|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 07/2025/KDTM-PT
Ngày: 26/6/2025
“V/v Tranh chấp hợp đồng kinh tế”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Vũ Thị Yển |
| Các Thẩm phán: | Ông Nguyễn Minh Tân |
| Bà Quách Thị Phương Thuý |
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Linh - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương: Ông Hoàng Anh Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý 05/2025/TLPT-KDTM ngày 22/4/2025 về “Tranh chấp hợp đồng kinh tế".
Do bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 02/2025/KDTM-ST ngày 18/3/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 06/2025/QĐXX-PT ngày 11/6/2025 giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Công ty cổ phần K; địa chỉ trụ sở: Km56 + 100 quốc lộ E, xã N, thành phố H, tỉnh Hải Dương.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đoàn Văn C, sinh năm 1974 – Giám đốc Công ty. (Có mặt)
-
Bị đơn: Công ty TNHH V; địa chỉ trụ sở: Số A T, phường N, thành phố H, tỉnh Hải Dương.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1964 – Giám đốc Công ty. (Có mặt)
-
Người kháng cáo: Công ty TNHH V – bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án,
nguyên đơn trình bày:
Ngày 28/11/2018, Công ty cổ phần K (viết tắt là Công ty K) và Công ty TNHH V (viết tắt là Công ty V) ký kết Hợp đồng kinh tế cung cấp thi công phòng mẫu nội thất khách sạn ASEAN số: 28.11.2018/HT. Theo thỏa thuận, Công ty K sẽ thi công lắp đặt toàn bộ sản phẩm nội thất một căn hộ mẫu và một phòng nghỉ mẫu khách sạn ASEAN có địa chỉ tại số A T, phường N, thành phố H, tỉnh Hải Dương theo đúng bản vẽ thiết kế kiến trúc, nội thất các phần việc đã được hai bên thống nhất và ký xác nhận kèm theo hợp đồng. Tổng giá trị hợp đồng trọn gói hai phòng là 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng), đã bao gồm thuế giá trị gia tăng là 10%. Sau khi Công ty K thực hiện việc thi công lắp đặt sản phẩm nội thất cho 02 phòng mẫu theo đúng thỏa thuận, Công ty V đã nghiệm thu công trình và quyết định tiếp tục ký kết hợp đồng để Công ty K lắp đặt sản phẩm nội thất cho khách sạn A. Ngày 05/03/2019, hai bên kí kết Hợp đồng kinh tế cung cấp thi công phòng mẫu nội thất khách sạn ASEAN số: 26.02.2019/HT để Công ty H thi công lắp đặt toàn bộ sản phẩm nội thất 07 phòng căn hộ và 19 phòng nghỉ khách sạn tại tầng 5, tầng 6, tầng G. Tổng giá trị gói thầu thi công là 2.000.000.000 đồng bao gồm thuế giá trị gia tăng 10%. Việc nghiệm thu công trình và thanh toán sẽ tiến hành theo từng hạng mục thi công ở mỗi tầng, theo thời hạn thi công hai bên thỏa thuận tại khoản 2.1, Điều 2. "Thời hạn thi công của Hợp đồng". Hồ sơ thanh toán bao gồm công văn đề nghị thanh toán và hóa đơn tài chính. Phương thức thanh toán là Công ty H1 qua tài khoản ngân hàng cho Công ty V, được chia thành 05 đợt như sau:
Đợt 1: Tạm ứng 10% tổng giá trị hợp đồng sau khi ký hợp đồng. Đợt 2: Tạm ứng 70% tầng 7 khi hoàn thiện tầng 7. Đợt 3: Tạm ứng 70% tầng 6 khi hoàn thiện tầng 6. Đợt 4: Tạm ứng 70% tầng 5 (70% tầng 5 trừ đi số tiền đặt cọc). Đợt 5: Thanh toán 30% phần tổng giá trị của hợp đồng sau bàn giao nghiệm thu 60 ngày.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty K đã tuân thủ theo đúng các thỏa thuận. Ngày 07/05/2019, Công ty K đã gửi Bảng quyết toán giá trị kiêm biên bản bàn giao đợt 1 - tầng 7; đợt 2 - tầng 6 và Biên bản đối chiếu công nợ cho Công ty V. Sau khi nghiệm thu xong công trình, Công ty V đã xác nhận vào biên bản. Tuy nhiên, Công ty V đã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Công ty K theo thỏa thuận.
Công ty K bàn giao cho Công ty V giá trị đồ nội thất tại tầng 7 là 559.011.625 đồng; giá trị đồ nội thất tầng 6 là 788.325.800 đồng, tổng giá trị là 1.347.337.425 đồng nhưng Công ty V mới chỉ thanh toán cho Công ty K số tiền 381.267.000 đồng và còn nợ lại số tiền: 966.070.425 đồng. Trong tổng số tiền 381.267.000 đồng Công ty V đã trả cho Công ty K gồm 370.000.000 đồng là Công ty V thanh toán tiền thi công, 11.267.000 đồng là giá trị 01 chiếc tủ quần áo Công ty V trả lại cho Công ty K - cụ thể ở mục A, P làm thêm, Bảng quyết toán giá trị kiêm biên bản bàn giao đợt 2 - tầng 6 ngày 09/11/2019.
Theo quy định tại "Điều 6. Tạm dừng, hủy bỏ hợp đồng" thì trong trường hợp Công ty V không thanh toán theo đúng hợp đồng thì Công ty K có quyền tạm dừng thi công, mọi chi phí phát sinh Công ty V phải chịu. Do Công ty V không thực hiện thanh toán theo thỏa thuận nên Công ty K đã dừng việc thi công tại tầng 5. Ngày 09/11/2019, tại Văn phòng của Công ty V, hai bên đã đối chiếu công nợ và lập "Biên bản đối chiếu công nợ" xác nhận số tiền Công ty V còn nợ là 966.070.425 đồng. Công ty K đã xuất cho Công ty V 03 hóa đơn GTGT theo 02 hợp đồng thi công nêu trên. Tổng giá trị hóa đơn GTGT mà Công ty K đã xuất cho Công ty V là 1.331.070.425 đồng. Công ty K đã giảm cho Công ty V 5.000.000 đồng tiền sửa chữa quầy ba (thể hiện tại Biên bản đối chiếu công nợ ngày 07/05/2019).
Ngày 15/05/2022, Công ty V và Công ty K tiếp tục lập Biên bản đối chiếu công nợ số: 001/2022/BBĐCCN và Công ty V cam kết sẽ trả số tiền nợ 966.070.425 đồng trong thời gian 02 năm, từ ngày 15/05/2022 đến ngày 15/05/2024. Tuy nhiên, tính đến nay đã quá thời hạn thanh toán nhưng Công ty V không thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền nợ cho Công ty K. Do đó Công ty K khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương giải quyết buộc Công ty V phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Công ty K theo Hợp đồng hai bên đã kí kết gồm tiền nợ gốc là 966.070.425đồng và tiền lãi chậm trả tính từ ngày 16/5/2024 đến ngày 18/3/2025 với lãi suất tạm tính 11%/năm là 79.695.000 đồng, tổng là 1.045.765.425 đồng.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn trình bày:
Công ty V, có trụ sở tại A T, phường N, thành phố H, năm 2017 bắt đầu xây dựng khu nhà mới khách sạn A gồm 8 tầng để phục vụ nhu cầu của khách hàng về ăn nghỉ tại thành phố H.
Trong quá trình xây dựng và hoàn thiện vào cuối năm 2019 Công ty V có hợp đồng với một số khách hàng như xây dựng điện nước, sơn bả, cửa nhôm kính, cửa gỗ để phục vụ cho công trình hoàn thiện đưa vào hoạt động, trong đó có cả giường ngủ, bàn ghế, tủ đựng quần áo. Công ty V ký hợp đồng với Công ty K cung cấp giường tủ bàn ghế để phục vụ trong phòng nghỉ, hai bên đã ký kết hợp đồng và đã đối chiếu công nợ.
Trong quá trình xây dựng từ năm 2017 đến cuối năm 2019 đầu năm 2020 công ty, Công ty K đã lắp đặt một số bàn ghế, tủ đựng đồ quần áo, tủ trang điểm, ghế sopha. Trong quá trình lắp đặt một số đồ chưa chuẩn với đồ của khách sạn nên Công ty K phải sửa chữa để khách sạn đưa vào hoạt động, khách sạn khi đưa vào khai thác do dịch bệnh Covid 19 ảnh hưởng đến doanh thu nên Công ty V chưa thể trả tiền cho Công ty K được. Công ty V xác nhận nợ Công ty K số tiền gốc là 966.070.425 đồng và đồng ý trả số tiền này. Về số tiền lãi, Công ty V không đồng ý do hợp đồng ký kết giữa Công ty K và Công ty V không có điều khoản thỏa thuận về lãi.
Tại bản án sơ thẩm số 02/2025/KDTM-ST ngày 18/3/2025, Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương căn cứ Điều 24, Điều 50, Điều 306 Luật Thương mại; Điều 357, 468 Bộ luật Dân sự; Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS); Luật Phí và lệ phí 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty K; buộc Công ty V có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty K số tiền nợ gốc là 966.070.425 đồng, tiền lãi chậm thanh toán từ ngày 16/5/2024 đến ngày 18/3/2025 là 79.695.000 đồng. Tổng số tiền là 1.045.765.425 đồng. Ngoài ra cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 31/3/2025, Công ty V kháng cáo bản án sơ thẩm về quyết định tính tiền lãi chậm thanh toán.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Đại diện Công ty V trình bày: Công ty V kháng cáo quyết định của bản án sơ thẩm về nội dung buộc Công ty V phải chịu tiền lãi chậm thanh toán từ ngày 16/5/2024 đến ngày 18/3/2025 là 79.695.000 đồng. Lý do vì trong hợp đồng giữa Công ty V và Công ty K không có quy định về lãi chậm thanh toán. Việc chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán không phải do Công ty V cố tình không thực hiện mà do ảnh hưởng của dịch Covid-19 khiến công việc kinh doanh gặp nhiều khó khăn. Công ty V đề xuất với Công ty K giảm từ 1/3 đến 1/2 tiền lãi để Công ty V có khả năng thanh toán sớm.
- Đại diện Công ty K trình bày: Mặc dù trong hợp đồng giữa Công ty V và Công ty K không thoả thuận về lãi chậm thanh toán nhưng theo quy định của pháp luật thì Công ty V phải chịu khoản lãi này là đúng. Công ty K và Công ty V, bàn giao công trình từ năm 2019 nhưng Công ty K không yêu cầu lãi chậm thanh toán từ 2019 đến ngày 15/5/2024, chỉ yêu cầu tính từ ngày 16/5/2024 và chấp nhận lãi suất 11%, thấp hơn lãi suất quá hạn trung bình của 3 ngân hàng là đã giúp đỡ hết sức cho Công ty V. Vì vậy Công ty K không đồng ý với kháng cáo của Công ty V. Đối với đề xuất giảm lãi của Công ty V thì khi Công ty V trả tiền gốc thì Công ty K sẽ xem xét giảm lãi sau.
- Đại diện Viện kiểm sát tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà phát biểu: Về việc tuân theo pháp luật, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, các đương sự đã tuân theo và chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Bị đơn kháng cáo không được chấp nhận phải chịu án phí phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Kháng cáo của bị đơn được thực hiện trong thời hạn quy định tại Điều 273 BLTTDS nên là kháng cáo hợp lệ và được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của Công ty V: Công ty V kháng cáo bản án sơ thẩm phần quyết định buộc Công ty V phải trả tiền lãi chậm thanh toán vì trong hợp đồng hai bên không thoả thuận về nội dung này. Theo tài liệu trong hồ sơ vụ án thì Công ty V và Công ty K trình bày cơ bản thống nhất về nội dung hợp đồng, quá trình thực hiện hợp đồng và số tiền nợ gốc Công ty V chưa thanh toán cho Công ty K. Xem xét quá trình thực hiện hợp đồng thấy rằng Công ty K đã thi công xong tầng 6, tầng 7 và bàn giao cho Công ty V nhưng Công ty V không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán theo Điều 4 Hợp đồng nên Công ty K căn cứ Điều 6 Hợp đồng, không tiếp tục thi công tầng 5. Ngày 09/11/2019 và ngày 15/5/2022, hai bên đã cùng lập biên bản đối chiếu công nợ (BL 62, 56) và chốt Công ty V còn nợ Công ty K 966.070.425 đồng. Tại biên bản đối chiếu công nợ ngày 15/5/2022, Công ty V cam kết sẽ sắp xếp trả dần trong thời gian 02 năm. Đến hết ngày 15/5/2024 là quá thời hạn thanh toán theo thoả thuận nhưng Công ty V không thanh toán được khoản nào cho Công ty K là đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng. Điều 306 Luật Thương mại quy định về quyền yêu cầu tiền lãi do chậm thanh toán như sau: “Trường hợp bên vi phạm hợp đồng chậm thanh toán tiền hàng hay chậm thanh toán thù lao dịch vụ và các chi phí hợp lý khác thì bên bị vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm trả đó theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.”. Do trong hợp đồng các bên không có thoả thuận về lãi chậm thanh toán nên cấp sơ thẩm buộc Công ty V phải trả tiền lãi đối với số tiền chậm thanh toán và xác minh lãi suất nợ quá hạn của 03 ngân hàng thương mại để tính lãi suất nợ quá hạn trung bình tại thời điểm xét xử sơ thẩm là đúng quy định của Điều 306 Luật Thương mại, Điều 11 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao. Tuy nhiên Công ty K tự nguyện tính lãi suất chậm trả là 11%, thấp hơn lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường (13,65%) nên cấp sơ thẩm chấp nhận và áp dụng lãi suất 11% khi tính tiền lãi chậm thanh toán là phù hợp. Vì vậy không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của Công ty V, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[3] Về án phí: Công ty V kháng cáo không được chấp nhận phải chịu án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308, Điều 144, Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự.
-
Không chấp nhận kháng cáo của Công ty TNHH V; giữ nguyên bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 02/2025/KDTM-ST ngày 18/3/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.
-
Công ty TNHH V phải chịu 2.000.000 đồng án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm; đối trừ với 2.000.000 đồng tiền tạm ứng án phí ông Nguyễn Văn Đ đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Dương theo biên lai ký hiệu BLTU/24, số 0001298 ngày 08/4/2025, Công ty TNHH V đã nộp đủ.
-
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 26/6/2025.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Vũ Thị Yển |
Bản án số 07/2025/KDTM-PT ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng kinh tế
- Số bản án: 07/2025/KDTM-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng kinh tế
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/06/2025
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Công ty cổ phần K khởi kiện Công ty TNHH V thanh toán nghĩa vụ theo Hợp đồng kinh tế
