|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU TỈNH NAM ĐỊNH Bản án số: 07/2024/KDTM-ST Ngày: 05-7-2024 V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Hòe.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Việt Hùng;
Ông Lưu Văn Đê.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huê - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 03/2024/TLST-KDTM ngày 07 tháng 02 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2024/QĐXXST-KDTM ngày 07 tháng 5 năm 2024 và Quyết định Hoãn phiên tòa số 54/2024/QĐST-KDTM ngày 07 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần V (V1). Địa chỉ: H L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D - Chủ tịch Hội đồng quản trị
Người đại diện theo ủy quyền:
- Ông Ma Văn M, sinh năm 1988- Cán bộ Xử lý nợ V1.
- Ông Trần Văn T, sinh năm 1993- Cán bộ Xử lý nợ V1.
Cùng địa chỉ: Tầng G, tòa nhà V, số G D, Cầu G, Hà Nội.
- Bị đơn: Công ty TNHH S (Công ty S). Địa chỉ: Xóm C, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Đăng Đ. Chức vụ - Giám đốc.
Địa chỉ: Xóm F N, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định.
(Có mặt ông T; vắng mặt ông M, ông Đ).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 11/10/2023 và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn cùng ý kiến trình bày:
Ngày 17/11/2021, Ngân hàng Thương mại cổ phần V (V1) đã ký với Công ty TNHH S (Công ty S) hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp ô tô số 171121-7398773-AUTO-1/HĐ và Khế ước nhận nợ số 171121-7398773-AUTO-1. Nội dung: Hạn mức cho vay: 589.000.000đ (năm trăm tám mươi chín triệu đồng); mục đích sử dụng vốn vay: Vay mua xe ô tô mới theo Hợp đồng mua bán xe ô tô số 25211085; thời hạn cho vay: 96 tháng; lãi suất cho vay trong hạn và cơ chế điều chỉnh lãi suất: Được Bên Ngân hàng và Khách hàng thỏa thuận theo cung cầu vốn thị trường, nhu cầu vay vốn và mức độ tín nhiệm của Khách hàng; lãi suất quá hạn: Bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chậm trả lãi tối đa không quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Tài sản bảo đảm cho khoản vay nêu trên là 01 xe ô tô nhãn hiệu FORD RANGER biển kiểm soát 18C-122.11, Giấy chứng nhận đăng ký xe số 18006316 do Phòng C Công an tỉnh N cấp ngày 12/11/2021 đứng tên Công ty TNHH S.
Quá trình thực hiện Hợp đồng, Công ty S đã trả cho V1 36.812.833đ nợ gốc và 18.659.317đ nợ lãi, vi phạm nghĩa vụ bị chuyển lãi quá hạn từ ngày 10/6/2022. Ngân hàng nhiều lần làm việc và yêu cầu Công ty S thực hiện nghĩa vụ theo đúng cam kết tại Hợp đồng tín dụng đã ký với V1 nhưng Công ty S không thanh toán nợ. Do đó, V1 yêu cầu Tòa án:
- Buộc Công ty S phải thanh toán cho V1 toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi, tiền lãi chậm trả và các khoản phát sinh liên quan theo Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp ô tô số 171121-7398773-AUTO-1/HĐ và khế ước nhận nợ kèm theo tính đến ngày 05/7/2024 là: Nợ gốc: 552.187.167đ; nợ lãi trong hạn: 3.173.713đ; lãi quá hạn: 209.702.276đ; phạt chậm trả 22.088.147; tổng cộng: 787.151.304đ.
- Kể từ ngày 06/7/2024, ngoài khoản tiền kể trên, Công ty S còn phải tiếp tục trả lãi và lãi chậm trả theo đúng thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng và các khế ước nhận nợ kèm theo cho đến ngày Công ty S thực tế thanh toán hết nợ cho V1.
- Trường hợp Công ty S không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán toàn bộ khoản nợ cho V1, V1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án kê biên, xử lý tài sản bảo đảm là: 01 xe ô tô nhãn hiệu FORD RANGER BKS 18C- 122.11, GCNĐK số 18006316 do Phòng C Công an tỉnh N cấp ngày 12/11/2021 đứng tên Công ty TNHH S. Nếu tài sản đảm bảo trên không đủ để thực hiện nghĩa vụ thanh toán toàn bộ khoản nợ cho V1, V1 có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền tiến hành xác minh, kê biên, thu giữ, phát mại các tài sản khác thuộc quyền sở hữu, sử dụng của Công ty S để thu hồi khoản nợ cho đến khi Công ty S thanh toán hết khoản nợ cho V1.
Toà án đã tống đạt các văn bản tố tụng gồm: Thông báo thụ lý số 03/TB-TLVA ngày 07/02/2024; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho Công ty S nhưng Công ty S không đến Tòa án làm việc, không đưa ra lý do của sự vắng mặt và không gửi các văn bản trình bày ý của mình về yêu cầu khởi kiện của V1. Đồng thời, Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định cũng tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa cho Công ty S nhưng Công ty S vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần hai không lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 21; Điều 262 Bộ luật Tố tụng dân sự, thông qua việc kiểm sát tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán đã tiến hành thu thập chứng cứ, mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, tống đạt các quyết định tố tụng theo quy định tại các Điều 98, 170, 171, 175, 177, 220 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS). Từ khi thụ lý vụ án, nguyên đơn thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, 71, 72, 73 BLTTDS như cung cấp chứng cứ, tham gia phiên tòa. Tuy nhiên, bị đơn không đến Tòa án làm việc; không thực hiện việc đưa tài sản thế chấp đến tham gia buổi làm việc xem xét, thẩm định tại chỗ là chưa tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
4. Về nội dung vụ án: Căn cứ các Điều 298, 299, 300, 301, 307, 317, 320, 466, 468, 470 Bộ luật Dân sự 2015; điều 91, 95 Luật các tổ chức Tín dụng: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của V1; buộc Công ty S phải trả cho V1 các khoản nợ theo Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp ô tô số 171121-7398773-AUTO-1/HĐ và khế ước nhận nợ kèm theo tính đến ngày 05/7/2024 là: Nợ gốc: 552.187.167đ; nợ lãi trong hạn: 3.173.713đ; lãi quá hạn: 209.702.276đ; phạt chậm trả 22.088.147; tổng cộng: 787.151.304đ. Kể từ ngày 06/7/2024, ngoài khoản tiền kể trên, Công ty S còn phải tiếp tục trả lãi và lãi chậm trả theo đúng thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng và các khế ước nhận nợ kèm theo cho đến ngày Công ty S thực tế thanh toán hết nợ cho V1. Trường hợp Công ty S không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán toàn bộ khoản nợ cho V1, V1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án kê biên, xử lý tài sản bảo đảm là: 01 xe ô tô nhãn hiệu FORD RANGER BKS 18C-122.11, GCNĐK số 18006316 do Phòng C Công an tỉnh N cấp ngày 12/11/2021 đứng tên Công ty TNHH S. Nếu tài sản đảm bảo trên không đủ để thực hiện nghĩa vụ thanh toán toàn bộ khoản nợ cho V1, V1 có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền tiến hành xác minh, kê biên, thu giữ, phát mại các tài sản khác thuộc quyền sở hữu, sử dụng của Công ty S để thu hồi khoản nợ cho đến khi Công ty S thanh toán hết khoản nợ cho V1.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Ông Ma Văn M là đại diện theo ủy quyền được quyền vắng mặt theo Giấy ủy quyền số của V1; bị đơn Công ty S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm lần thứ hai những vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự và nội dung văn bản ủy quyền, Hội đồng xét xử vắng mặt ông M, Công ty S là phù hợp.
[2] Xét hiệu lực của Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp ô tô số 171121-7398773-AUTO-1/HĐ và Khế ước nhận nợ số 171121-7398773-AUTO-1.được ký kết giữa V1 và Công ty S:
V1 và Công ty S đều là các pháp nhân có đăng ký kinh doanh; việc ký hợp đồng, phụ lục hợp đồng và các văn bản khác thể hiện ý chí tự nguyện của các bên trên cơ sở nhu cầu, kế hoạch phát triển kinh doanh của doanh nghiệp; nội dung hợp đồng không vi phạm điều cấm, không trái đạo đức xã hội; hình thức hợp đồng đảm bảo các điều kiện theo quy định pháp luật. Do đó, Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp ô tô số 171121-7398773-AUTO-1/HĐ và Khế ước nhận nợ số 171121-7398773-AUTO-1.được ký kết giữa V1 và Công ty S và các văn bản bộ phận kèm theo đều hợp pháp, các bên đã tham gia ký kết đều phải có nghĩa vụ tôn trọng và thực hiện.
[4] Xét các yêu cầu của nguyên đơn thì thấy:
3.1. Đối với yêu cầu thanh toán nợ gốc và nợ lãi:
Theo thỏa thuận tại hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp ô tô số 171121-7398773-AUTO-1/HĐ và Khế ước nhận nợ số 171121-7398773-AUTO-1. thì V1 cho Công ty S vay số tiền 589.000.000đ (năm trăm tám mươi chín triệu đồng); mục đích sử dụng vốn vay: Vay mua xe ô tô mới theo Hợp đồng mua bán xe ô tô số 25211085; thời hạn cho vay: 96 tháng; lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chậm trả lãi tối đa không quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
5. Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty S đã trả cho V1 36.812.833đ nợ gốc và 18.659.317 đ nợ lãi, vi phạm nghĩa vụ bị chuyển lãi quá hạn từ ngày 10/6/2022. Tính đến ngày 05/7/2024, Công ty S còn nợ của V1 số tiền: Nợ gốc: 552.187.167đ; nợ lãi trong hạn: 3.173.713đ; lãi quá hạn: 209.702.276đ; phạt chậm trả 22.088.147; tổng cộng: 787.151.304đ.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã công khai chứng cứ, Công ty S đã nhận được bản sao các tài liệu, chứng cứ do V1 cung cấp nhưng không có ý kiến phản hồi gì về các nội dung nguyên đơn yêu cầu. Xét việc tính lãi trong hạn, lãi quá hạn, lãi chậm trả như V1 đã yêu cầu phù hợp với quy định của pháp luật và thỏa thuận của các bên tại Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp ô tô số 171121-7398773-AUTO-1/HĐ ngày 17/11/2021 và Khế ước nhận nợ số 171121-7398773-AUTO-1 ngày 17/11/2021. Do Công ty S vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng nên việc V1 chấm dứt hợp đồng, yêu cầu Công ty S phải trả khoản vay gốc còn lại và lãi như trên là có căn cứ, phù hợp pháp luật, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
3.2. Đối với yêu cầu buộc Công ty S phải tiếp tục thanh toán phần nợ lãi, lãi quá hạn, lãi chậm trả và các chi phí khác phát sinh (nếu có) theo Hợp đồng tín dụng cho đến khi tất toán xong toàn bộ khoản nợ:
Tại Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm đã quy định: “Đối với trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng mà các bên có thỏa thuận về việc trả lãi thì kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định pháp luật”.
Trong khi đó, tại Điều 2, 3 Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp ô tô số 171121-7398773-AUTO-1/HĐ ngày 17/11/2021 và khoản 6 Điều 1 Khế ước nhận nợ số 171121-7398773-AUTO-1 ngày 17/11/2021, các bên đã thỏa thuận về lãi suất gồm: Lãi suất cho vay trong hạn, lãi suất nợ quá hạn, lãi suất chậm trả, việc chuyển nợ quá hạn cũng như thời gian trả lãi. Theo các tài liệu nguyên đơn nộp cho Tòa án, mức lãi suất mà V1 hiện đang áp dụng cho các khoản vay còn tồn đọng của Công ty S phù hợp với thỏa thuận của các bên khi giao kết hợp đồng và quy định của pháp luật hiện hành. Do đó, yêu cầu của V1 về việc đề nghị Tòa án tuyên buộc Công ty S thanh toán tiếp phần lãi suất cho vay trong hạn, lãi suất nợ quá hạn, lãi suất chậm trả và các chi phí phát sinh khác (nếu có) theo Hợp đồng tín dụng cho đến khi tất toán xong toàn bộ khoản nợ là hợp pháp, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
3.3. Đối với yêu cầu đề nghị Tòa án tuyên trong bản án nội dung: “Trường hợp khi bản án có hiệu lực, Công ty S không trả hoặc trả không đủ nợ thì V1 có quyền thu giữ, tự xử lý hoặc yêu cầu cơ quan Thi hành án xác minh, kê biên, phát mại tài sản bảo đảm của Công ty S để thu hồi khoản nợ cho V1. Tài sản đảm bảo là 01 xe ô tô nhãn hiệu FORD RANGER, BKS: 18C-122.11, GCNĐK số 18006316 do Phòng C Công an tỉnh N cấp ngày 12/11/2021 đứng tên Công ty S. Trường hợp xử lý tài sản bảo đảm không đủ thu hồi toàn bộ khoản nợ cho V1, Công ty S vẫn phải tiếp tục trả nợ cho V1 đến khi khoản nợ được tất toán”. Hội đồng xét xử xét thấy:
Để đảm bảo cho khoản vay, tại Điều 3 Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp ô tô số 171121-7398773-AUTO-1/HĐ ngày 17/11/2021 thể hiện: Công ty S thế chấp tài sản bảo đảm là là 01 xe ô tô nhãn hiệu FORD RANGER, BKS 18C-122.11, GCNĐK số 18006316 do Phòng C Công an tỉnh N cấp ngày 12/11/2021 đứng tên Công ty S cho V1.
Xét các thỏa thuận về thế chấp tài sản mà các bên đã ký kết có nội dung, hình thức phù hợp với quy định của pháp luật, được đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định tại Điều 298 Bộ luật dân sự và Nghị định 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ quy định thi hành Bộ luật Dân sự về Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn không có ý kiến gì về thế chấp tài sản bảo đảm khoản vay. Do đó, yêu cầu của V1 về việc ghi nội dung liên quan đến xử lý tài sản thế chấp và có nghĩa vụ tiếp tục trả nợ cho V1 đến khi khoản nợ được tất toán phù hợp với các thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp ô tô số 171121-7398773-AUTO-1/HĐ ngày 17/11/2021. Do đó, xét cần chấp nhận yêu cầu của V1 theo quy định tại các Điều 299, 300, 301, 307, 317, 320 Bộ luật Dân sự.
[4] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên bị đơn phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 298, 299, 300, 301, 307, 317, 320, 466, 468, 470 Bộ luật Dân sự; Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 9, Điều 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng.
Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần V (V1).
- Buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn S trả nợ cho V1 toàn bộ số tiền gốc, lãi tính đến ngày ngày 05/7/2024 là 787,151,304đ (bảy trăm tám mươi bảy triệu, một trăm năm mươi mốt nghìn, ba trăm linh tư đồng), trong đó: Nợ gốc: 552,187,167đ (năm trăm năm mươi hai triệu, một trăm tám bảy nghìn, một trăm sáu bảy đồng); nợ lãi trong hạn: 3.173.713đ (ba triệu, một trăm bảy ba nghìn, bảy trăm mười ba đồng); lãi quá hạn: 209.702.276đ (hai trăm linh chín triệu, bảy trăm linh hai nghìn, hai trăm bảy mươi sáu đồng); phạt chậm trả 22.088.147 (hai hai triệu, không trăm tám mươi tám nghìn, một trăm bốn bảy đồng). Kể từ ngày 06/7/2024, ngoài khoản nợ kể trên, Công ty S còn phải trả toàn bộ lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng số 171121-7398773-AUTO-1/HĐ ngày 17/11/2021 và Khế ước nhận nợ số 171121-7398773-AUTO-1 ngày 17/11/2021 cho đến khi Công ty S thanh toán hết nợ cho V1.
- Trường hợp khi bản án có hiệu lực, Công ty S không trả hoặc trả không đủ nợ thì V1 có quyền thu giữ, tự xử lý hoặc yêu cầu cơ quan Thi hành án xác minh, kê biên, phát mại tài sản bảo đảm của Công ty S để thu hồi khoản nợ cho V1. Tài sản đảm bảo là 01 xe ô tô nhãn hiệu FORD RANGER, BKS 18C-122.11, GCNĐK số 18006316 do Phòng C Công an tỉnh N cấp ngày 12/11/2021 đứng tên Công ty trách nhiệm hữu hạn S. Trường hợp xử lý tài sản bảo đảm không đủ thu hồi toàn bộ khoản nợ cho V1, Công ty S vẫn phải tiếp tục trả nợ cho V1 đến khi khoản nợ được tất toán.
- Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn S phải nộp 35,486,000đ (ba mươi lăm triệu, bốn trăm tám mươi sáu nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn lại cho V1 số tiền 15,000,000đ (mười lăm triệu đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp tại biên lai số 0003041 ngày 01-02-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hậu.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Hòe |
Bản án số 07/2024/KDTM-ST ngày 05/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 07/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/07/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Vpbank và Công Ty TNHH S
