Hệ thống pháp luật
Bản án sơ thẩm

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Bích Vân

Thẩm phán: Bà Lê Thị Minh Trang

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Nguyễn Thị Mai Phượng
  2. Ông Trần Vinh Quang
  3. Ông Lê Thuận Bé

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoàng Dung – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Minh – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 24 và 25 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 07/2025/TLST – HS ngày 23 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2025/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 02năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Mai Công H, sinh năm 1985 tại tỉnh Hải Phòng. Tên gọi khác: Không. Nơi cư trú: HH25, đường A, KDC Công ty H7, khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Đăng kiểm viên phương tiện thủy nội địa Hạng 1; trình độ học vấn: 12/12; trình độ chuyên môn: Đại học; Đảng viên: Không; họ và tên cha: Mai Công D, sinh năm 1952 (còn sống); họ và tên mẹ: Nguyễn Thị B, sinh năm 1952 (còn sống); có vợ tên: Nguyễn Kim Đ; có 02 người con (sinh năm 2015 và năm 2021); anh, em ruột: Có 03 người (02 người anh và 01 người em); tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 20/4/2023 cho đến nay tại Trại tạm giam Công an thành phố C.

    * Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Nguyễn Thái T – Văn phòng L8, thuộc Đoàn Luật sư thành phố C.

  2. Họ và tên: Lương Duy L, sinh năm 1986 tại Hải Phòng. Tên gọi khác: Không. Nơi cư trú: Số E, hẻm A, liên tổ A, đường N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Đăng kiểm viên – Hạng 2; trình độ học vấn: 12/12; trình độ chuyên môn: Đại học; Đảng viên: Không; họ và tên cha: Lương Duy T1, sinh năm 1953 (còn sống); họ và tên mẹ: Đinh Thị H1, sinh năm 1959 (còn sống); vợ: Nguyễn Thị Mai H2; có 02 người con (sinh năm 2015 và năm 2019); anh, em ruột: Có 01 người (em); tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 26/12/2023 và tạm giam cho đến nay tại Trại tạm giam Công an thành phố C.

    * Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Nguyễn Minh T2 và Luật sư Hồ Thiếu T3 – Công ty L9 thuộc đoàn Luật sư thành phố C.

  3. Họ và tên: Vũ Văn H3, sinh năm 1983 tại Thái Bình. Tên gọi khác: Không. Nơi cư trú: 23 đường B, KDC I, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Đăng kiểm viên; trình độ học vấn: 12/12; trình độ chuyên môn: Đại học; Đảng viên: là Đảng viên, bị kỷ luật bàng hình thức khai trừ ra khỏi Đảng (theo quyết định số 396-QĐ/ĐU ngày 02/11/2023 của Ban); họ và tên cha: Vũ Văn T4, sinh năm 1958 (còn sống); họ và tên mẹ: Phan Thị N, sinh năm 1960 (còn sống); có vợ tên: Dương Bích N1; có 01 người con, sinh năm 2015; anh, em ruột: Có 01 người (anh); tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 21/6/2023 và tạm giam cho đến nay tại Trại tạm giam Công an thành phố C.

    * Người bào chữa cho bị cáo:

    • Luật sư Đào Xuân S - Công ty L10, thuộc đoàn Luật sư thành phố H.
    • Luật sư Nguyễn Quang T5 – Văn phòng Luật sư Nguyễn Quang T5 và Cộng sự, thuộc đoàn Luật sư thành phố H.
  4. Họ và tên: Đoàn Bá Q, sinh năm 1986 tại Hải Dương. Tên gọi khác: Không. Nơi cư trú: 2/33, khu vực B, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Đăng kiểm viên – Hạng 2; trình độ học vấn: 12/12; trình độ chuyên môn: Đại học; Đảng viên: là Đảng viên; họ và tên cha: Đoàn Bá Q1, sinh năm 1961 (còn sống); họ và tên mẹ: Vũ Thị T6, sinh năm 1961 (còn sống); có vợ tên: Phạm Thị Hải L1; có 02 người con (sinh năm 2014 và năm 2018); anh, em ruột: Có 01 người (Chị); tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 27/9/2023 và tạm giam cho đến nay tại Trại tạm giam Công an thành phố C.

    * Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Nguyễn Minh T2 – Công ty L9 thuộc đoàn Luật sư thành phố C.

  5. Họ và tên: Phòng Ngô Phú N2, sinh năm 1978 tại Vĩnh Long. Tên gọi khác: Không. Nơi cư trú: 515/140, đườngv 30/4, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Đăng kiểm viên; trình độ học vấn: 12/12; trình độ chuyên môn: Thạc sĩ; Đảng viên: Không; họ và tên cha: Phòng Văn P, sinh năm 1949 (còn sống); họ và tên mẹ: Ngô Thị T7, sinh năm 1951 (còn sống); có vợ tên: Lục Thảo Vĩ A; có 03 người con (sinh năm 2007, năm 2011 và năm 2020); anh, em ruột: Có 01 người (Chị); tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 26/12/2023 và tạm giam cho đến nay tại Trại tạm giam Công an thành phố C.

    * Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Phạm Phong N3 – Công ty TNHH MTV S3, thuộc đoàn Luật sư tỉnh B.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Chi cục đăng kiểm số H8.

    Địa chỉ: A đường N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.

    Người đại diện theo pháp luật: Ông Trương Hoàng L2, chức vụ: Giám đốc;

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Ngọc T8, chức vụ: Phó giám đốc (theo văn bản ủy quyền ngày 24/3/2025).

  2. Bà Nguyễn Kim Đ, sinh năm 1987.

    Địa chỉ: H, đường A, KDC Công ty H7, khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ.

  3. Bà Dương Bích N1, sinh năm 1985.

    Nơi cư trú: 23 đường B, KDC I, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ;

    Địa chỉ hiện nay: A L, xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.

  4. Bà Nguyễn Thị Mai H2.

    Địa chỉ: Số E, hẻm A, liên tổ A, đường N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.

  5. Bà Lục Thảo Vĩ A, sinh năm 1979.

    Địa chỉ: 5, đường V, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ.

  6. Bà Phạm Thị Hải L1.

    Địa chỉ: 2, khu vực B, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ.

* Người làm chứng:

  1. Ông Phạm Ngọc S1, sinh năm 1986. (Có mặt)

    Nơi cư trú: Ấp Đ, T, thành phố N, tỉnh Hậu Giang.

  2. Ông Lữ Quốc S2, sinh năm 1985. (Có mặt)

    Nơi cư trú: Ấp C, xã M, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.

  3. Bà Nguyễn Thị Thanh T9, sinh năm 1982. (Có mặt)

    Nơi cư trú: Số B, đường Đ, phường C, quận A, thành phố Hồ Chí Minh.

    Chỗ ở: A34, KDC X, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ.

  4. Ông Trần Quốc P1, sinh năm 1974. (Có mặt)

    Địa chỉ: Số B Đ, phường A, quận B, thành phố Cần Thơ.

  5. Ông Nguyễn Lê Tiến D1, sinh năm 1978. (Có mặt)

    Địa chỉ: Q đường số E, KDC Công ty H, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ.

  6. Ông Tào Vĩnh T10, sinh năm 1985. (Vắng mặt)

    Nơi cư trú: Ấp N, thị trấn H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.

  7. Bà Lại Thị Bích P2, sinh năm 1973. (Có đơn xét xử vắng mặt)

    Nơi cư trú: 103 đường H, ấp H, xã H, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

  8. Ông Nguyễn Tất C, sinh năm 1968. (Vắng mặt)

    Nơi cư trú: Tổ H, ấp C, M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

  9. Ông Nguyễn Văn Â, sinh năm 1990. (Vắng mặt)

    Nơi cư trú: C N, B, TP L, tỉnh An Giang.

  10. Ông Nguyễn Soài T11, sinh năm 1988. (Vắng mặt)

    Nơi cư trú: 26/1, đường L, Khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang.

  11. Bà Võ Thị Hồng T12, sinh năm 1987. (Vắng mặt)

    Nơi cư trú: 32 đường H, xã M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

  12. Bà Dương Thị Đ1, sinh năm 1967. (Vắng mặt)

    Nơi cư trú: Số G ấp B, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.

  13. Ông Dương Chí T13, sinh năm 1968. (Vắng mặt)

    Nơi cư trú: số A Chung cư L, đường L, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ.

  14. Ông Trần Hớn Q2, sinh năm 1983. (Có đơn xét xử vắng mặt)

    Nơi cư trú: Khóm A, thị trấn C, huyện T, tỉnh Trà Vinh.

  15. Bà Phạm Thị Bé D2, sinh năm 1985. (Vắng mặt)

    Nơi cư trú: Số D ấp M, thị trấn C, huyện P, tỉnh Hậu Giang.

  16. Bà Nguyễn Thị L3, sinh năm 1969. (Vắng mặt)

    Nơi cư trú: Số F đường số H, KDC H, quận C, thành phố Cần Thơ.

  17. Bà Trần Hoàng A1, sinh năm 1984. (Vắng mặt)

    Nơi cư trú: Ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang.

  18. Ông Trương Hoàng V, sinh năm 1979. (Vắng mặt)

    Nơi cư trú: Số C ấp P, xã P, huyện P, tỉnh Hậu Giang.

  19. Ông Dương Trúc L4, sinh năm 1961. (Có đơn xét xử vắng mặt)

    Nơi cư trú: Số A T, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ.

  20. Ông Thái C1, sinh năm 1988. (Vắng mặt)

    Nơi cư trú: Y40 Lê Tấn Q3, KDC Công ty H, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ.

  21. Bà Trần Thu T14, sinh năm 1968. (Có đơn xét xử vắng mặt)

    Nơi cư trú: C đường N, khu V, phường C, quận N, thành phố Cần Thơ.

  22. Ông Trương Hậu G, sinh năm 1985. (Vắng mặt)

    Nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.

  23. Ông Nguyễn Thanh T15, sinh năm 1967. (Vắng mặt)

    Nơi cư trú: 107/60/80 đường H, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.

  24. Bà Nguyễn Thị Bé L5, sinh năm 1976. (Vắng mặt)

    Nơi cư trú: B đường V, khu vực T, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ.

  25. Bà Nguyễn Thị Hồng N4, sinh năm 1977. (Vắng mặt)

    Nơi cư trú: F đường P, phường C, quận N, thành phố Cần Thơ.

  26. Bà Nguyễn Thị Á, sinh năm 1963. (Vắng mặt)

    Nơi cư trú: 557 ấp A, xã T, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.

  27. Ông Phạm Văn T16, sinh năm 1984. (Vắng mặt)

    Nơi cư trú: Ấp Q, xã H, huyện P, tỉnh Hậu Giang.

  28. Bà Ngụy Thái H4, sinh năm 1978. (Có đơn xét xử vắng mặt)

    Nơi cư trú: Số D, đường C, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ.

  29. Nguyễn Cẩm D3, sinh năm 1985. (Có đơn xét xử vắng mặt)

    Nơi cư trú: 221, tổ 4, đường Cái Sơn Hàng Bàng, phường An Bình, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

    Chỗ ở: 192A/Cg, khu vực Bình Phó B, phường Long Tuyền, quận Bình Thủy, thành phố cần Thơ.

  30. Ông Nguyễn Văn N5, sinh năm 1998. (Vắng mặt)

    Nơi cư trú: Ấp T, xã T, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.

  31. Ông Nguyễn Văn T17, sinh năm 1961. (Có đơn xét xử vắng mặt)

    Nơi cư trú: Số A, khóm B, phường C, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.

  32. Ông Nguyễn Văn L6, sinh năm 1974. (Có đơn xét xử vắng mặt)

    Nơi cư trú: Khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.

  33. Ông Phạm Hữu D4, sinh năm 1963. (Vắng mặt)

    Nơi cư trú: Khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.

  34. Ông Lâm Văn T18, sinh năm 1966. (Có đơn xét xử vắng mặt)

    Nơi cư trú: 590 đường T, Khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.

  35. Bà Nguyễn Ngọc D5, sinh năm 1989. (Vắng mặt)

    Nơi cư trú: 136 khu vực T, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ.

  36. Ông Đào Đức Đ2, sinh năm 1966. (Có đơn xét xử vắng mặt)

    Địa chỉ: D N, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ.

  37. Ông Nguyễn Anh K, sinh năm 1980. (Có đơn xét xử vắng mặt)

    Địa chỉ: Số F M, phường T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.

  38. Ông Nguyễn Văn T19, sinh năm 1989. (Vắng mặt)

    Địa chỉ: Tổ D, ấp A, xã V, thị xã T, tỉnh An Giang.

  39. Ông Trần Văn H5, sinh năm 1979. (Vắng mặt)

    Địa chỉ: Tổ C, M, M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

  40. Ông Lâm Thanh H6, sinh năm 1997. (Vắng mặt)

    Địa chỉ: Ấp B, Hồ Thị K1, T, tỉnh Cà Mau.

  41. Ông Võ Hữu T20, sinh năm 1988. (Vắng mặt)

    Địa chỉ: Số A ấp C, xã Đ, thành phố N, tỉnh Hậu Giang.

  42. Ông Đoàn Văn L7, sinh năm 1959. (Có đơn xét xử vắng mặt)

    Địa chỉ: D, khóm A, Phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.

  43. Bà Đặng Thị Trúc P3, sinh năm 1992. (Vắng mặt)

    Địa chỉ: Khu V, phường T, thị xã L, tỉnh Hậu Giang.

  44. Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1991. (Vắng mặt)

    Địa chỉ: Khu phố E, phường I, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chi cục Đăng kiểm số H8 có trụ sở tại số A đường N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ thuộc Cục, có nhiệm vụ tham mưu cho Cục thực hiện quản lý Nhà nước về đăng kiểm đối với phương tiện giao thông vận tải đường thủy nội địa, thiết bị thăm dò, khai thác, vận chuyển trên biển, máy, thiết bị vật tư có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động; tổ chức thực hiện công tác đăng kiểm về an toàn kỹ thuật, bảo vệ môi trường, an toàn lao động đối với các loại phương tiện trên địa bàn thành phố Cần Thơ, tỉnh Đồng Tháp, tỉnh Hậu Giang và khu vực khác khi được Cục trưởng phân công.

Ngày 17/10/2017, Mai Công H và Vũ Văn H3 được Cục cấp giấy chứng nhận đăng kiểm phương tiện thủy nội địa hạng II, đến ngày 23/11/2022, H và H3 được cấp chứng nhận hạng I, chuyên ngành Vỏ tàu;

Ngày 18/12/2017, Đoàn Bá Q được Cục cấp giấy chứng nhận đăng kiểm phương tiện thủy nội địa hạng II, ngày 20/8/2018 và ngày 17/8/2023 được cấp chứng nhận hạng I, chuyên ngành Máy tàu.

Ngày 27/10/2015, Lương Duy L được Cục cấp giấy chứng nhận đăng kiểm phương tiện thủy nội địa hạng III, ngày 23/11/2022, được cấp chứng nhận hạng II, chuyên ngành Máy tàu.

Ngày 17/10/2017, Phòng Ngô Phú N2 được Cục cấp giấy chứng nhận đăng kiểm phương tiện thủy nội địa hạng II, ngày 23/11/2022, được cấp chứng nhận hạng I, chuyên ngành Vỏ tàu.

Các đăng kiểm viên Mai Công H, Lương Duy L, Đoàn Bá Q, Vũ Văn H3, Phòng Ngô Phú N2 được giao nhiệm vụ trực tiếp thực hiện kiểm tra các phương tiện thủy nội địa theo yêu cầu của các chủ phương tiện, lập biên bản kiểm tra theo loại hình kiểm tra: định kỳ, trên đà, hàng năm, bất thường, hoán cải,... để tham mưu lãnh đạo Chi cục Đăng kiểm số H8 ký cấp Giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện thủy nội địa.

Theo quy định, khi cần kiểm tra an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện thủy nội địa, khách hàng là chủ phương tiện hoặc người do chủ phương tiện nhờ thực hiện sẽ điện thoại hoặc gửi hồ sơ trực tiếp đến Chi cục đăng kiểm 8 đăng ký, bộ phận tiếp nhận trình lãnh đạo phân công đăng kiểm viên thực hiện. Đối với phương tiện không trang bị máy tàu sẽ phân công một đăng kiểm viên vỏ tàu, đối với phương tiện có trang bị máy móc, thiết bị sẽ phân công một đăng kiểm viên vỏ tàu và một đăng kiểm viên máy tàu thực hiện nhiệm vụ. Tiếp theo Đăng kiểm viên đến địa điểm phương tiện để kiểm tra, lập biên bản kiểm tra hiện trường, việc kiểm tra phải được đo đạc, chụp ảnh nội dung kiểm tra. Kết quả kiểm tra đạt, đăng kiểm viên lập hồ sơ kết quả kiểm tra trình lãnh đạo chi cục duyệt, khi được duyệt đăng kiểm viên nhập thông tin giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện thủy nội địa trình lãnh đạo ký phát hành. Kết quả không đạt đăng kiểm viên sẽ lập biên bản ghi nhận tồn tại, yêu cầu chủ phương tiện sửa chữa và thực hiện kiểm tra lại. Sau khi kiểm tra phương tiện đạt, Đăng kiểm V1 tổng hợp các nội dung kiểm tra và nhập vào phần mềm tính chi phí chuyển đến lãnh đạo chi cục phê duyệt, sau đó chuyển đến bộ phận tài chính chi cục kiểm tra xuất hóa đơn giá trị gia tăng cho khách hàng. Đối với phương tiện đóng mới, hoán cải phí đăng kiểm dựa trên hợp đồng giám sát đóng mới để tạm tính chi phí đăng kiểm và khách hàng đóng trước 30% giá tạm tính, phần còn lại khách hàng đóng sau khi hoàn thành đóng mới, hoán cải. Phí đăng kiểm khách hàng chuyển khoản vào tài khoản của chi cục hoặc đến đóng trực tiếp bộ phận tài chính của chi cục.

Khi thực hiện nhiệm vụ, H, H3, Q, L và N2 không thực hiện đúng quy trình, thủ tục. Nhiều trường hợp H, H3, Q, L và N2 sử dụng điện thoại cá nhân để trao đổi với khách hàng và tiến hành kiểm tra phương tiện trước, sau đó báo cáo lãnh đạo chi cục phân công để nhằm hợp thức hóa hồ sơ, bỏ qua các lỗi như thiếu neo mũi, ống nước làm mát máy có một đoạn được làm bằng nhựa (theo quy định phải làm bằng kim loại), thiếu số lượng các thiết bị phao cứu sinh, cứu hộ, bình chữa cháy hoặc bình chữa cháy hết thời hạn, không có thiết bị đo nghiêng, không làm thủ tục hoán cải theo quy định, không kiểm tra trực tiếp phương tiện thủy khi kiểm tra (hướng dẫn cách chụp hình và yêu cầu chủ phương tiện hoặc đại diện chủ phương tiện chụp hình gửi qua zalo để lưu hồ sơ)... nhiều trường hợp không trực tiếp đi kiểm tra, nhằm giải quyết nhanh, kiểm tra đạt theo nhu cầu của khách hàng. Sau khi hoàn tất thủ tục kiểm tra, H, H3, Q, L và N2 tự tính tiền gồm chi phí đăng kiểm, các chi phí khác theo quy định và tiền chi phí ngoài quy định, khách hàng phải đưa cho H, H3, Q, L và N2 gửi cho khách hàng. Trong đó, trường hợp kiểm tra đăng kiểm hàng năm và kiểm tra bất thường phần chi phí ngoài quy định khoảng 2.000.000 đồng; kiểm tra trên đà khoảng 3.000.000 đồng, kiểm tra định kỳ thì từ 3.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng để khách hàng chuyển tiền vào tài khoản cá nhân H, H3, Q, L và N2 hoặc đưa trực tiếp cho H. Sau khi nhận tiền, H, H3, Q, L và N2 nộp chi phí kiểm định về chi cục, các phí thiết kế, phí sổ ứng cứu tràn dầu, phí hóa đơn hoán cải, phí sửa chữa, mua mẫu thử vật liệu phần tiền còn lại H, H3, Q, L và N2 hưởng lợi cá nhân khi tự đi đăng kiểm, chia cho đăng kiểm viên cùng đi đăng kiểm trong trường hợp có 02 đăng kiểm viên đăng kiểm phương tiện.

Quá trình điều tra xác định các bị cáo nhận tiền của nhiều chủ phương tiện nhận bằng tiền mặt, chuyển khoản rồi chia cho đăng kiểm viên đi cùng, có khi chia đều, có khi chia không đều, một số trường hợp không biết đăng kiểm viên nhận số tiền cụ thể của phương tiện nào và đi cùng với ai, nhưng xác định là có chia trong số tiền đã nhận cho đăng kiểm viên đi cùng, các bị cáo đã xác nhận tổng số tiền đã nhận trái quy định từ các chủ phương tiện và số tiền được chia. Do đó, với cách thức nhận và chia tiền như trên thì việc xác định số tiền nhận hối lộ để truy cứu trách nhiệm hình sự phù hợp với quy định pháp luật được tính như sau: Trường hợp xác định cụ thể số tiền nhận trái quy định của từng phương tiện và đăng kiểm viên đi cùng thì đăng kiểm viên nào nhận số tiền trái quy định và đăng kiểm viên đi cùng được chia tiền thì phải chịu trách nhiệm toàn bộ trên số tiền đã nhận. Trường hợp đăng kiểm viên nhận tiền trái quy định gom chung của nhiều phương tiện và không xác định cụ thể đăng kiểm viên đi cùng nhưng đăng kiểm viên đi cùng được chia trong tổng số tiền đã nhận thì đăng kiểm viên nhận tiền phải chịu trách nhiệm toàn bộ trên số tiền đã nhận, còn đăng kiểm viên được chia sẽ chịu trách nhiệm trên số tiền được chia nhân lên làm đôi.

Với phương thức, thủ đoạn như trên, từ năm 2018 đến tháng 4 năm 2023, H, H3, Q, L và N2 đã thu lợi bất chính cụ thể như sau:

Mai Công H đã tiếp nhận, thực hiện kiểm tra 419 lượt phương tiện thủy nội địa, kết luận đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện thủy nội địa khi thực hiện nhiệm vụ kiểm tra lần đầu, kiểm tra hàng năm, kiểm tra bất thường, trên đà, chuyển vùng đổi chủ, nâng cấp vùng hoạt động, kiểm tra chế tạo, kiểm tra vật liệu. Sau đó, H tính tiền để khách hàng đưa tiền mặt hoặc chuyển tiền vào tài khoản số [...] của H mở tại Ngân hàng V2, với tổng số tiền là 3.277.704.000 đồng. Trong đó số tiền nhận trái quy định là 1.655.563.116 đồng. Liên quan số tiền nhận trái quy định, có 580.650.000 đồng H đi kiểm tra cùng với Đoàn Bá Q, H chia Q 193.550.000 đồng; có 901.950.000 đồng H thực hiện kiểm tra cùng Lương Duy L, H chia cho L 221.650.000 đồng, số tiền còn lại là 172.963.116 đồng không xác định được đi cùng với đăng kiểm viên nào. H hưởng lợi 1.240.363.116 đồng.

Ngoài ra, Lương Duy L khi nhận đề nghị kiểm tra phương tiện của khách hàng có đi cùng H nhưng không xác định được số tiền nhận trái quy định bao nhiêu, từ chủ phương tiện nào, chỉ xác định được số tiền L chia cho H là 71.762.727 đồng.

Như vậy, tổng số tiền H phải chịu trách nhiệm hình sự là 1.799.088.570 đồng (1.655.563.116 đồng + (71.762.727 đồng x2)). Được hưởng lợi số tiền 1.312.125.843 đồng.

Vũ Văn H3 đã trực tiếp nhận đề nghị của khách hàng để thực hiện kiểm tra 160 lượt phương tiện thủy nội địa, kết luận đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện thủy nội địa đối với hoạt động kiểm tra lần đầu, kiểm tra hàng năm, kiểm tra bất thường, trên đà, đổi chủ. Sau khi kiểm tra, H3 tính tiền để khách hàng chuyển vào tài khoản số [...] của H3 mở tại Ngân hàng V2, với tổng số tiền là 1.338.828.000 đồng. Trong đó số tiền nhận trái quy định là 551.458.800 đồng. Liên quan số tiền nhận trái quy định, H3 đã đi kiểm tra phương tiện cùng Q được khách hàng chuyển số tiền là 98.577.000 đồng, H3 chia cho Q 32.859.000 đồng, H3 đi kiểm tra phương tiện cùng với L được khách hàng chuyển tiền 239.400.000 đồng, H3 chia cho L 66.300.000 đồng.

Ngoài ra, L nhận tiền của khách hàng khi thực hiện đăng kiểm chung với H3 18.018.000 đồng, L đã chia cho H3 số tiền 8.300.000 đồng.

Như vậy, tổng số tiền H3 phải chịu trách nhiệm hình sự là 569.476.800 đồng (551.458.800 đồng + 18.018.000 đồng). Hưởng lợi số tiền 460.559.800 đồng.

Đoàn Bá Q đã trực tiếp nhận đề nghị của khách hàng để thực hiện kiểm tra 49 lượt phương tiện thủy nội địa, kết luận đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện thủy nội địa đối với hoạt động kiểm tra lần đầu, kiểm tra hàng năm, kiểm tra bất thường, trên đà và đổi chủ. Sau khi kiểm tra, đã tính tiền để khách hàng chuyển vào các tài khoản 107005789184, 636704060023843 của Q mở tại Ngân hàng V3 và Ngân hàng V4, với tổng số tiền là 377.424.000 đồng, trong đó số tiền nhận trái quy định là 150.264.019 đồng.

Ngoài ra, Mai Công H nhận tiền của khách hàng khi thực hiện đi đăng kiểm chung với Đoàn Bá Q số tiền là 580.650.000 đồng, H chia cho Q 193.550.000 đồng, trong đó đã xác định được số tiền 102.817.927 đồng nhận liên quan từng phương tiện cụ thể, còn lại số tiền 163.425.000 đồng H nhận không xác định được phương tiện cụ thể.

Vũ Văn H3 nhận tiền của khách hàng khi thực hiện đăng kiểm chung với Q 98.577.000 đồng, H3 chia cho Q 32.859.000 đồng. Liên quan số tiền được chia xác định được 59.410.673 đồng Huyền nhận xác định được phương tiện cụ thể, có 7.100.000 đồng không xác định được H3 nhận tiền của phương tiện cụ thể.

Như vậy, tổng số tiền Q phải chịu trách nhiệm hình sự là 653.542.619 đồng ((150.264.019 đồng + 102.817.927 đồng + (163.425.000 đồng x 2) + 59.410.673 đồng + (7.100.000 đồng x 2)). Số tiền hưởng lợi 376.673.019 đồng.

Lương Duy L đã trực tiếp nhận đề nghị kiểm tra phương tiện của các khách hàng để thực hiện kiểm tra 84 lượt phương tiện thủy nội địa, kết luận đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện thủy nội địa đối với hoạt động kiểm tra lần đầu, kiểm tra hàng năm, kiểm tra bất thường, trên đà, định kỳ, kiểm tra vật liệu, phóng dạng, máy chính, chuyển vùng đổi chủ. Sau khi kiểm tra, L tính tiền để khách hàng chuyển vào tài khoản 102001853791 của L mở tại Ngân hàng V3 với tổng số tiền là 672.087.000 đồng, số tiền nhận trái quy định là 258.413.631 đồng. Liên quan số tiền nhận trái quy định L đi cùng với Mai Công H, Vũ Văn H3, Phòng Ngô Phú N2 thì L chia cho H 71.762.727 đồng, H3 8.300.000 đồng, N2 là 1.927.273 đồng.

Ngoài ra, H nhận tiền từ khách hàng là 901.950.000 đồng khi đi kiểm tra cùng với L, H đã chia cho L 221.650.000 đồng. Liên quan đến số tiền chia có 6.035.000 đồng xác định được H nhận tiền từ chủ phương tiện cụ thể và số tiền 218.250.000 đồng không xác định được H nhận cụ thể từ phương tiện nào.

H3 nhận tiền của nhiều khách hàng nhưng không xác định được cụ thể số tiền bao nhiêu khi đi kiểm tra phương tiện cùng với L, chỉ xác định được H3 chia cho L số tiền là 66.300.000 đồng. Liên quan đến số tiền chia, có 93.713.528 đồng xác định được H3 nhận tiền từ chủ phương tiện cụ thể và số tiền 31.700.000 đồng không xác định được H3 nhận cụ thể từ phương tiện nào.

N2 nhận tiền của nhiều khách hàng nhưng không xác định được cụ thể số tiền bao nhiêu khi đi kiểm tra phương tiện cùng với L, nhưng xác định được số tiền N2 chia cho L là 21.750.000 đồng. Liên quan đến số tiền chia có 46.915.854 đồng xác định được N2 nhận tiền từ chủ phương tiện cụ thể và số tiền 7.150.000 đồng không xác định được N2 nhận cụ thể từ phương tiện nào.

Như vậy, tổng số tiền L phải chịu trách nhiệm hình sự là 919.278.067 đồng (258.413.631 đồng + 6.035.000 đồng + (218.250.000 đồng x 2) + 93.713.582 đồng + (31.700.000 đồng x 2 ) + 46.915.854 đồng + (7.150.000 đồng x 2)). L hưởng lợi số tiền 486.123.631 đồng.

Phòng Ngô Phú N2 đã trực tiếp nhận đề nghị kiểm tra của khách hàng để thực hiện kiểm tra 72 lượt phương tiện thủy nội địa, kết luận đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện thủy nội địa đối với hoạt động kiểm tra lần đầu, kiểm tra hàng năm, kiểm tra bất thường, trên đà và đổi chủ. Sau khi kiểm tra, đã tính tiền để khách hàng chuyển vào các tài khoản 101004497158 của N2 mở tại Ngân hàng V2 và Ngân hàng V4, tài khoản số [...] của vợ N2 là Lục Thảo Vĩ A mở tại Ngân hàng P5, tài khoản số 07704070024133 của cháu N2 là Nguyễn Trần Ánh D6 mở tại Ngân hàng H9 với tổng số tiền là 377.424.000 đồng, trong đó số tiền nhận trái quy định là 283.753.035 đồng. N2 có chia cho L số tiền 21.750.000 đồng.

Ngoài ra, Lương Duy L nhận tiền của khách hàng khi thực hiện đăng kiểm chung với N2 trái quy định là 3.175.782 đồng. Chia cho N2 số tiền 1.927.273 đồng.

Như vậy, tổng số tiền N2 phải chịu trách nhiệm hình sự là 286.928.817 đồng (283.753.035 đồng + 3.175.782 đồng). N2 hưởng lợi số tiền 263.930.308 đồng.

Quá trình bắt, khám xét đối với Mai Công H, Vũ Văn H3, Đoàn Bá Q, Lương Duy L, cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 (một) điện thoại di động GalaxyS22 Ultra, màu đen của Mai Công H; 01 (một) Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BE 650056 mang tên Vũ Văn H3 và Dương Bích N1, 01 (Một) điện thoại di động hiệu VIVO Y01 màu xanh, 01 (Một) máy chụp ảnh hiệu CANON IXUS 175 màu đỏ, 01 (Một) thẻ nhớ hiệu SONY SF-8C4, màu đen, 01 (Một) thẻ nhớ hiệu SANDISK BI1603250284G của Vũ Văn H3; Thu giữ của Đoàn Bá Q 01 (một) điện thoại di động hiệu Galaxy S20+, màu đen. Thu giữ của Lương Duy L 01 (một) điện thoại di động hiệu Galaxy S22+; Thu giữ của Phòng Ngô Phú N2 01 (Một) điện thoại di đọng hiệu Iphone 6S, 01 điện thoại di động hiệu Nokia 225 và 01 thẻ ATM số thẻ 9704151505885286.

Quá trình điều tra gia đình các bị cáo Mai Công H nộp khắc phục số tiền 1.127.786.134 đồng, Đoàn Bá Q nộp số tiền 376.673.019, Lương Duy L nộp số tiền 512.982.904 đồng, Vũ Văn H3 nộp số tiền 408.376.800 đồng, Phòng Ngô Phú N2 nộp số tiền 275.000.000 đồng. Ngoài ra còn phong toả tài khoản của N2 số tiền 70.000.000 đồng.

Quá trình điều tra, các bị cáo H, H3, Q, L, N2 đều xác định đối với số tiền các bị cáo nhận ngoài quy định từ khách hàng thì đều có chia 01 phần tiền cho Lãnh đạo Chi cục khi trình ký hồ sơ cấp Giấy chứng nhận đăng kiểm. Cũng như qua đối chiếu, rà soát tài khoản ngân hàng từ khách hàng thì còn nhiều giao dịch chuyển tiền có liên quan đến việc đăng kiểm phương tiện cũng như còn nhiều giao dịch chuyển tiền từ các bị cáo cho các Đăng kiểm viên khác. Do đó, Cơ quan điều tra tách hành vi trên để tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau.

Đối với các cá nhân, Chủ phương tiện/đại diện chủ phương tiện đưa tiền cho các Đăng kiểm viên, không nắm rõ quy trình đăng kiểm, việc đưa tiền do đăng kiểm viên tính sẵn, bị phụ thuộc, nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý hình sự.

Tại Cáo trạng số 06/CT-VKSCT-P1 ngày 21/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ đã truy tố bị cáo Mai Công H về tội “Nhận hối lộ” theo điểm a khoản 4 Điều 354 Bộ luật Hình sự; truy tố các bị cáo Lương Duy L, Vũ Văn H3, Đoàn Bá Q về tội “Nhận hối lộ” theo điểm a khoản 3 Điều 354 Bộ luật Hình sự và truy tố bị cáo Phòng Ngô Phú N2 về tội “Nhận hối lộ” theo các điểm c, đ khoản 2 Điều 354 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

* Các bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi và hưởng lợi số tiền như đã được nêu trong nội dung cáo trạng. Các bị cáo đều ăn năn hối cải về hành vi đã thực hiện và xin được xem xét hoàn cảnh gia đình neo đơn, cha mẹ già, con còn nhỏ, xin được khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt để các bị cáo sớm hòa nhập cộng đồng. Các bị cáo và gia đình xin được nhận lại tài sản bị tạm giữ không liên quan đến hành vi phạm tội; bị cáo L và bị cáo N2 xin được nhận lại số tiền đã nộp nhiều hơn số tiền hưởng lợi; Bị cáo N2 xin được gỡ bỏ lệnh phong tỏa đối với tài khoản ngân hàng của bị cáo.

* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu luận tội và tranh luận:

Phân tích, đánh giá lỗi, tính chất mức độ thực hiện hành vi của từng bị cáo, xác định việc truy tố của Viện kiểm sát đối với các bị cáo là đúng pháp luật. Đề nghị tuyên bố các bị cáo phạm tội “Nhận hối lộ”.

Phân tích và đề nghị áp dụng cho các bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại các điểm s, t, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự do các bị cáo khai báo thành khẩn, tích cực hợp tác với Cơ quan điều tra nhanh chóng làm sáng tỏ vụ án, các bị cáo đều có thành tích xuất sắc trong công tác, các bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, có hoàn cảnh gia đình khó khăn, gia đình các bị cáo H, H3, Q có công với cách mạng. Đề nghị không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự do các bị cáo phạm tội trong thời gian dài, số tiền từng lần nhận trái quy định không lớn, Cơ quan tiến hành tố tụng đã căn cứ vào tổng số tiền các bị cáo đã nhận để định khung hình phạt.

Các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đã nộp lại toàn bộ số tiền hưởng lợi từ hành vi phạm tội nên đề nghị áp dụng nghị quyết 03/2020/NQ-HĐTP ngày 30 tháng 12 năm 2020 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét cho các bị cáo hưởng chính sách khoan hồng đặc biệt và đề nghị quyết định hình phạt cho các bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt thấp hơn liền kề, cụ thể: Bị cáo Mai Công H từ 10 – 12 năm tù; các bị cáo Vũ Văn H3, Đoàn Bà Q, Lương Duy L mỗi bị cáo từ 06 – 07 năm tù; bị cáo P4 Ngô Phú Nhân từ 02 – 03 năm tù.

Đề nghị tịch thu sung công quỹ nhà nước các tài sản có liên quan đến hành vi phạm tội và số tiền gia đình các bị cáo đã nộp khắc phục hưởng lợi trái quy định. Trả lại cho chủ sở hữu các tài sản không liên quan đến hành vi phạm tội; trả lại cho gia đình bị cáo L và bị cáo N2 số tiền đã nộp vượt quá số tiền xác định các bị cáo hưởng lợi

Đề nghị hủy lệnh phong tỏa của Cơ quan cảnh sát điều tra về việc phong tỏa số tiền 70.000.000 đồng trong tài khoản của bị cáo N2 mở tại ngân hàng TMCP C4.

- Bào chữa cho các bị cáo, các Luật sư đều thống nhất với cáo trạng Viện kiểm sát truy tố và không tranh luận về tội danh, thống nhất với đề nghị Viện kiểm sát về các tình tiết giảm nhẹ việc áp dụng nghị quyết 03/2020/NQ-HĐTP ngày 30 tháng 12 năm 2020 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cho bị cáo hưởng chính sách khoan hồng đặc biệt. Các Luật sư phân tích thêm về môi trường làm việc và hoàn cảnh gia đình của các bị cáo và đề nghị xem xét đánh giá thêm nguyên nhân dẫn đến việc các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội từ đó đề nghị xem xét mức hình phạt đối với các bị cáo thấp hơn mức hình phạt mà Viện kiểm sát đã đề nghị. Ngoài ra, luật sư bào chữa cho bị cáo N2 đề nghị không áp dụng tình tiết định khung theo điểm đ khoản 2 Điều 354 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo N2 do Viện kiểm sát không đề nghị áp dụng tình tiết phạm tội từ 02 lần trở lên đối với các bị cáo khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, Luật sư bào chữa cho bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành đã thực hiện hành vi như đã nêu trong nội dung cáo trạng. Lời khai của bị cáo phù hợp với chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Có đủ căn cứ để xác định:

[2.1] Chi cục Đăng kiểm số H8 có trụ sở tại số A đường N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ thuộc Cục, có nhiệm vụ tham mưu cho Cục thực hiện quản lý Nhà nước về đăng kiểm đối với phương tiện giao thông vận tải đường thủy nội địa, thiết bị thăm dò, khai thác, vận chuyển trên biển, máy, thiết bị vật tư có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động; tổ chức thực hiện công tác đăng kiểm về an toàn kỹ thuật, bảo vệ môi trường, an toàn lao động đối với các loại phương tiện trên địa bàn thành phố Cần Thơ, tỉnh Đồng Tháp, tỉnh Hậu Giang và khu vực khác khi được Cục trưởng phân công.

[2.2] Mai Công H, Lương Duy L, Đoàn Bá Q, Vũ Văn H3, Phòng Ngô Phú N2 đều là đăng kiểm viên, công tác tại Chi cục Đăng kiểm số H8, được giao nhiệm vụ trực tiếp thực hiện kiểm tra các phương tiện thủy nội địa theo yêu cầu của các chủ phương tiện, lập biên bản kiểm tra theo loại hình kiểm tra: định kỳ, trên đà, hàng năm, bất thường, hoán cải,... để tham mưu lãnh đạo Chi cục Đăng kiểm số H8 ký cấp Giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện thủy nội địa.

[2.3] Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, các bị cáo đã nhận tiền trực tiếp hoặc nhận chuyển khoản từ các chủ phương tiện hoặc đại diện chủ phương tiện để bỏ qua một số quy trình, thủ tục theo quy định, bỏ qua một số lỗi như thiếu neo mũi, ống nước làm mát máy có một đoạn được làm bằng nhựa (theo quy định phải làm bằng kim loại), thiếu số lượng các thiết bị phao cứu sinh, cứu hộ, bình chữa cháy hoặc bình chữa cháy hết thời hạn, không có thiết bị đo nghiêng, không làm thủ tục hoán cải theo quy định, không kiểm tra trực tiếp phương tiện thủy khi kiểm tra (hướng dẫn cách chụp hình và yêu cầu chủ phương tiện hoặc đại diện chủ phương tiện chụp hình gửi qua zalo để lưu hồ sơ)... nhiều trường hợp không trực tiếp đi kiểm tra, nhằm giải quyết nhanh, kiểm tra đạt theo nhu cầu của khách hàng. Tùy theo từng trường hợp các bị cáo báo cho khách hàng số tiền phải đưa hoặc chuyển trong đó bao gồm phí kiểm định (các phí thiết kế, phí sổ ứng cứu tràn dầu, phí hóa đơn hoán cải, phí sửa chữa, mua mẫu thử vật liệu) và chi phí ngoài quy định, sau khi nhận được tiền của khách hàng các bị cáo nộp chi phí kiểm định về chi cục phần còn lại các bị cáo hưởng lợi và chia cho đăng kiểm viên đi cùng.

[2.4] Theo quy định, đối với phương tiện không trang bị máy tàu chỉ phân công một đăng kiểm viên vỏ tàu, đối với phương tiện có trang bị máy móc, thiết bị sẽ có 01 đăng kiểm viên vỏ tàu và 01 đăng kiểm viên máy tàu thực hiện việc đăng kiểm. Số tiền nhận ngoài quy định, bị cáo trực tiếp nhận có chia lại cho các đăng kiểm viên đi cùng nhưng tỷ lệ phân chia không được bàn bạc ấn định cụ thể, có khi chia đều, có khi chia không đều; đăng kiểm viên được chia cũng không biết số tiền cụ thể người chia đã nhận là bao nhiêu. Qua đối chất, các bị cáo xác định được số tiền đã nhận và số tiền được chia; tuy nhiên, có nhiều trường hợp đăng kiểm viên đã nhận tiền không xác định được đã nhận khi đăng kiểm phương tiện nào và đăng kiểm viên đi cùng là ai; vì vậy, Viện kiểm sát xác định số tiền để xem xét trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo theo phương thức: Trường hợp xác định cụ thể số tiền nhận trái quy định của từng phương tiện và đăng kiểm viên đi cùng thì đăng kiểm viên nào nhận số tiền trái quy định và đăng kiểm viên đi cùng được chia tiền thì phải chịu trách nhiệm toàn bộ trên số tiền đã nhận. Trường hợp đăng kiểm viên nhận tiền trái quy định gom chung của nhiều phương tiện và không xác định cụ thể đăng kiểm viên đi cùng nhưng đăng kiểm viên đi cùng được chia trong tổng số tiền đã nhận thì đăng kiểm viên nhận tiền phải chịu trách nhiệm toàn bộ trên số tiền đã nhận, còn đăng kiểm viên được chia sẽ chịu trách nhiệm đồng phạm trên số tiền được chia nhân lên gấp đôi là phù hợp.

[2.5] Quá trình điều tra đã xác định được từ năm 2018 đến tháng 4 năm 2023, với cách thức nêu trên các bị cáo Mai Công H, Vũ Văn H3, Lương Duy L, Đoàn Bá Q và Phòng Ngô Phú N2 đã nhận tiền ngoài quy định của các cá nhân, tổ chức có phương tiện cần đăng kiểm để bỏ qua lỗi, số tiền các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự và hưởng lợi cụ thể như sau:

  • Bị cáo Mai Công H:
    • - Đã tiếp nhận, thực hiện kiểm tra 419 lượt phương tiện thủy nội địa, đã nhận tiền mặt hoặc nhận chuyển khoản từ khách hàng với tổng số tiền 3.277.704.000 đồng; trong đó số tiền nhận trái quy định là 1.655.563.116 đồng (trong số tiền này có 580.650.000 đồng H đi kiểm tra cùng với Đoàn Bá Q, H chia Q 193.550.000 đồng; có 901.950.000 đồng H thực hiện kiểm tra cùng Lương Duy L, H chia cho L 221.650.000 đồng, số tiền còn lại là 172.963.116 đồng không xác định được đi cùng với đăng kiểm viên nào). H hưởng lợi 1.240.363.116 đồng.
    • · Ngoài ra H có nhận tiền chia từ Lương Duy L 71.762.727 đồng khi cùng L thực hiện việc đăng kiểm các phương tiện do L nhận đề nghị kiểm tra; cả H và L không xác định được số tiền L nhận trái quy định bao nhiêu, từ chủ phương tiện nào nên H phải chịu trách nhiệm đồng phạm với L trên số tiền 71.762.727 đồng x 2 = 143.525.454 đồng
    • Như vậy, tổng số tiền H phải chịu trách nhiệm hình sự là: 1.655.563.116 đồng + 143.525.454 đồng = 1.799.088.570 đồng, trong đó H hưởng lợi số tiền 1.312.125.843 đồng.
  • Bị cáo Vũ Văn H3:
    • - Đã trực tiếp nhận đề nghị của khách hàng để thực hiện kiểm tra 160 lượt phương tiện thủy nội địa, đã nhận tiền mặt hoặc nhận chuyển khoản từ khách hàng 1.338.828.000 đồng. Trong đó số tiền nhận trái quy định là 551.458.800 đồng (trong số tiền này có 98.577.000 đồng H3 nhận khi thực hiện kiểm tra cùng Q, H3 chia cho Q 32.859.000 đồng; 239.400.000 đồng H3 nhận khi thực hiện kiểm tra cùng L, H3 chia cho L 66.300.000 đồng)
    • · Ngoài ra H3 có nhận tiền chia từ Lương Duy L 8.300.000 đồng khi cùng L thực hiện việc đăng kiểm các phương tiện do L nhận đề nghị kiểm tra; đối với số tiền này H3 và L xác định được cụ thể các phương tiện đăng kiểm và tổng số tiền L đã nhận là 18.018.000 đồng nên H3 phải chịu trách nhiệm đồng phạm theo số tiền L đã nhận.
    • Như vậy, tổng số tiền H3 phải chịu trách nhiệm hình sự là (551.458.800 đồng + 18.018.000 đồng) = 569.476.800 đồng, trong đó H3 hưởng lợi số tiền 460.559.800 đồng.
  • Bị cáo Đoàn Bá Q:
    • - Đã trực tiếp nhận đề nghị của khách hàng để thực hiện kiểm tra 49 lượt phương tiện thủy nội địa, đã nhận tiền mặt hoặc nhận chuyển khoản từ khách hàng 377.424.000 đồng, trong đó số tiền nhận trái quy định là 150.264.019 đồng.
    • - Ngoài ra, Q còn nhận tiền chia khi đi cùng các bị cáo khác cụ thể:
    • Q được H chia 193.550.000 đồng từ số tiền 580.650.000 đồng H đã nhận khi Q đi kiểm tra cùng H, trong đó có 30.125.000 đồng Q được chia từ số tiền 102.817.927 đồng H đã nhận liên quan từng phương tiện cụ thể, còn lại số tiền 163.425.000 đồng H nhận không xác định được đã nhận khi đăng kiểm phương tiện nào. Như vậy số tiền Q phải chịu trách nhiệm đồng phạm với H là 102.817.927 đồng + (163.425.000 đồng x 2) = 429.667.927 đồng
    • Q được H3 chia 32.859.000 đồng trong số tiền H3 nhận 98.577.000 đồng khi đi kiểm tra cùng Q; qua đối chất xác định được có 59.410.673 đồng từ chủ các phương tiện cụ thể và có 7.100.000 đồng Huyền chia cho Q nhưng không xác định được đã nhận từ chủ phương tiện nào. Như vậy, Như vậy số tiền Q phải chịu trách nhiệm đồng phạm với H3 là 59.410.673 đồng + (7.100.000 đồng x 2) = 73.610.673 đồng.
    • Như vậy, tổng số tiền Q phải chịu trách nhiệm hình sự là:150.264.019 đồng + 429.667.927 đồng + 73.610.673 đồng = 653.542.619 đồng, trong đó Q hưởng lợi 376.673.019 đồng.
  • Bị cáo Lương Duy L:
    • - Đã trực tiếp nhận đề nghị kiểm tra phương tiện của các khách hàng để thực hiện kiểm tra 84 lượt phương tiện thủy nội địa, đã nhận tiền mặt hoặc nhận chuyển khoản từ khách hàng 672.087.000 đồng; số tiền nhận trái quy định là 258.413.631 đồng. (liên quan số tiền nhận trái quy định L đi cùng với Mai Công H, Vũ Văn H3, Phòng Ngô Phú N2 thì L chia cho H 71.762.727 đồng, H3 8.300.000 đồng, N2 là 1.927.273 đồng).
    • - Ngoài ra, L còn nhận tiền chia khi đi cùng các bị cáo khác cụ thể:
    • L được H chia 221.650.000 đồng trong số tiền 901.950.000 đồng H đã nhận, trong đó có 6.035.000 đồng H xác định được cụ thể từ phương tiện nào, số tiền còn lại H không xác định được chỉ biết đã chia cho L 218.250.000 đồng. Như vậy, số tiền L phải chịu trách nhiệm đồng phạm với H là 6.035.000 đồng + (218.250.000 đồng x 2) = 442.535.000 đồng
    • L được H3 chia 66.300.000 đồng trong số tiền H3 nhận từ khách hàng 239.400.000 đồng; qua đối chất xác định được trong số tiền H3 đã nhận có 93.713.528 đồng nhận từ phương tiện cụ thể; còn lại số tiền 31.700.000 đồng đã chia cho L, H3 không xác định được đã nhận từ chủ các phương tiện nào. Như vậy số tiền L phải chịu trách nhiệm đồng phạm với H3 là 93.713.582 đồng + (31.700.000 đồng x 2 ) = 157.113.582 đồng.
    • L được N2 chia 21.750.000 đồng trong số tiền 283.753.035 đồng N2 nhận từ khách hàng; qua đối chất xác định được trong số tiền N2 đã nhận 46.915.854 đồng xác định được N2 nhận tiền từ chủ phương tiện cụ thể và số tiền 7.150.000 đồng N2 đã chia cho L, N2 không xác định được đã nhận từ chủ các phương tiện nào. Như vậy số tiền L phải chịu trách nhiệm đồng phạm với N2 là 46.915.854 đồng + (7.150.000 đồng x 2) = 61.212.854 đồng.
    • Như vậy, tổng số tiền L phải chịu trách nhiệm hình sự là: 258.413.631 đồng + 442.535.000 đồng + 157.113.582 đồng = 919.278.067 đồng, trong đó L hưởng lợi số tiền 486.123.631 đồng.
  • Bị cáo Phòng Ngô Phú N2:
    • - Đã trực tiếp nhận đề nghị kiểm tra của khách hàng để thực hiện kiểm tra 72 lượt phương tiện thủy nội địa, đã nhận tiền mặt hoặc nhận chuyển khoản từ khách hàng là 377.424.000 đồng, trong đó số tiền nhận trái quy định là 283.753.035 đồng (N2 có chia cho L số tiền 21.750.000 đồng).
    • Ngoài ra, N2 được L chia số tiền 1.927.273 đồng trong số tiền 3.175.782 đồng L nhận khi N2 đi kiểm tra cùng L như vậy L phải chịu trách nhiệm đồng phạm cùng L trên số tiền L đã nhận là 3.175.782 đồng.
    • Như vậy, tổng số tiền N2 phải chịu trách nhiệm hình sự là: 283.753.035 đồng + 3.175.782 đồng = 286.928.817 đồng. N2 hưởng lợi số tiền 263.930.308 đồng.

[2.5] Với hành vi các bị cáo đã thực hiện và số tiền được xác định như phân tích trên, có cơ sở để xác định Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ truy tố các bị cáo về tội “Nhận hối lộ” với khung hình phạt như đã nêu trong cáo trạng là có căn cứ.

[3] Các bị cáo đều có đủ năng năng lực chịu trách nhiệm hình sự, có trình độ học vấn nhất định, được đào tạo nghiệp vụ chuyên môn về đăng kiểm, biết rõ việc thu thêm tiền ngoài quy định để bỏ qua lỗi là vi phạm pháp luật, chỉ vì vụ lợi cá nhân các bị cáo đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của cơ quan tổ chức, làm mất lòng tin của người dân đối với hoạt động đăng kiểm và ảnh hưởng xấu đến việc thực hiện chính sách pháp luật của Nhà nước. Vì vậy, cần có hình phạt nghiêm, đảm bảo tính răn đe, giáo dục đối với các bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[4.1] Hành vi nhận tiền trái quy định của các bị cáo được thực hiện trong thời gian dài. Tuy nhiên số tiền nhận mỗi lần không lớn, qua thống kê có không ít trường hợp mỗi lần nhận dưới 2.000.000 đồng, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát đã tính tổng số tiền các bị cáo đã nhận làm cơ sở đề nghị xem xét trách nhiệm hình sự nên thống nhất với đề nghị của Kiểm sát viên không áp dụng tình tiết phạm tội từ hai lần trở lên đối với các bị cáo; từ đó chấp nhận đề nghị của luật sư bào chữa không áp dụng tình tiết định khung theo điểm đ khoản 2 Điều 354 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo N2.

[4.2] Các bị có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu; khai báo rất thành khẩn; tích cực hợp tác với cơ quan điều tra trong việc điều tra xử lý tội phạm; có thành tích xuất sắc trong công tác; có hoàn cảnh gia đình khó khăn là lao động chính trong gia đình, có cha mẹ già và con còn nhỏ phụ thuộc; được C5 và Đoàn thanh niên Cục có văn bản đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt nên xét cho các bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại các điểm s, t, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4.3] Ngoài ra, áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho các các bị cáo Mai Công H, Vũ Văn H3, Đoàn Bá Q do gia đình có công với cách mạng.

[5] Vụ án không có người chủ mưu, cầm đầu; không có sự phân công nhiệm vụ khi thực hiện hành vi phạm tội và cũng không bàn bạc, ấn định cụ thể tỷ lệ phân chia số tiền nhận trái quy định nên thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. Khi quyết định hình phạt cần phân hóa trách nhiệm hình sự của từng bị cáo trên cơ sở số tiền các bị cáo trực tiếp nhận, số tiền chịu trách nhiệm trong vai trò đồng phạm, số tiền các bị cáo được hưởng lợi và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ như đã phân tích trên. Xét thấy, các bị cáo có hơn hai tình tiết giảm nhẹ theo khoản 1 và nhiều tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; đã tự nguyện nộp lại toàn bộ số tiền nhận hối lộ nên thống nhất với đề nghị của Kiểm sát viên áp dụng điểm d khoản 3 Điều 5 Nghị quyết 03/2020/NQ-HĐTP ngày 30 tháng 12 năm 2020 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét cho các bị cáo hưởng chính sách khoan hồng đặc biệt và áp dụng hình phạt cho bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt thấp hơn liền kề; đồng thời cần xem xét kết hợp với nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của các bị cáo có phần do đặc thù của công việc phải di chuyển thường xuyên trên địa bàn rộng, chi phí đi lại được thanh toán theo quy định thấp hơn nhiều so với chi phí thực tế; làm việc trong môi trường độc hại; không ý thức được đầy đủ hành vi phạm tội của mình để giảm nhẹ hơn mức hình phạt Viện kiểm sát đề nghị tương ứng với từng bị cáo.

[6] Quá trình điều tra, các bị cáo H, H3, Q, L, N2 đều xác định đối với số tiền các bị cáo nhận ngoài quy định từ khách hàng, một số trường hợp có chia 01 phần tiền cho lãnh đạo Chi cục khi trình ký hồ sơ cấp Giấy chứng nhận đăng kiểm. Cũng như qua đối chiếu, rà soát tài khoản ngân hàng từ khách hàng thì còn nhiều giao dịch chuyển tiền có liên quan đến việc đăng kiểm phương tiện cũng như còn nhiều giao dịch chuyển tiền từ các bị can cho các Đăng kiểm viên khác. Do đó, Cơ quan điều tra tách hành vi trên để tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau.

[7] Đối với các cá nhân, Chủ phương tiện/đại diện chủ phương tiện đưa tiền cho các Đăng kiểm viên, không nắm rõ quy trình đăng kiểm, việc đưa tiền do đăng kiểm viên tính sẵn, bị phụ thuộc, nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý hình sự.

[8] Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu sung vào công quỹ nhà nước số tiền gia đình các bị cáo đã nộp tương ứng với số tiền của từng bị cáo được hưởng lợi và tài sản đã thu giữ của các bị cáo có liên quan đến hành vi phạm tội.

- Đối với tài sản không liên quan đến hành vi phạm tội, số tiền các bị cáo và người thân của các bị cáo nộp khắc phục tiền hưởng lợi nhiều hơn số tiền các bị cáo hưởng lợi và có yêu cầu được nhận lại nên trả lại cho chủ sở hữu.

- Quá trình điều tra, có phong tỏa tài khoản số [...] mở tại ngân hàng TMCP C4 với tên Phòng Ngô Phú N2 để đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ của bị cáo, do bị cáo N2 và gia đình đã nộp lại toàn bộ số tiền hưởng lợi nên chấp nhận yêu cầu hủy lệnh phong tỏa của bị cáo N2 và trả lại cho bị cáo N2 thẻ ATM liên quan đến tài khoản phong tỏa nêu trên.

- Đối với quyền sử dụng đất tọa lạc tại địa chỉ HH25 khu dân cư Công ty cổ phần H7, khu vực 2, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ (của Mai Công H) Cơ quan điều tra xác định chưa được cấp quyền sử dụng đất, là tài sản hình thành trong tương lai nên không ban hành lệnh phong tỏa mà chỉ ban hành công văn số 443/CSKT-ĐĐ1 ngày 16/5/2023 gửi Công ty cổ phần H7 để ngăn chặn việc mua bán chuyển nhượng ... để đảm bảo thi hành án. Do bị cáo Mai Công H và gia đình đã nộp toàn bộ số tiền hưởng lợi về hành vi phạm tội nên kiến nghị Cơ quan điều tra có văn bản giải tỏa việc ngăn chặn nêu trên.

[9] Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Các bị cáo Mai Công H, Vũ Văn H3, Đoàn Bá Q, Lương Duy L, Phòng Ngô Phú N2 phạm tội “Nhận hối lộ”.
    • - Căn cứ: Điểm a khoản 4 Điều 354; các điểm s, t, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 2 Điều 54; Điều 38; Điều 50 và Điều 58 Bộ luật hình sự.
    • Xử phạt: Bị cáo Mai Công H 09 (chín) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/4/2023.
    • - Căn cứ: Điểm a khoản 3 Điều 354; các điểm s, t, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 2 Điều 54; Điều 38; Điều 50 và Điều 58 Bộ luật hình sự.
    • Xử phạt: Bị cáo Vũ Văn H3 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/6/2023.
    • - Căn cứ: Điểm a khoản 4 Điều 354; các điểm s, t, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 2 Điều 54; Điều 38; Điều 50 và Điều 58 Bộ luật hình sự.
    • Xử phạt: Bị cáo Lương Duy L 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/12/2023.
    • - Căn cứ: Điểm a khoản 4 Điều 354; các điểm s, t, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 2 Điều 54; Điều 38; Điều 50 và Điều 58 Bộ luật hình sự.
    • Xử phạt: Bị cáo Đoàn Bá Q 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/9/2023.
    • - Căn cứ: Điểm c khoản 2 Điều 354; các điểm s, t, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 2 Điều 54; Điều 38; Điều 50 và Điều 58 Bộ luật hình sự. Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự
    • Xử phạt: Phòng Ngô Phú N2 01 (một) năm 02 (hai) tháng 27 (hai mươi bảy) ngày tù (bằng với thời gian đã bắt, tạm giữ, tạm bị cáo từ 26/12/2023 đến 25/3/2025). Trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa.
    • - Tiếp tục tạm giam các bị cáo Mai Công H, Vũ Văn H3, Đoàn Bá Q, Lương Duy L theo Quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử.
  2. Áp dụng: Khoản 1 Điều 47; Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
    • - Tịch thu sung vào công quỹ Nhà nước số tiền các bị cáo và người thân của các bị cáo đã nộp tương ứng với số tiền các bị cáo hưởng lợi, cụ thể:
    • + Bị cáo Mai Công H: Hưởng lợi 1.312.125.843 đồng, (đã nộp đủ 1.312.125.843 đồng).
    • + Bị cáo Vũ văn H3: Hưởng lợi 460.559.800 đồng, (đã nộp đủ 460.559.800 đồng)
    • + Bị cáo Đoàn Bá Q: Hưởng lợi 376.673.019 đồng, (đã nộp đủ 376.673.019 đồng).
    • + Bị cáo Lương Duy L: Hưởng lợi 486.123.631 đồng, đã nộp 512.982.904 đồng (nhiều hơn số tiền hưởng lợi) nên trả lại cho gia đình bị cáo (bà Nguyễn Thị Mai H2- vợ bị cáo, đại diện nhận) số tiền 26.859.273 đồng (512.982.904 đồng - 486.123.631 đồng)
    • + Bị cáo Phòng Ngô Phú N2: Hưởng lợi 263.930.308 đồng, đã nộp 275.000.000 đồng (nhiều hơn số tiền hưởng lợi) nên trả lại cho bị cáo và gia đình bị cáo (bà Lục Thảo Vĩ A – vợ bị cáo, đại diện nhận) số tiền 11.069.692 đồng (275.000.000 đồng - 263.930.308 đồng).
    • (Toàn bộ số tiền trên hiện do Cục Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ tạm giữ theo các ủy nhiệm chi và các biên lai thu của Cục Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ, cụ thể: Ủy nhiệm chi: số 35 lập ngày 11/6/2024 và số 6 ngày 11/02/2025; biên lai thu số: 0000165 ngày 13/9/2024; biên lai thu số 0000154 ngày 31/5/2024; biên lai thu số 0000185 ngày 27/02/2025; Biên lai thu số 0000156 ngày 31/5/2024; biên lai thu số 0000161 ngày 27/6/2024; biên lai thu số 00183 ngày 13/02/2025; biên lai thu số 0000162 ngày 28/6/2024; biên lai thu số 0000181 ngày 09/8/2024).
    • - Tịch thu sung vào công quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động Sam Sung Galaxy S22 Untra màu đen, thiết bị SM-S908E/DS, số seri R5CT21NMPVB, IMEI 1: 305272251025681, IMEI 2 350805481025680 (của Mai Công H).
    • - Tịch thu sung vào công quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu ViVO Y01 màu xanh, số IMEI 1 866816052419886, IMEI 2 866816052419894, đã qua sử dụng (của Vũ Văn H3).
    • - Tịch thu sung vào công quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động Sam Sung Galaxy S20⁺, màu đen, IMEI 356844832821210 đã qua sử dụng (của Đoàn Bá Q)
    • - Trả lại cho bị cáo Vũ Văn H3 và gia đình (Dương Bích N1 – vợ bị cáo, đại diện nhận):
      • + 01 (một) giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BE 650056, số vào sổ CH04392, do Ủy ban nhân dân quận N cấp ngày 19/8/2011, đến ngày 01/6/2017 chuyển nhượng cho Vũ Văn H3 và Dương Bích N1; địa chỉ thửa đất: Số B đường số A, KDC I, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ;
      • + 01 (một) máy chụp ảnh hiệu CANON ISUX 175 màu đỏ;
      • + 01 (một) thẻ nhớ hiệu SONY SF-8C4, màu đen;
      • + 01 (một) thẻ nhớ hiệu SANDISK BI1603250284G.
    • - Trả lại cho bị cáo Lương Duy L 01 (một) điện thoại di động Galaxy S22+, số IMEI 1: 356369481129558, IMEI 2: 359107601129554 đã qua sử dụng (Bà Nguyễn Thị Mai H2 – vợ bị cáo, đại diện nhận).
    • - Trả lại cho Chi cục Đăng kiểm số H8: 01 (một) ổ cứng rời chứa dữ liệu điện tử của quá trình đăng kiểm (tạm giữ khi khám xét tại Chi cục Đăng kiểm số H8).
    • - Hủy Lệnh phong tỏa tài khoản số 02/LPT-CSĐT ngày 29/12/2023 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C về việc phong tỏa số tiền 70.000.000 đồng trong tài khoản 101004497158 tại Ngân hàng TMCP C4 – chi nhánh C6 với tên chủ tài khoản Phòng Ngô Phú N2.
    • - Trả lại cho bị cáo Phòng Ngô Phú N2:
      • + 01 (một) thẻ ATM số 9704151505882586, mở tại Ngân hàng V5.
      • + 02 (hai) điện thoại di động (01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 6S kèm sim số 0915855633; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 225 kèm sim số 0879738515, model: RM-1011, Type: RM-1011).
    • (Vật chứng hiện do Cục thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/01/2025 và biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/6/2024).
  3. Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
  5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Viện KSND Tối cao – Vụ 6;
  • - CQĐT Viện KSND Tối cao;
  • - Trại tạm giam Tp. Cần Thơ;
  • - Cục THADS Tp. Cần Thơ;
  • - Sở Tư pháp Tp. Cần Thơ;
  • - Lưu: hồ sơ vụ án, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Huỳnh Thị Bích Vân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2025/TLST – HS ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về hình sự về tội nhận hối lộ

  • Số bản án: 07/2025/TLST – HS
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Nhận hối lộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mai Công H phạm tội nhận hối lộ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger