|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 07/2024/HNGĐ-ST Ngày: 05 - 01 - 2024 V/v tranh chấp xin ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Yến Phương
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lưu Xông Pha
Bà Nguyễn Huỳnh Hưỡng
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Tuyết Ngân là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
Ngày 05 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 434/2023/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2023 về việc “Tranh chấp xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 295/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thúy N, sinh năm 2000 (Xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp C, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn: Ông Trần Minh P, sinh năm 2000 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp K, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thúy N trình bày:
- Về hôn nhân: Bà và ông Trần Minh P tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau vào năm 2022. Quá trình chung sống tính tình vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm dẫn đến cãi vả, mâu thuẫn ngày càng nghiêm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể tiếp tục kéo dài. Do đó, bà yêu cầu Toà án giải quyết được ly hôn với ông Trần Minh P.
- Về con chung: Có 01 con chung là Trần Mộng T, sinh ngày 27/9/2022. Hiện bà đang trực tiếp nuôi dưỡng con. Khi ly hôn, bà yêu cầu Toà án giải quyết được tiếp tục nuôi dưỡng con đến khi trưởng thành, yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đồng thời, bà Nguyễn Thúy N có đơn yêu cầu Toà án giải quyết, xét xử vắng mặt do công việc gia đình khó khăn, đi làm ăn xa, không đảm bảo điều kiện tham gia tố tụng theo triệu tập.
Đối với bị đơn ông Trần Minh P, quá trình giải quyết vụ án đã được Toà án tống đạt Thông báo thụ lý, triệu tập hợp lệ nhiều lần tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hoà giải và xét xử nhưng ông P vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản phản hồi ý kiến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Thúy N khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn ông Trần Minh P hiện đang cư trú tại địa chỉ ấp K, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau nên Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết là phù hợp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn là ông Trần Minh P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng ông P vắng mặt không lý do, bà Nguyễn Thúy N xin xét xử vắng mặt do đó căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà N và ông P.
[2] Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa bà N và ông P được xác lập vào năm 2022 có đăng ký kết hôn tại UBND xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau theo quy định nên hôn nhân của ông bà là hợp pháp. Quá trình chung sống, bà N xác định tính tình vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm dẫn đến cãi vả, mâu thuẫn ngày càng nghiêm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể tiếp tục kéo dài nên yêu cầu Toà án giải quyết được ly hôn với ông Trần Minh P, trong khi đó ông P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt và không có văn bản ý kiến phản hồi, điều đó cho thấy ông P không có thiện chí để hàn gắn mối quan hệ vợ chồng với bà N. Hội đồng xét xử xét thấy, hôn nhân của bà N và ông P đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thúy N, cho bà N ly hôn với ông Trần Minh P là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: Quá trình chung sống, bà Nguyễn Thúy N và ông Trần Minh P có 01 con chung là: Trần Mộng T, sinh ngày 27/9/2022, hiện đang do bà N nuôi dưỡng, khi ly hôn bà N yêu cầu được tiếp tục nuôi con đến khi trưởng thành.
Hội đồng xét xử, cháu Trần Mộng T còn nhỏ (dưới 36 tháng tuổi) hiện đang do mẹ là bà N nuôi dưỡng nên tiếp tục giao cháu Trần Mộng T, sinh ngày 27/9/2022 cho mẹ là bà Nguyễn Thúy N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con chung có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai có quyền cản trở.
[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Thúy N yêu cầu ông Trần Minh P cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy, ông P không trực tiếp nuôi con phải có trách nhiệm và nghĩa vụ cấp dưỡng, bà N không đặt ra yêu cầu mức cấp dưỡng cụ thể, do đó xét thấy mức cấp dưỡng 1.000.000 đồng/tháng là phù hợp, đảm bảo nhu cầu thiết yếu cho cháu T. Vì vậy, buộc ông Trần Minh P phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung là Trần Mộng T, sinh ngày 27/9/2022, mỗi tháng 1.000.000 đồng, thời hạn cấp dưỡng tính từ ngày 05/01/2024 cho đến khi cháu Trần Mộng T đủ 18 tuổi là có căn cứ.
[5] Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thúy N xác định vợ chồng không có tài sản chung và không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông Trần Minh P thì vắng mặt và không có ý kiến gì về phần tài sản và nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Sau này, nếu có phát sinh tranh chấp, đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu về phần tài sản, nợ chung thành vụ án dân sự khác theo quy định của pháp luật.
[6] Về án phí: Nguyên đơn bà Nguyễn Thúy N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm và ông Trần Minh P phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Các điều 147, 227, 228, 235 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 53, Điều 56, 58, 69, 81, 82, 83, 107, 110 và Điều 118 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thúy N, cho bà Nguyễn Thúy N ly hôn với ông Trần Minh P.
-
Về con chung: Giao Trần Mộng T, sinh ngày 27/9/2022 cho bà Nguyễn Thúy N có nghĩa vụ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu Trần Mộng T thành niên.
Ông Trần Minh P không trực tiếp nuôi con chung có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai có quyền cản trở nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của bà Nguyễn Thúy N.
-
Về cấp dưỡng: Buộc ông Trần Minh P có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi Trần Mộng T, sinh ngày 27/9/2022, mỗi tháng là 1.000.000 đồng, thời hạn cấp dưỡng tính từ ngày 05/01/2024 cho đến khi Trần Mộng T đủ 18 tuổi.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của bà Nguyễn Thúy N, trường hợp ông Trần Minh P chậm thi hành nghĩa vụ cấp dưỡng thì phải chịu khoản tiền lãi tương ứng với số tiền và thời gian chậm thực hiện nghĩa vụ theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
- Về tài sản chung, nợ chung: Tòa án không giải quyết. Sau này, nếu có phát sinh tranh chấp, các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu về phần tài sản và nợ chung thành vụ án dân sự khác theo quy định của pháp luật.
-
Về án phí:
- - Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thúy N phải chịu 300.000 đồng, bà N đã dự nộp 300.000 đồng tại biên lai thu số 0006938 ngày 26/6/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời được chuyển thu.
- - Án phí về cấp dưỡng: Ông Trần Minh P phải chịu 300.000 đồng (Chưa nộp).
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a,7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai, các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Yến Phương |
Bản án số 07/2024/HNGĐ-ST ngày 05/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp xin ly hôn
- Số bản án: 07/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/01/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ việc mâu thuẫn do mâu thuẫn gia đình
