Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NGỌC LẶC

TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:07/2024/DS-ST

Ngày: 04 - 6 - 2024

V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Xuân Thành

Các Hội thẩm nhân dân:Ông: Bùi Trung Thành

- Ông: Lê Hữu Đại

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Quý Hiếu - Thư ký Toà án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 72/2023/TLST-DS ngày 21 tháng 11 năm 2023 về Tranh chấp hợp đồng tín dụng, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2024/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 33/2024/QĐST-DS ngày 15 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự;

- Nguyên đơn: Ngân hàng N (A)

Địa chỉ: Số B L, quận B, thành phố Hà Nội

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V – Tổng giám đốc A

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Lê Thanh M – Phó Giám đốc phụ trách A chi nhánh huyện N theo giấy ủy quyền số: 2665/QĐ-NHNo-PC ngày 01/12/2022 của Tổng giám đốc A ủy quyền.

Người được ủy quyền lại: Ông Lê Minh C – Phó giám đốc Ngân hàng N chi nhánh huyện N, tỉnh Thanh Hóa theo giấy ủy quyển số 1022/NHNo.NL-UQ ngày 21/11/2023

Địa chỉ: Phố L, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

- Bị đơn: Chị Lê Thị K - Sinh năm: 1995

Anh Quách Thành T

Cùng địa chỉ: Làng L, xã P, huyện N, tỉnh Thanh Hóa

Tại phiên toà có mặt đại diện Ngân hàng N ông Lê Minh C, vắng mặt bị đơn chị Lê Thị K và anh Quách Thành T. Chị K, anh T vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa đại diện nguyên đơn ông Lê Minh C trình bày:

Ngày 10/09/2015 chị Lê Thị K và anh Quách Thành T (ông Quách Thành T là chồng của chị Lê Thị K), đã gửi phương án vay vốn đến Ngân hàng N - Chi nhánh huyện N xin vay số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) mục đích vay chăn nuôi.

Sau khi tiếp nhận hồ sơ Ngân hàng thẩm định khách hàng đáp ứng đầy đủ các điều kiện vay vốn theo quy định và đồng ý cho vay theo hợp đồng tín dụng sau: Hợp đồng tín dụng số 3510253867835 ngày 16/10/2015, phương thức vay vốn từng lần, số tiền cho vay 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng), thời hạn cho vay 36 tháng, thời hạn vay theo từng lần nhận nợ, thời hạn duy trì hạn mức 03 năm, kể từ ngày ký hợp đồng tín dụng, lãi suất cho vay bên Ngân hàng và bên vay thỏa thuận, lãi suất theo hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết.

Bên vay không có tài sản để đảm bảo khoản vay.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng trên đến ngày 08/10/2017 chị Lê Thị K đã vi phạm các thỏa thuận và cam kết đã ký trong hợp đồng, Ngân hàng đã nhiều lần có văn bản đôn đốc để chị K trả nợ nhưng gia đình chị K cố tình không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với Nhà nước, do đó Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ sang nợ quá hạn do chị Lê Thị K và anh Quách Thành T không thực hiện nghĩa vụ trả lãi theo thỏa thuận đã ký kết.

Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau:

  • - Buộc chị Lê Thị K và anh Quách Thành T phải trả cho Ngân hàng N tổng số tiền tính đến ngày 04/6/2024 là: 65.378.083đ (Sáu mươi lăm triệu, ba trăm bảy mươi tám nghìn, không trăm tám mươi ba đồng) trong đó:
    • + Nợ gốc: 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng)
    • + Nợ lãi: 15.378.083đ (Mười lăm triệu, ba trăm bảy mươi tám nghìn, không trăm tám mươi ba đồng)
  • - Yêu cầu bên vay phải thanh toán tiền lãi theo hợp đồng cho đến ngày bên vay tất toán xong khoản nợ. Thời gian thực hiện trả một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật.

Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã triệu tập hợp chị Lê Thị K và anh Quách Thành T để làm bản tự khai, trình bày ý kiến về những nội dung yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N, chi nhánh N nhưng chị K và anh T không có mặt nên không có lời khai của chị K và anh T và các bên không thống nhất được các vấn đề cần giải quyết trong vụ án.

* Phần tranh tụng tại phiên tòa:

Tại phiên tòa đại diện Ngân hàng N, chi nhánh N vẫn giữ nguyên yêu cầu mà không sửa đổi bổ sung, rút yêu cầu khởi kiện.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Lặc phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử là đúng quy định của pháp luật. Việc chị K và anh T không có mặt tại địa phương không thông báo cho chính quyền địa phương và phía nguyên đơn biết nhằm mục đích trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ với nguyên đơn, việc Tòa án thụ lý và giải quyết theo thủ tục chung là đúng quy định của pháp luật.

- Về việc giải quyết vụ án, đại diện VKS đề nghị HĐXX chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N. Buộc chị Lê Thị K và anh Quách Thành T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận định:

[1] Về tố tụng: Ngân hàng N và chị K anh T đang tranh chấp về “Hợp đồng tín dụng” do chị K và anh T vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Theo khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) thì đây là tranh chấp về hợp đồng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn là chị Lê Thị K và anh Quách Thành T có địa chỉ tại Làng L, xã P, huyện N, Thanh Hóa. Theo quy định tại Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa.

Quá trình giải quyết vụ án do chị Lê Thị K và anh Quách Thành T không có mặt tại địa phương nhằm trốn tránh nghĩa vụ với nguyên đơn, gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh, niêm yết các văn bản tố tụng hợp lệ, cho chị K và anh T biết để thực hiện quyền mình theo quy định của pháp luật.

Tòa án đã thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ nhưng chị Lê Thị K và anh Quách Thành T đều vắng mặt nên Tòa án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ vắng mặt chị K, anh T và đã thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho những người vắng mặt theo quy định tại khoản 3 Điều 210 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tòa án cũng đã triệu tập hợp lệ chị K, anh T đến phiên hoà giải nhưng chị K, anh T đều không đến để tham gia hoà giải nên Toà án không tiến hành hoà giải được. Đây là trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Toà án cũng đã triệu tập hợp lệ chị K anh T lần thứ hai đến để tham gia phiên toà nhưng chị K anh T vắng mặt không có lý do, do đó căn cứ vào quy định tại Điều 227, và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án xét xử vắng mặt chị K anh T.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về hợp đồng tín dụng, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về tính hợp pháp của hợp đồng tín dụng: Hợp đồng tín dụng số: 3510253867835 ngày 16/10/2015 ký kết giữa chị Lê Thị K và Ngân hàng N - Chi nhánh huyện N là hoàn toàn tự nguyện, tuân thủ các quy định của pháp luật về giao kết hợp đồng được quy định tại các Điều 116, 117, 119, 463 của Bộ luật dân sự 2015 nên hợp đồng trên hợp pháp và có hiệu lực pháp luật.

Quá trình thực hiện hợp đồng: Sau khi ký kết hợp đồng tín dụng, Ngân hàng đã thực hiện đúng các thỏa thuận trong hợp đồng, đã thực hiện việc giải ngân theo cam kết cho chị Lê Thị K và anh Quách Thành T số tiền 50.000.000 đồng (Năm triệu đồng). Tuy nhiên, bà chị Lê Thị K và anh Quách Thành T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo kỳ hạn đã cam kết. Kể từ thời điểm Ngân hàng giải ngân cho đến ngày 8/10/2017 chị K và anh T đã không thực hiện trả tiền gốc và lãi theo phân kỳ cho Ngân hàng, như vậy chị K và anh T đã vi phạm nghĩa vụ như thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết. Do đó, việc Ngân hàng làm đơn khởi kiện đến Tòa án yêu cầu chị Lê Thị K và anh Quách Thành T trả số tiền nợ tính đến ngày xét xử sơ thẩm 04 tháng 6 năm 2024 là: 65.378.083đ (Sáu mươi lăm triệu, ba trăm bảy mươi tám nghìn, không trăm tám mươi ba đồng) trong đó: Nợ gốc: 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng); Nợ lãi: 15.378.083đ (Mười lăm triệu, ba trăm bảy mươi tám nghìn, không trăm tám mươi ba đồng) và tiền lãi phát sinh từ ngày 05/6/2024 đến khi trả hết nợ là có cơ sở, là phù hợp theo quy định tại khoản 2, Điều 91 Luật Tổ chức tín dụng năm 2010, Điều 7 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về lãi, lãi suất, phạt vi phạm, Điều 466 Bộ luật dân sự 2015 nên Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[3] Về mức lãi suất mà phía bị đơn chị Lê Thị K và anh Quách Thành T phải trả cho nguyên đơn Ngân hàng N được tính kể từ ngày tiếp theo, ngày tuyên án sơ thẩm trên số nợ gốc chưa thanh toán cho đến khi thanh toán xong nợ gốc, kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 05/6/2024), chị Lê Thị K và anh Quách Thành T phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi đối với khoản tiền nợ gốc chưa thanh toán cho đến khi thanh toán xong theo mức lãi suất mà hai bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số: 3510253867835 ngày 16/10/2015.

[4] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận toàn bộ nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Trả lại tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường Vụ Quốc hội Quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[5] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay về việc giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Tòa án nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 26, 35 147; Khoản 1 Điều 207; Điều 227; Điều 228; Điều 235; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 116, 117, 119, Điều 351, 357, Điều 463, 466 Bộ luật dân sự;

Căn cứ Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N.
  2. Buộc chị Lê Thị K và anh Quách Thành T phải trả cho Ngân hàng N tổng số tiền là: 65.378.083đ (Sáu mươi lăm triệu, ba trăm bảy mươi tám nghìn, không trăm tám mươi ba đồng) trong đó: Nợ gốc: 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng); Nợ lãi: 15.378.083đ (Mười lăm triệu, ba trăm bảy mươi tám nghìn, không trăm tám mươi ba đồng).
  3. Kể từ ngày 05/6/2024, chị Lê Thị K và anh Quách Thành T còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số: 3510253867835 ngày 16/10/2015 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc. Trường hợp, trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh mức lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà chị Lê Thị K và anh Quách Thành T phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay.
  4. Về án phí: Chị Lê Thị K và anh Quách Thành T phải chịu 3.268.904đ (Ba triệu, hai trăm sáu mươi tám nghìn, chín trăm lẻ tư đồng) tiền án phí Dân sự sơ thẩm. Trả lại cho Ngân hàng N số tiền là 1.590.915đ (Một triệu năm trăm chín mươi nghìn chín trăm mười lăm đồng) tiền tạm ứng án phí DSST đã nộp theo biên lai thu tiền số: AA/2021/0000718 ngày 17/11/2023 của chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa.

Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Ngọc Lặc;
  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Các đương sự;
  • - Chi cục THADS huyện;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Xuân Thành

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Hội thẩm nhân dânThẩm phán - Chủ toạ phiên toà
Bùi Trung ThànhLê Hữu ĐạiPhạm Xuân Thành
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2024/DS-ST ngày 04/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC TỈNH THANH HOÁ về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 07/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án dân sự Tranh chấp hợp đồng tín dung
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger