Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUAN HÓA

TỈNH THANH HOÁ

Bản án số: 07/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 01/08/2024

V/v: “Xin ly hôn, nuôi con”

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUAN HÓA, TỈNH THANH HÓA

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ngô Thị Thanh

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông: Vi Ngọc Trung

2. Bà: Hà Thị Yến

Thư ký toà án ghi biên bản: Ông Nguyễn Văn Thành - Thư ký Toà án nhân dân huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Quan Hóa tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Dụ - Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 33/2024/TLST-HNGĐ, ngày 22 tháng 04 năm 2024 về việc xin ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 06 năm 2024; Quyết định Hoãn phiên tòa số: 01/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 07 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lò Thị H, sinh năm: 1983; (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)

- Bị đơn: Anh Trịnh Xuân N, sinh năm: 1970 (Vắng mặt không có lý do).

Đều có địa chỉ: Bản C, xã H, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, các tài liệu, chứng cứ thu thập được và đơn xin vắng mặt, nguyên đơn chị Lò Thị H trình bày:

* Về hôn nhân: Chị và anh N tự do tìm hiểu, không bị ai ép buộc, tự nguyện đến với nhau, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán truyền thống, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 09/04/2010. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc tại, hòa thuận tại bản Chại, xã H, huyện Q, được một thời gian. Đến khoảng năm 2016 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp, quan điểm sống khác nhau, dẫn đến không thông cảm được cho nhau trong cuộc sống, mặc dù được gia đình nội ngoại dàn xếp hòa giải nhưng tình hình vẫn không được cải thiện. Anh, chị hiện đã sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau. Từ khi sống ly thân, xét thấy không còn tình cảm vợ chồng. Chị thấy cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên nguyện vọng muốn được ly hôn.

* Về con chung: Anh và chị có 01 con chung, cháu tên là Trịnh Trung H1 (sinh ngày: 26/08/2010); hiện cháu đang sống cùng chị và bố mẹ đẻ của chị. Chị H mong muốn được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, dạy dỗ cháu và không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con chung.

* Về tài sản và công nợ: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án nhân dân huyện Quan Hoá đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Trịnh Xuân N nhưng anh N từ chối nhận các văn bản tố tụng và không ký biên bản giao nhận. Đồng thời anh N vắng mặt không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải cũng như xét xử, nên Toà án chỉ ghi nhận phần trình bày của anh Trịnh Xuân N thông qua bản tự khai như sau:

* Về Hôn nhân: Thời gian và điều kiện kết hôn, những mâu thuẫn gia đình như chị H trình bày là đúng. Trong thời gian chung sống vợ chồng có đôi lúc không hiểu nhau dẫn đến tính tình không hợp nhau nên không thông cảm cho nhau. Mâu thuẫn gia đình bắt đầu phát sinh từ năm 2016, mặc dù hiện tại vợ chồng sống ly thân nhưng anh thấy còn tình cảm vợ chồng với chị H nên anh không đồng ý ly hôn.

* Về con chung: Anh và chị có 01 con chung, cháu tên là Trịnh Trung H1 (sinh ngày: 26/08/2010); hiện cháu đang sống cùng chị H và bố mẹ của chị H. Anh thống nhất với nguyện vọng của cháu H1 trong việc lựa chọn người nuôi dưỡng.

* Về tài sản và nợ nần chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên toà, Đại diện VKS phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của đương sự và ý kiến về việc giải quyết vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà; sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án và ý kiến về việc giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Chị Lò Thị H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Trịnh Xuân N là tranh chấp theo quy định tại khoản 1 Điều 28 BLTTDS. Bị đơn hiện đang cư trú trên địa bàn huyện Q nên Tòa án nhân dân huyện Quan Hóa có thẩm quyền giải quyết vụ án theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình.

[2]. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Chị Lò Thị H vắng mặt nhưng có đơn yêu cầu Toà án xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Trịnh Xuân N đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để xét xử, nhưng anh vắng mặt không có lý do. Do đó việc đưa vụ án ra xét xử vắng mặt chị H, anh N là phù hợp với quy định tại Điều 227, 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3]. Về nội dung:

3.1. Về hôn nhân: Chị Lò Thị H và anh Trịnh Xuân N là hôn nhân hợp pháp. Bởi lẽ anh chị tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày ngày 09/04/2010 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa và thực hiện đầy đủ thủ tục kết hôn theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, hòa thuận tại bản Chại, xã H, huyện Q được một thời gian. Đến đầu năm 2016 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp, quan điểm sống khác nhau, dẫn đến không thông cảm được cho nhau trong cuộc sống, mặc dù được gia đình nội ngoại dàn xếp hòa giải nhưng tình hình vẫn không được cải thiện. Anh, chị sống ly thân không còn quan tâm đến nhau. Từ khi sống ly thân, xét thấy không còn tình cảm vợ chồng. Chị thấy cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên nguyện vọng muốn được ly hôn. Anh N cho rằng mâu thuẫn vợ chồng không lớn, có thể bỏ qua để cùng nhau tiếp tục xây dựng gia đình. Mặc dù vợ chồng sống ly thân nhưng anh thấy còn tình cảm với chị H nên anh không đồng ý ly hôn.

Xét nguyện vọng của các đương sự cũng như diễn biến giải quyết vụ án, HĐXX nhận thấy: Toà án đã tiến hành mời anh N tham gia hoà giải nhằm cho các bên có cơ hội hàn gắn tình cảm vợ chồng, nhưng anh N không đến. Điều đó cho thấy anh N không còn thiết tha đối với mối quan hệ hôn nhân với chị H, chứng tỏ hôn nhân giữa chị H và anh N đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị H yêu cầu ly hôn với anh N là có căn cứ. Do đó căn cứ theo quy định tại Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, HĐXX chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lò Thị H

3.2. Về con chung: Quá trình chung sống, anh N chị H có 01 con chung, cháu tên là Trịnh Trung H1 (sinh ngày: 26/08/2010); hiện cháu đang sống cùng chị H và bố mẹ đẻ của chị H. Anh N thống nhất với nguyện vọng của cháu H1 trong việc lựa chọn người nuôi dưỡng. Chị H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung, anh N không ý kiến gì về việc này.

Xét thấy, cháu Trịnh Trung H1 hiện đang ở cùng với chị Lò Thị H, được ông bà ngoại chăm sóc, nuôi dưỡng. Hiện nay cháu H1 đang có cuộc sống sinh hoạt ổn định. Đồng thời chị N có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu H1, anh N cũng thống nhất người nuôi dưỡng dựa trên nguyện vọng của cháu. Do đó, để đảm bảo quyền và lợi ích của con chung, căn cứ theo quy định Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, HĐXX giao Trịnh Trung H1 (sinh ngày: 26/08/2010) cho chị Lò Thị H tiếp tục nuôi dưỡng.

3.3. Về tài sản, công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.

[4]. Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa hôm nay về việc tuân theo pháp luật và chấp hành pháp luật của những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng và đề nghị đường lối giải quyết vụ án là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Tòa án nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5]. Về án phí hôn nhân sơ thẩm chị C Lò Thị H phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 68; khoản 4 Điều 147, 227, 228, 238 và Điều 273 BLTTDS;

Căn cứ: Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật HNGĐ;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Lò Thị H được ly hôn anh Trịnh Xuân N

- Về con chung: Giao con chung là cháu Trịnh Trung H1 (sinh ngày: 26/08/2010) cho chị Lò Thị H tiếp tục nuôi dưỡng

Chị Lò Thị H trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh N trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Anh Trịnh Xuân N không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ chăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con mà không ai được cản trở

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 và Điều 119 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Toà án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và quyết định việc thay đổi yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

- Án phí: Chị Lò Thị H phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0006495 ngày 22/04/2024 của Chi cục thi hành án dân huyện Quan Hoá, tỉnh Thanh Hoá.

Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt nguyên đơn, bị đơn. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ hoặc được niêm yết; Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND huyện Quan Hóa;
  • - CC.THADS huyện Quan Hóa;
  • - Nguyên đơn, bị đơn;
  • - UBND xã Hiền Chung, Quan Hóa;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Thị Thanh

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thành viên Hội đồng xét xử

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Vi Ngọc Trung

Lương Thị Diện

Ngô Thị T

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2024/HNGĐ-ST ngày 01/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUAN HÓA, TỈNH THANH HÓA về xin ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 07/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 01/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUAN HÓA, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lò Thị Huyến - Trịnh Xuân Nguyệt ly hon
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger