|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 07/2024/HS-ST Ngày: 04/01/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thành Thị Thu Trang.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Chính
2. Ông Trần Công Danh
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Ông Phạm Đình Cảnh - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 01 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 701/TLST-HS ngày 17 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 293/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Đức L - Giới tính: Nam
Tên gọi khác: Lâm Cá.
Sinh năm: 1995, tại Đồng Nai.
Nơi cư trú (ĐKTT): 163/3, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Quốc tịch: Việt Nam - Dân tộc: Kinh - Tôn giáo: Thiên chúa.
Trình độ học vấn: Lớp 07/12 - Nghề nghiệp: lao động tự do.
Họ tên cha: Nguyễn Trường S, sinh năm 1962 (Đã chết).
Họ tên mẹ: Nguyễn Thị P, sinh năm 1953(Còn sống).
Bị cáo là con một trong gia đình và chưa có vợ, con.
Tiền án: Ngày 09/12/2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xử phạt 14 (Mười bốn) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự và buộc L phải nộp 200.000đ (H trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm (Bản án số 520/2021/HSST ngày 09/12/2021). L chưa thi hành phần án phí hình sự sơ thẩm.
Tiền sự: Ngày 10/7/2020, L bị Toà án nhân dân thành phố Biên Hoà Áp dụng biện pháp xử lý hánh chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Nhân thân: Ngày 27/5/2014, bị Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Điều 138 Bộ luật hình sự (Bản án 172/2014/HSPT). Ngày 22/12/2014, L chấp hành xong Bản án.
Bị bắt tạm giam ngày 28/6/2023, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B.
(Bị cáo có mặt).
* Bị hại: Anh Trần Văn L1, sinh năm 1984.
Địa chỉ: A, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
(Bị hại có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng tháng 11/2022, Nguyễn Đức L muốn mở sạp bán trái cây nên L nhờ người bạn của L (không rõ nhân thân, lai lịch) đến trước địa chỉ 102, tổ A, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai gặp anh Trần Văn L1 (sinh năm 1984, thường trú tại: xóm D, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa) hỏi anh L1 việc cho L bán trái cây bên cạnh sạp hàng của anh L1 nhưng do không phải chủ nhà nên anh L1 nói với bạn của L liên hệ với chủ nhà.
Vào khoảng 16 giờ 00 phút ngày 12/12/2022, trong lúc L đang ăn nhậu với Đinh Duy N (sinh năm 1990, thường trú tại: H, tổ A, khu phố D, phường T, thành phố B) tại nhà của L thì L nhớ lại việc anh L1 không đồng ý cho L bán hoa quả bên cạnh sạp hàng của anh L1 nên L nảy sinh ý định đánh anh L1. Sau đó, L đi vào trong nhà lấy ra 01 con dao dài khoảng 60cm lưỡi dao dài khoảng 40cm mũi dao tù và 01 con dao tự chế dài khoảng 1,5m, mũi dao dài khoảng 10cm được gắn vào ống tuýp sắt dài 1,4m để đi đánh anh L1. Tiếp đó, L nhờ N chở L ra chỗ anh L1 bán hàng để đánh anh L1 thì N đồng ý.
Khoảng 16 giờ 30 cùng ngày, N chở L đến trước số nhà A địa chỉ nêu trên thì L đưa cho N con dao tự chế dài khoảng 1,5m còn L cầm con dao dài khoảng 60cm có đặc điểm nêu trên đi đến trước sạp hàng của anh L1. Lúc này anh L1 đang ngồi soạn trái cây, L cầm dao chém 01 nhát thì trúng vào má trái và vành tai trái của anh L1. L tiếp tục chém 01 nhát trúng vào đầu của anh L1. Sau đó, L cầm 01 cây kéo sắt dài khoảng 20cm cán được bọc ống nhựa màu đen ở sạp hàng của anh L1 đâm 01 nhát trúng vào tay phải của anh L1 gây thương tích. Sau đó, L vứt cây kéo lại rồi lên xe cùng N bỏ đi. Anh L1 được anh D đưa đến Bệnh viện Đ điều trị thương tích.
Quá trình điều tra Nguyễn Đức L khai nhận hành vi phạm tội như trên.
Quá trình điều tra L khai dùng sống dao chém gây thương tích cho anh L ở má trái, vành tai trái và đầu. Tuy nhiên, kết quả điều tra xác định thương tích ở má trái, vành tai trái và đầu các vết thương này có bờ mép gọn và do vật sắc tác động gây nên. Vì vậy có đủ căn cứ xác định các thương tích nêu trên của anh Trần Văn L1 là do Nguyễn Đức L dùng phần lưỡi dao gây ra.
Vật chứng:
- Thu giữ tại hiện trường 01 cây kéo có đầu hơi cong dài khoảng 20cm, cán được bọc ống nhựa màu đen là hung khí Nguyễn Đức L dùng gây thương tích cho anh Trần Văn L1.
- Đối với 02 con dao gồm: 01 con dao dài khoảng 60cm lưỡi dao dài khoảng 40cm mũi dao tù và 01 con dao tự chế dài khoảng 1,5m, mũi dao dài khoảng 10cm được gắn vào ống tuýp sắt dài 1,4m do L mang theo sử dụng gây thương tích cho anh L1, sau khi gây án, trên đường đi L đã vứt xuống cầu S nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.
* Biên bản thu giữ và trích xuất hình ảnh Camera ngày 27/01/2023 xác định: Đinh Duy N điều khiển xe mô tô chở Nguyễn Đức L mang theo dao đến. L cầm dao đi đến chỗ anh Trần Đức L2 chém gây thương tích cho anh L2.
* Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 0044/TgT/2023 ngày 30/01/2023 của Trung tâm pháp y - Sở Y, kết luận Trần Văn L1 bị tổn thương như sau:
- - Tổn thương xuất huyết khoang dưới nhện đã điều trị hiện không còn hình ảnh xuất huyết. Tỷ lệ: 08%
- - Sẹo đỉnh trái kích thước 5,5x0,2cm: 02%
- - Sẹo má trái kích thước 04x0,4cm. Tỷ lệ: 06%
- - Sẹo vành tai trái kích thước 5,8x0,2cm; không co rúm vành tai. Tỷ lệ: 03%
- - Sẹo cánh tay phải kích thước 01x0,2cm. Tỷ lệ: 01%
Kết luận: Căn cứ Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019, của Bộ Y1 Quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Trần Văn L1 - 1984 áp dụng theo phương pháp cộng tại thông tư là: 19% (Mười chín phần trăm). Thương tích đầu mặt và tai trái: Vật sắc. Thương tích cánh tay phải: Vật sắc nhọn.
* Tại bản kết luận giám định pháp tổn thương cơ thể qua hồ sơ số 0204/KLTgTHS-TTPYĐN ngày 05/4/2023 của Trung tâm pháp y – Sở Y, kết luận cơ chế hình thành vết thương của anh Trần Văn L1 như sau:
- - Vết thương để lại sẹo đỉnh trái kích thước 5,5x0,2cm; bờ mép gọn, xuất huyết khoang dưới nhện trán trái ít. Tổn thương này do vật sắc tác động vào vùng đỉnh trái với lực vừa đủ theo hướng từ trái qua phải, từ trên xuống dưới gây nên.
- - Vết thương để lại sẹo má trái kích thước 04x0,4cm; bờ mép gọn. Tổn thương này do vật sắc tác động vào vùng má trái với lực vừa đủ theo hướng từ trái qua phải, từ trước ra sau gây nên.
- - Vết thương để lại sẹo vành tai trái (cả mặt trước và mặt sau) kích thước 5,8x0,2cm. Tổn thương này do vật sắc nhọn tác động vào vùng mặt ngoài 1/3 giữa cánh tay phải với lực vừa đủ theo hướng từ phải qua trái, từ ngoài vào trong gây nên.
- - Nạn nhân vào viện trong tình trạng tỉnh táo, tiếp xúc tốt, Glasgow 15 điểm, xuất huyết khoang dưới nhện trán trái ít, không tổn thương nhu mô não nên thuộc cấp cứu trì hoãn, vì vậy ngay lập tức không nguy hại đến tính mạng của nạn nhân.
Về trách nhiệm dân sự: Anh L1 yêu cầu Trần Đức L3 và Đinh Duy N liên đới bồi thường cho anh L1 số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng) chi phí điều trị. L3, N chưa bồi thường cho anh L1. (Bút lục số: 68).
Tại cáo trạng số: 690/CT/VKS-HS ngày 15 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố Nguyễn Đức L phạm tội “Cố ý gây thương tích”, theo quy định điểm a, i khoản 1, điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa trong phần tranh luận vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, i khoản 1, điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo với mức án từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại đã rút yêu cầu nên không đề cập đến.
Về án phí: Bị cáo nộp án phí theo quy định.
Bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì đối với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Trong lời nói sau cùng bị cáo đã nhận thức rõ về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm được trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp, nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
[1.2] Bị hại anh Trần Văn L1 có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa. Quá trình điều tra đã có đầy đủ lời khai của bị hại. Xét thấy, việc vắng mặt anh L1 không ảnh hưởng đến việc xét xử, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị hại.
[2] Về nội dung vụ án, tội danh và áp dụng điều luật:
Quá trình điều tra bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai trong biên bản hỏi cung bị can, kết luận giám định, biên bản ghi lời khai của bị hại cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng 16 giờ ngày 12/12/2022, trong lúc Nguyễn Đức L đang ăn nhậu với Đinh Duy N thì Lâm nghĩ lại chuyện trước đó L nhờ người hỏi anh Trần Văn L1 về việc cho L bán trái cây bên cạnh sạp hàng trái cây của anh L1 nhưng anh L1 không đồng ý nên L nảy sinh ý định đánh anh L1 để trả thù. L sử dụng 01 con dao dài khoảng 60cm lưỡi dao dài khoảng 40cm mũi dao tù và 01 con dao tự chế dài khoảng 1,5m, mũi dao dài khoảng 10cm được gắn vào ống tuýp sắt dài 1,4m (dao phóng lợn) và nhờ Đinh Duy N chở L đến trước số nhà A, tổ A, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai để đánh anh L1. Khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, khi cả hai đến sạp bán hàng của anh L1, thì L dùng con dao mang theo và 01 cây kéo sắt (lấy tại sạp hàng của anh L1) dài khoảng 20cm dùng chém, đâm gây thương tích cho anh L1 với tỷ lệ tổn thương cơ thể 19% (mười chín phần trăm).
[3] Về tính chất mức độ hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của công dân được pháp luật bảo vệ, làm mất an ninh trật tự, gây bất bình cho quần chúng nhân dân tại địa phương. Bị cáo là người đã trưởng thành nên có đủ nhận biết hành vi vi phạm pháp luật. Tuy giữa bị cáo và bị hại không có mâu thuẫn, thù hằn từ trước nhưng bị cáo đã liên tiếp dùng dao và kéo chém, đâm, gây thương tích cho anh L1 với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 19%. Hành vi dùng hung khí nguy hiểm để gây thương tích cho bị hại của bị cáo thể hiện tính chất hung hãn, côn đồ. Bị cáo có nhân thân xấu, có tiền án, tiền sự nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân mà còn thực hiện hành vi phạm tội, điều đó thể hiện thái độ xem thường pháp luật. Do đó, cần thiết xử phạt bị cáo một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, cải tạo giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Vai trò của bị cáo trong vụ án, nhận thấy: Đây là vụ án đồng phạm do bị cáo Nguyễn Đức L cùng Nguyễn Duy N1 thực hiện. Trong đó: Nguyễn Đức L là người rủ rê và thực hiện tích cực hành vi gây thương tích. Nguyễn Duy N1 là người thực hiện hành vi gây thương tích với vai trò chở L đi gây án và cầm hung khí đứng gần giúp sức tinh thần cho L đánh bị hại. Do đó, Hội đồng xét xử xác định bị cáo L có vai trò chính và cần có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội.
Từ những nhận định trên, xét về tính chất, mức độ nguy hiểm, vai trò, hậu quả của hành vi phạm tội gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo cũng như yêu cầu của việc đấu tranh phòng chống tội phạm, Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo để đảm bảo sự nghiêm minh của phát luật và giáo dục, răn đe phòng ngừa chung đồng thời xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo để thể hiện tính nhân đạo và sự khoan hồng của pháp luật Nhà nước ta.
[5] Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 01 cây kéo có đầu hơi cong dài khoảng 20cm, cán được bọc ống nhựa màu đen là hung khí Nguyễn Đức L dùng gây thương tích cho anh Trần Văn L1.
Đối với 02 con dao gồm: 01 con dao dài khoảng 60cm lưỡi dao dài khoảng 40cm mũi dao tù và 01 con dao tự chế dài khoảng 1,5m, mũi dao dài khoảng 10cm được gắn vào ống tuýp sắt dài 1,4m do L mang theo sử dụng gây thương tích cho anh L1, sau khi gây án, trên đường đi L đã vứt xuống cầu S Cơ quan điều tra không thu giữ được nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về bồi thường dân sự: Anh Trần Văn L1 đã rút yêu cầu bồi thường nên không đặt ra xem xét.
[7] Các vấn đề khác:
Đối với Đinh Duy N, hiện đã bỏ trốn. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã khởi tố bị can và ra lệnh truy nã, ra Quyết định tạm đình chỉ vụ án đối với bị can khi nào bắt được sẽ xử lý sau.
[8] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[9] Đối với phần trình bày và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tại phiên tòa, xét thấy phù hợp với những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi quyết định về vụ án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a, i khoản 1, điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015;
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức L phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức L 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày ngày 28/6/2023.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ 01 cây kéo có đầu hơi cong dài khoảng 20cm, cán được bọc ống nhựa màu đen là hung khí Nguyễn Đức L dùng gây thương tích cho anh Trần Văn L1.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 02/01/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai).
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Nguyễn Đức L phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Bị cáo được kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thành Thị Thu Trang |
Bản án số 07/2024/HS-ST ngày 04/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 07/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/01/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị cáo phạm tội có ý gây thương tích
