|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 07/2024/DS-ST
Ngày 03-7-2024
V/v tranh chấp Hợp đồng vay tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Bích Phượng
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Phạm Thị Yến
- Bà Nguyễn Minh Hằng.
- - Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Thu Trang - Thư ký Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng
- - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 43/2023/TLST-DS ngày 22 tháng 11 năm 2023 về tranh chấp Hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2024/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 3 năm 2024; Thông báo thay đổi thời gian xét xử số 256/TB-TA ngày 16 tháng 4 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2024/QĐST- DS ngày 07 tháng 5 năm 2024; Thông báo về việch thay đổi lịch phiên tòa số 16/TB-TA ngày 05 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn D; địa chỉ: Tổ A, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; có mặt.
- - Bị đơn:
- Chị Đào Thị Khánh H; địa chỉ: Số B đường B, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Anh Trần Hữu T; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn N, xã L, tỉnh Hà Nam; nơi ở hiện tại: Số G đường P, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng. vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 19 tháng 6 năm 2023, bản tự khai ngày 23 tháng 5 năm 2024 quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn là anh Nguyễn Văn D (viết tắt anh D) trình bày:
Do có quen biết là bạn bè, nên ngày 01/8/2017, anh D đã cho vợ chồng chị Đào Thị Khánh H và anh Trần Hữu T (viết tắt chị H, anh T) ký Giấy vay tiền số tiền vay: 250.000.000 đồng; thời hạn vay: Từ 01/8/2017 đến ngày 25/3/2018; lãi suất: Thỏa thuận theo lãi suất của Ngân hàng V, trước đó có thỏa thuận 4.000.000 đồng/ tháng tiền lãi không bao gồm vào gốc. Quá trình thực hiện hợp đồng vay, anh D đã giao tiền cho chị H, anh T, tuy không viết giấy bàn giao nhận tiền, nhưng chị H và anh T đều khẳng định đã nhận đủ số tiền là 250.000.000 đồng từ tay anh D. Quá trình cho vay chị H và anh T cũng chưa trả cho anh D tiền lãi nào.
Đến ngày 26/6/2018, anh D được biết giữa chị H và anh T đã ly hôn tại Quyết định số 127/2018/QĐST-HNGĐ ngày 26/6/2018 của Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng. Ngày 08/01/2019, anh T và chị H viết Giấy vay tiền xác nhận có vay khoản tiền trên của anh D. Nhưng tại giấy vay tiền thỏa thuận về khoản tiền này sẽ do chị H trả tiền gốc và tiền lãi hàng tháng cho anh D. Trường hợp chị H không trả được cho anh D thì anh T sẽ có trách nhiệm trả toàn bộ số tiền và tiền lãi Ngân hàng và cam kết sẽ trả hết vào ngày 30/6/2019. Nhưng từ thời điểm đó cho đến nay chị H và anh T cũng không trả nợ được cho anh D theo cam kết. Mặc dù, anh D đã nhiều lần đôn đốc yêu cầu chị H và anh T trả nợ nhưng chị H và anh T khất nần nhiều lần nhưng không trả nợ. Tính từ thời điểm cho vay đến nay, chị H và anh T mới chỉ trả được cho anh D, cụ thể tiền lãi tính từ ngày 01/9/2017 đến ngày 01/4/2019 là 40.000.000 đồng. Kể từ ngày 02/4/2019 đến nay chị H và anh T đã vi phạm nghĩa vụ như đã cam kết. Nay để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp, nên anh Nguyễn Văn D khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết:
- Buộc chị Đào Thị Khánh H và anh Trần Hữu T phải trả cho anh Nguyễn Văn D theo Giấy vay tiền ngày 01/8/2017 với tổng số tiền là 381.438.356 đồng; cụ thể: Nợ gốc 250.000.000 đồng; Nợ lãi tính từ ngày 02/4/2019 cho đến xét xử ngày 03/7/2024 là 1919 ngày x 10%/năm : 365 = 131.438.356 đồng;
- Buộc chị Đào Thị Khánh H và anh Trần Hữu T phải trả lãi phát sinh kể từ ngày 04/7/2024 cho đến khi thanh toán hết khoản nợ.
- Về án phí: Bị đơn phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
* Quá trình giải quyết vụ án, tại bản tự khai ngày 24/01/2024, đơn trình bày ngày 27/5/2024 bị đơn chị Đào Khánh H trình bày:
Chị H xác nhận, do chị và anh D là chỗ quen biết nên ngày 01/8/2017, chị H và chồng là anh T đã ký Giấy vay tiền để vay tiền anh Nguyễn Văn D với số tiền là 250.000.000 đồng; mục đích vay: Sửa chữa nhà ở; thời hạn vay: Từ 01/8/2017 đến ngày 25/3/2018. Do là chỗ thân thiết nên anh D không lấy lãi. Khi vay chị H có
hẹn đến ngày 25/3/2018, chị và anh T sẽ trả cho anh D. Tuy nhiên, do làm ăn khó khăn, bị vỡ nợ nên, chị H không trả được cho anh D theo đúng cam kết. Tính từ thời điểm vay cho đến nay, chị H xác nhận đã trả số tiền lãi tính từ ngày 01/9/2017 đến ngày 01/4/2019 cho anh với tổng số tiền 40.000.000 đồng như anh D khai là đúng.
Đến năm 2018, do cuộc sống chung vợ chồng không có hạnh phúc nên chị H và anh T đã ly hôn tại Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng tại Quyết định số 127/2018/QĐST-HNGĐ. Đến ngày 08/01/2019, anh T viết Giấy vay tiền xác nhận có vay của anh Doanh số tiền 250.000.000 đồng và ngày 10 hàng tháng sẽ trả tiền lãi theo lãi suất Ngân hàng cho anh D 5.000.000 đồng tiền gốc và khoản nợ này sẽ do chị H có nghĩa vụ trả nợ cho anh D. Nhưng cả chị H và anh T đều không trả nợ được cho anh D. Nay do kinh tế khó khăn và hiện tại chị H đang bị ung thư không có điều kiện trả nợ cho anh D. Nên anh D có đơn khởi kiện tại Tòa án, chị H xác nhận khoản nợ trên là đúng và đề nghị anh D tạo điều kiện để chị trả nợ với lộ trình như sau: Từ tháng 3/2024 đến tháng 9/2024, mỗi tháng bị đơn trả cho nguyên đơn 10.000.000 đồng/ tháng; từ tháng 10/2024, mỗi tháng bị đơn sẽ trả cho nguyên đơn 20.000.000 đồng/tháng; đến tháng 02/2025 chị H và anh T sẽ tất toán nợ gốc 80.000.000 đồng và xin nguyên đơn miễn lãi phát sinh.
* Tại biên bản lấy lời khai ngày 24/01/2024 anh Trần Hữu T trình bày như sau:
Năm 2017, anh và chị H có vay của anh Doanh số tiền 250.000.000 đồng để sửa nhà. Thời điểm vay, anh T và chị H vẫn còn là vợ chồng. Sau khi anh D đồng ý cho vay, anh T và chị H đã nhận đủ số tiền 250.000.000 đồng. Do mối quan hệ bạn bè nên anh D không lấy lãi. Khi vay anh T và chị H cam kết đến ngày 25/3/2018 sẽ trả hết nợ cho anh D. Nhưng sau đó anh và chị H đã không thực hiện nghĩa vụ như đã cam kết. Ngày 26/6/2018, do cuộc sống chúng không có hạnh phúc nên anh và chị H ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 127/2018/QĐST-HNGĐ ngày 26/6/2018 của Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng. Tuy nhiên, sau đó đến ngày 08/01/2019 giữa anh T viết Giấy vay tiền xác nhận có vay của anh D. Nhưng tại giấy vay tiền anh T thỏa thuận về khoản tiền vay này sẽ do chị H trả tiền gốc và tiền lãi hàng tháng cho anh D. Trường hợp chị H không trả được cho anh D thì anh T sẽ có trách nhiệm trả toàn bộ số tiền và tiền lãi Ngân hàng và cam kết sẽ trả hết vào ngày 30/6/2019. Mặc dù cam kết anh T và chị H cũng không trả nợ được cho anh D. Anh T xác nhận tính từ thời điểm vay cho đến nay, anh và chị H đã trả số tiền lãi tính từ ngày 01/9/2017 đến ngày 01/4/2019 cho anh D với tổng số tiền 40.000.000 đồng. Nay anh D có đơn khởi kiện anh T xác nhận khoản nợ như trên là đúng và đề nghị được trả nợ với lộ trình như sau: Từ tháng 3/2024 đến tháng 9/2024, mỗi tháng bị đơn trả cho nguyên đơn 10.000.000 đồng/ tháng; từ tháng 10/2024, mỗi tháng bị đơn sẽ trả cho nguyên đơnn 20.000.000 đồng/ tháng; đến tháng 02/2025 anh T và chị H sẽ tất toán nợ gốc 80.000.000 đồng và đề nghị xin miễn toàn bộ lãi phát sinh.
Tại phiên tòa:
* Bị đơn chị Đào Thị Khánh H và anh Trần Hữu T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2024/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 3 năm 2024; Thông báo thay đổi thời gian xét xử số 256/TB-TA ngày 16 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số ngày 16/5/2024. Chị H, anh T vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, tại hồ sơ đã có lời khai chủ tọa công bố lời khai của chị Đào Thị Khánh H và anh Trần Hữu T.
Đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- - Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký là đúng quy định của pháp luật; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật; bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ, không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án.
- - Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu do đương sự cung cấp và chứng cứ do Tòa án thu thập chứng cứ trên cơ sở tranh tụng tại phiên tòa. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 463, 465, 466, 468, 470 của Bộ luật dân sự; Điều 27, 37 Luật Hôn nhân gia đình; Nghị quyết 01/2019 ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất và phạt vi phạm; căn cứ khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc chị Đào Thị Khánh H và anh Trần Hữu T phải liên đới trả cho anh Nguyễn Văn D khoản tiền theo Giấy vay tiền ngày 01/8/2017 với tổng số tiền là 381.438.356 đồng; cụ thể: Nợ gốc 250.000.000 đồng; Nợ lãi tính từ ngày 02/4/2019 cho đến xét xử ngày 03/7/2024 là 1919 ngày x 10%/năm : 365 = 131.438.356 đồng; Về án phí: Bị đơn phải nộp án phí theo quy định của pháp luật; hoàn trả lại cho anh Nguyễn Văn D số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 12.500.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
- - Về pháp luật tố tụng:
- + Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
- + Về thời hiệu khởi kiện:
- + Về sự vắng mặt của bị đơn:
- + Về việc áp dụng pháp luật:
- - Về pháp luật nội dung:
- + Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về khoản tiền nợ gốc:
- + Xét yêu cầu của nguyên đơn về thời điểm tính lãi:
- + Về án phí:
- + Về quyền kháng cáo:
[1] Nguyên đơn anh Nguyễn Văn D khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết buộc bị đơn chị Đào Thị Khánh H và anh Trần Hữu T phải trả số tiền nợ theo Giấy vay tiền đã ký kết. Quá trình giải quyết vụ án căn cứ vào các tài liệu đương sự cung cấp và Tòa án thu thập tài liệu chứng cứ, nên Hội đồng xét xử xác định đây là tranh chấp hợp đồng vay tài sản, bị đơn chị Đào Thị Khánh H và Trần Hữu T hiện đang cư trên địa bàn quận H, thành phố Hải Phòng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Tranh chấp giữa các bên trong vụ án là tranh chấp hợp đồng vay tài sản. Theo quy định của pháp luật thông qua giao dịch dân sự thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện; cũng như các bên đương sự không có ý kiến gì về yêu cầu áp dụng thời hiệu. Vì vậy, Hội đồng xét xử xác định vụ án thuộc trường hợp không áp dụng thời hiệu khởi kiện theo quy định tại khoản 2 Điều 184 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Tòa án đã triệu tập hợp lệ phiên tòa lần thứ hai nhưng bị đơn chị H và anh T vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn là chị Đào Thị Khánh H và anh Trần Hữu T theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[4] Ngày 01/8/2017, nguyên đơn và bị đơn đã giao kết hợp đồng vay tiền và lập thành văn bản “Giấy vay tiền”. Người tham gia ký kết hợp đồng có đủ năng lực hành vi dân sự, hoàn toàn tự nguyện; mục đích của Hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đực xã hội; phù hợp với quy định của pháp luật. Do vậy, Hợp đồng vay tài sản trên là trên là hợp pháp và làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên phù hợp với quy định tại các Điều 463, 465,466 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
[5] Nguyên đơn đã thực hiện xong hợp đồng, bàn giao toàn bộ số tiền vay theo như cam kết. Hai bên thống nhất thời điểm trả số tiền nợ gốc vào ngày 25/3/2018, đến thời điểm như đã cam kết, bị đơn không thực hiện, vi phạm nghĩa vụ thanh toán trả tiền cho nguyên đơn. Hội đồng xét xử xét, việc nguyên đơn khởi kiện yêu cầu chị Đào Thị Khánh H và anh Trần Hữu T phải có nghĩa vụ liên đới trả cho nguyên đơn số tiền gốc 250.000.000 đồng là có căn cứ, cần chấp nhận.
[6] Ngày 01/8/2017, anh D với chị H và anh T đều xác nhận đã giao kết hợp đồng vay tài sản. Nội dung trong giao dịch không xác định thời điểm tính lãi mà chỉ xác định phương thức tính lãi với mức 4.000.000 đồng/tháng. Hội đồng xét xử xét: Căn cứ Giấy vay tiền ngày 01/8/2017 đã được chị H và anh T và xác nhận thì thời điểm tính lãi phải được tính từ ngày 01/9/2017. Nguyên đơn và bị đơn đều xác nhận bị đơn đã thanh toán cho nguyên đơn số tiền lãi tính đến ngày 01/4/2019 là 40.000.000 đồng. Nguyên đơn yêu cầu thời điểm tính lãi từ ngày 02/4/2019 đến thời điểm xét xử là 1919 ngày. Nên chấp nhận yêu cầu về thời điểm tính lãi của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận.
[7] Về mức lãi suất: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải chịu tiền lãi là 10%/năm. Căn cứ Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015, xét yêu cầu của nguyên đơn phù hợp với quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Vì vậy, chị H và anh T phải có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho anh Doanh số tiền lãi phát sinh với mức 10%/năm, tính từ ngày 02/4/2019 cho đến xét xử ngày 03/7/2024 là 1919 ngày x 10%/năm : 365 = 131.438.356 đồng.
[8] Xét nghĩa vụ liên đới trả nợ cho nguyên đơn: Ngày 01/8/2017, chị H, anh T đều ký kết hợp đồng vay tài sản với anh D. Mặc dù, chị H và anh T đã ly hôn năm 2018. Nhưng phải xác định thời điểm vay của chị H và anh T là ngày 01/8/2017. Quá trình giải quyết tại Tòa án anh T cho rằng ngày 08/01/2019 giữa anh T và chị H thỏa thuận về khoản tiền này sẽ do chị H trả tiền gốc và tiền lãi hàng tháng cho anh D. Hội đồng xét xử xét: Thời điểm ngày 01/8/2017 thì chị H và anh T vẫn là vợ chồng hợp pháp “Tại khoản 1 Điều 27 của Luật Hôn nhân và gia đình “Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới...” là phù hợp với khoản 2 Điều 37 của Luật Hôn nhân và gia đình “ Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình”, nên không có căn cứ chấp nhận ý kiến của anh T nghĩa vụ trả nợ do một mình chị H. Vì vậy, buộc chị H và anh T phải có nghĩa vụ liên đới trả nợ cho anh Nguyễn Văn D.
[9] Xét yêu cầu của bị đơn chị H, anh T đề nghị anh D tạo điều kiện trả nợ về lộ trình, cũng như xin miễn toàn bộ lãi. Đề nghị của chị H và anh T không được anh Nguyễn Văn D đồng ý và không có căn cứ. Nên, Hội đồng xét xử không chấp nhận.
[10] Từ những phân tích và đánh giá như trên, Hội đồng xét xử xét thấy: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn chị Đào Thị Khánh H và anh Trần Hữu T phải liên đới trả cho anh Nguyễn Văn D khoản tiền theo Giấy vay tiền ngày 01/8/2017 đã ký kết.
[11] Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, nên bị đơn chị H và anh T phải liên đới chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm là [(381.438.356 đồng x 5%)] = 19.071.917 đồng theo quy định pháp luật.
Trả lại cho anh Nguyễn Văn D số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 12.500.000 (mười hai triệu, lăm trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0004929 ngày 20 tháng 11 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải An, thành phố Hải Phòng.
[12] Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ các điều 463, 465, 466, 468, 470 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 1 Điều 27; khoản 2 Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất và phạt vi phạm;
Căn cứ khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Q, xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn D. Buộc chị Đào Thị Khánh H và anh Trần Hữu T phải liên đới trả cho anh Nguyễn Văn D khoản tiền theo Giấy vay tiền ngày 01/8/2017 với tổng số tiền là 381.438.356 (ba trăm tám mươi mốt triệu, bốn trăm ba mươi tám nghìn, ba trăm lăm sáu) đồng; cụ thể: Nợ gốc 250.000.000 đồng; Nợ lãi tính từ ngày 02/4/2019 cho đến xét xử ngày 03/7/2024 là 1919 ngày x 10%/năm : 365 = 131.438.356 đồng;
- Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về án phí:
- Về quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Văn D được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Chị Đào Thị Khánh H và anh Trần Hữu T phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm là [(381.438.356 đồng x 5%)] = 19.071.917 (mười chín triệu, không trăm bảy mươi mốt nghìn, chín trăm mười bảy) đồng
Trả lại cho anh Nguyễn Văn D số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 12.500.000 (mười hai triệu, lăm trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0004929 ngày 20 tháng 11 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải An, thành phố Hải Phòng.
Chị Đào Thị Khánh H và anh Trần Hữu T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Bích Phượng |
Bản án số 07/2024/DS-ST ngày 03/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 07/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp Hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn D - Đào Thị Khánh H và anh Trần Hữu T
