân sự:
- - Về trách nhiệm dân sự: bị cáo Phan Anh T có trách nhiệm bồi thường cho anh Phạm Hoàng H1 số tiền 70.950.940 (Bảy mươi triệu chín trăm năm mươi nghìn chín trăm bốn mươi) đồng.
- Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi suất của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
- Tiếp tục duy trì Lệnh Phong tỏa số 04/LPT-HS ngày 26/10/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T, tỉnh Tây Ninh để đảm bảo thi hành án cho bị hại.
- - Về vật chứng:
- + Tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị hại Phạm Hoàng H1 tiền Việt Nam 7.500.000 (Bảy triệu năm trăm nghìn) đồng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Promax, màu xanh, số Imeil: 356103502559224, số Imei2: 356103502668637 và 01 (một) vỏ hộp điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Promax, màu trắng;
- + Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 (một) xe môtô nhãn hiệu Suman, loại xe Wave, màu sơn đỏ, biển số 37Z3- 3215, số máy FMH5R-151536, số khung 3UM5X-151536, dung tích xi lanh 109 cm³;
- + Trả lại cho bị cáo T 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Mobell, màu đen, Model: M239, số I: 970101600881876;
- + Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) đôi giày da nam, màu đen, đế giày bằng nhựa, chiều dài 27,5 cm, chiều ngang nơi rộng nhất 9,8 cm, nơi nhỏ nhất 4,5cm; 01 (một) quần Jeans dài, màu xanh, S số 28, nhãn hiệu “NINWAY”; 01 (một) áo sơ mi dài tay, màu xanh, sọc đen, Size M, nhãn hiệu BURBERRY; 01 (một) mũ lưỡi trai, màu nâu.
- Về án phí: Căn cứ Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: bị cáo T phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 3.547.500 (Ba triệu năm trăm bốn mươi bảy nghìn năm trăm) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Thời hạn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quốc Hùng |
Bản án số 07/2024/HS-ST ngày 11/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 07/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/01/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phan Anh Tuấn trộm cắp tài sản
