Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2025/KDTM-PT

Ngày 24 - 6 - 2025

V/v: “Tranh chấp

Hợp đồng tín dụng”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hán Hưởng

Các Thẩm phán: Ông Phạm Tuấn Anh và ông Trần Đình Chi

- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Thúy Anh - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 6 và ngày 24 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử công khai vụ án Kinh doanh thương mại phúc thẩm thụ lý số 08/2024/KDTM-PT ngày 02 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”. Do bản án Kinh doanh thương mại sơ thẩm số 04/2024/KDTM-ST ngày 16/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ bị kháng cáo. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2024/QĐXXPT-KDTM ngày 27 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng N1 (gọi tắt là Ngân hàng N1).

Địa chỉ: Số B, đường L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội.

Đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V. Chức vụ: Tổng giám đốc.

Đại diện theo ủy quyền: Bà Lê Thị Hồng N. Chức vụ: Giám đốc Ngân hàng N1, chi nhánh P1

Người được ủy quyền lại: Ông Hà Trường S. Chức vụ: Phó Giám đốc Ngân hàng A2, chi nhánh P1 (có mặt).

- Bị đơn: Tổng Công ty cổ phần V1

Địa chỉ: Lô B, KCN T, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phùng Ngọc A. Chức vụ: Tổng giám đốc (có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Tổng công ty Cổ phần V1: Ông Tạ Gia L và bà Nguyễn Thị Kim L1 - Luật sư Văn phòng L3 và Cộng sự - Đoàn Luật sư tỉnh P (ông L có mặt, bà L1 vắng mặt).

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Doanh nghiệp tư nhân Đ

Địa chỉ: Khu D, phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ

Đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Huy P. Chức vụ: Giám đốc (có mặt).

- Người kháng cáo: Tổng công ty cổ phần V1 - Là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại Đơn khởi kiện, tại bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn Ngân hàng N1 có quan điểm trình bày:

Căn cứ phương án sử dụng vốn của Tổng công ty cổ phần V1 (Sau đây gọi tắt là Tổng Công ty V1) gửi tới Ngân hàng N1 - Chi nhánh P1 (Sau đây gọi là Ngân hàng N1). Ngân hàng Nông nghiệp tiến hành thẩm định, sau đó cùng Tổng công ty Vương Ngọc A1 thống nhất ký các Hợp đồng tín dụng và các Hợp đồng bảo đảm tài sản, cụ thể:

  1. Hợp đồng tín dụng:
    • Hợp đồng tín dụng thứ nhất: Hợp đồng tín dụng số 2700LAV201700624 ngày 29/09/2017 đã ký giữa Ngân hàng Nông nghiệp và Tổng công ty Vương Ngọc A1, số tiền cho vay: 3.100.000.000 đồng, lãi suất cho vay là: 9%/ năm, thời hạn cho vay là 6 năm, mục đích vay vốn: Vay vốn dài hạn để đầu tư hệ thống lọc bụi, ép kiện tự động kèm theo 01 máy ép kiện bán tự động và 02 máy chần bông.
      • + Dư nợ gốc tại thời điểm hiện tại là: 2.100.000.000 đồng (Hai tỷ một trăm triệu đồng chẵn). Trong đó: Dư nợ gốc quá hạn là: 2.100.000.000 đồng.
      • + Lãi suất quá hạn là: 120% lãi suất cho vay trong hạn. Thời gian chuyển nợ quá hạn và tính lãi quá hạn: từ ngày 13/10/2020.
      • +Lãi suất chậm trả là: Thỏa thuận theo từng Giấy nhận nợ (tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả). Thời gian tính lãi chậm trả: từ ngày 31/10/2020.
    • Hợp đồng tín dụng thứ hai: Hợp đồng tín dụng số 2700LAV201800212 ngày 24/04/2018 đã ký giữa Ngân hàng Nông nghiệp và Tổng công ty Vương Ngọc A1 số tiền cho vay: 20.000.000.000 đồng, lãi suất cho vay: 9,5%/ năm, thời hạn cho vay: 8 năm, mục đích vay vốn: Vay vốn dài hạn thanh toán tiền mua dây chuyền sản xuất bông cây, hệ thống ga, xe cặp hàng Diesel, hệ thống máy nén khí để mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh chăn, ga, gối, đệm, bông, sợi các loại.
      • + Dư nợ gốc tại thời điểm hiện tại là: 13.970.576.500 đồng (Mười ba tỷ chín trăm bảy mươi triệu năm trăm bảy mươi sáu nghìn năm trăm đồng chẵn). Trong đó: Dư nợ gốc quá hạn là: 13.970.576.500 đồng.
      • + Lãi suất quá hạn là: 120% lãi suất cho vay trong hạn. Thời gian chuyển nợ quá hạn và tính lãi quá hạn: từ ngày 13/04/2021.
      • +Lãi suất chậm trả là: Thỏa thuận theo từng Giấy nhận nợ (tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả). Thời gian tính lãi chậm trả: từ ngày 13/04/2021.
    • Hợp đồng tín dụng thứ ba: Hợp đồng tín dụng số 2700LAV201800493 ngày 31/07/2018 đã ký giữa Ngân hàng Nông nghiệp và Tổng công ty Vương Ngọc A1, số tiền cho vay: 7.600.000.000 đồng, lãi suất: 9,5%/ năm, thời hạn cho vay 8 năm, mục đích vay vốn: Vay vốn dài hạn thanh toán tiền mua dây chuyền sản xuất đệm bông cứng, hệ thống giàn lạnh, hệ thống ga, hệ thống điện, xe nâng cặp hàng và hệ thống cầu dẫn xe nâng để mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh chăn, ga, gối, đệm, bông, sợi các loại.
      • + Dư nợ gốc tại thời điểm hiện tại là: 6.800.000.000 đồng (Sáu tỷ tám trăm triệu đồng chẵn). Trong đó: Dư nợ gốc quá hạn là: 6.800.000.000 đồng.
      • + Lãi suất quá hạn là: 120% lãi suất cho vay trong hạn. Thời gian chuyển nợ quá hạn và tính lãi quá hạn: từ ngày 01/08/2020.
      • + Lãi suất chậm trả là: Thỏa thuận theo từng Giấy nhận nợ (tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả). Thời gian tính lãi chậm trả: từ ngày 31/08/2020.
    • Hợp đồng tín dụng thứ tư: Hợp đồng tín dụng số 2700LAV201900227 ngày 12/04/2019 đã ký giữa Ngân hàng Nông nghiệp và Tổng công ty Vương Ngọc A1, số tiền cho vay: 2.929.500.000 đồng, lãi suất cho vay: 9,5%/ năm, thời hạn cho vay 5 năm, mục đích vay vốn: Vay vốn trung hạn thanh toán tiền mua dây chuyền máy sâm kim để mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh chăn, ga, gối, đệm, bông, sợi các loại.
      • + Dư nợ gốc tại thời điểm hiện tại là: 2.917.358.000 đồng (Hai tỷ chín trăm mười bảy triệu ba trăm năm mươi tám nghìn đồng chẵn). Trong đó: Dư nợ gốc quá hạn là: 2.917.358.000 đồng.
      • + Lãi suất quá hạn là: 120% lãi suất cho vay trong hạn. Thời gian chuyển nợ quá hạn và tính lãi quá hạn: từ ngày 13/04/2021.
      • + Lãi suất chậm trả là: Thỏa thuận theo từng Giấy nhận nợ (tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả). Thời gian tính lãi chậm trả: từ ngày 13/04/2021.
    • Hợp đồng tín dụng thứ năm: Hợp đồng tín dụng số 2700LAV201900655 ngày 02/10/2019 đã ký giữa Ngân hàng Nông nghiệp và Tổng công ty Vương Ngọc A1, hạn mức cấp tín dụng: 12.500.000.000 đồng, lãi suất: 7,5%/ năm, thời hạn 12 tháng, mục đích vay vốn: Bổ sung vốn lưu động phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh đệm bông cứng, bông cây, chăn ga gối đệm và các sản phẩm từ xơ, bông.
      • + Dư nợ gốc tại thời điểm hiện tại là: 8.399.467.000 đồng (Tám tỷ ba trăm chín mươi chín triệu bốn trăm sáu mươi bảy nghìn đồng chẵn). Trong đó: Dư nợ gốc quá hạn là: 8.399.467.000 đồng.
      • + Lãi suất quá hạn là: 120% lãi suất cho vay trong hạn. Thời gian chuyển nợ quá hạn và tính lãi quá hạn: từ ngày 03/06/2020.
      • + Lãi suất chậm trả là: Thỏa thuận theo từng Giấy nhận nợ (tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả). Thời gian tính lãi chậm trả: từ ngày 03/06/2020.

Trong quá trình sử dụng tiền vay, Tổng công ty V1 đã sử dụng vốn vay đúng mục đích nhưng kinh doanh thua lỗ, không có khả năng trả nợ nên Tổng công ty Vương Ngọc A1 đã vi phạm nghĩa vụ quy định tại Hợp đồng tín dụng; Ngân hàng Nông nghiệp yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Tổng công ty V1 phải trả một lần cho Ngân hàng Nông nghiệp gồm gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn, lãi chậm trả tính đến hết ngày 16/7/2024 là 54.270.524.464 đồng (Trong đó: Dư nợ gốc quá hạn: 34.187.401.500 đồng; L2 phải trả trong hạn: 6.804.038.885 đồng; L2 phải trả quá hạn: 12.094.810.311 đồng; Lãi chậm trả: 1.184.273.768 đồng) và tiền lãi phát sinh trên số nợ gốc chưa thanh toán đến ngày Tổng công ty V1 trả hết nợ cho Ngân hàng Nông nghiệp theo lãi suất quá hạn, lãi chậm trả trong Hợp đồng tín dụng đã ký giữa hai bên.

Để đảm bảo cho khoản vay, Tổng công ty V1 đã tự nguyện ký các hợp đồng thế chấp, Các hợp đồng bảo đảm bao gồm:

  • Tài sản bảo đảm thứ nhất: Hợp đồng thế chấp tài sản hình thành trong tương lai số: 2700LCL201700447 ngày 27/09/2017. Tên tài sản bảo đảm (tài sản hình thành từ vốn vay): Hệ thống lọc bụi và ép kiện tự động, kèm theo 01 máy ép kiện bán tự động; máy chần bông, Model KSQT 64”/3 Bar 1.5"; máy chần bông, Model KSQT 64”/2 Bar. Giá trị tài sản bảo đảm đã hình thành (xác định tại thời điểm gần nhất) là: 4.137.000.000 đồng. Hợp đồng bảo đảm và các Hợp đồng bổ sung, sửa đổi được công chứng tại Văn phòng C, địa chỉ: Số F, phố Q, phường G, TP V, tỉnh Phú Thọ và đã được đăng ký tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại thành phố Hà Nội (số đơn đăng ký: 1285751048 ngày 26/04/2018).
  • Tài sản bảo đảm thứ hai: Hợp đồng thế chấp tài sản hình thành trong tương lai số: 2700LCL201800205 ngày 24/04/2018. Tên tài sản bảo đảm (tài sản hình thành từ vốn vay): Dây chuyền sản xuất bông cây, hệ thống ga, xe cặp hàng diesel, hệ thống máy nén khí. Giá trị tài sản bảo đảm đã hình thành (xác định tại thời điểm gần nhất) là: 28.014.000.000 đồng. Hợp đồng bảo đảm và các Hợp đồng bổ sung, sửa đổi được công chứng tại Văn phòng C, địa chỉ : Số F, phố Q, phường G, TP V, tỉnh Phú Thọ và đã được đăng ký tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại thành phố Hà Nội (số đơn đăng ký: 1301067680 ngày 24/09/2018 và số đơn 1301418137 ngày 26/09/2018).
  • Tài sản bảo đảm thứ ba: Hợp đồng thế chấp tài sản hình thành trong tương lai số: 2700LCL201800393 ngày 31/07/2018. Tên tài sản bảo đảm (tài sản hình thành từ vốn vay): Dây chuyền sản xuất đệm bông cứng; hệ thống ga; xe nâng cặp hàng diesel, hệ thống cầu dẫn xe nâng 3 khúc, hệ thống giàn lạnh và hệ thống điện. Giá trị tài sản bảo đảm đã hình thành (xác định tại thời điểm gần nhất) là: 11.128.500.000 đồng. Hợp đồng bảo đảm và các Hợp đồng sửa đổi, bổ sung được công chứng tại Văn phòng C, địa chỉ : Số F, phố Q, phường G, thành phố V, tỉnh Phú Thọ và đã được đăng ký tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại thành phố Hà Nội (số đơn đăng ký: 1326536458 ngày 14/05/2019 và số đơn 2036223126 ngày 09/10/2020).
  • Tài sản bảo đảm thứ tư: Hợp đồng thế chấp tài sản hình thành trong tương lai số: 2700LCL201900202 ngày 12/04/2019. Tên tài sản bảo đảm (tài sản hình thành từ vốn vay): Máy sâm kim bao gồm: 01 máy đâm trước, 02 máy châm kim, 01 quả là dầu, 01 máy cắt cuộn và 01 máy xử lý phế liệu. Giá trị tài sản bảo đảm đã hình thành (xác định tại thời điểm gần nhất) là: 4.880.000.000 đồng. Hợp đồng bảo đảm và các Hợp đồng sửa đổi, bổ sung được công chứng tại Văn phòng C, địa chỉ : Số F, phố Q, phường G, thành phố V, tỉnh Phú Thọ và đã được đăng ký tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại thành phố Hà Nội (số đơn đăng ký: 1338398252 ngày 21/08/2019).
  • Tài sản bảo đảm thứ năm: Hợp đồng thế chấp tài sản số: 2700LCL201700446 ngày 26/09/2017. Tên tài sản bảo đảm: Nhà điều hành, K, nhà bếp, nhà ăn, nhà kho, nhà để xe trong khuôn viên diện tích 556 m² của Tổng công ty V1 tại thửa đất số 1, tờ bản đồ 27, địa chỉ: Khu E - Phường V - Tp V - tỉnh Phú Thọ theo GCN QSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK 070622 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh P cấp ngày 19/09/2017. Hợp đồng bảo đảm và các Hợp đồng bổ sung, sửa đổi đã được công chứng tại Văn phòng C, địa chỉ: Số F, phố Q, phường G, thành phố V, tỉnh Phú Thọ và đã được đăng ký tại Văn phòng đăng ký QSD Đất - Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh P (số đơn đăng ký: 153 - quyển số 1 ngày 29/09/2017). Ngày 03/02/2021, Ngân hàng N1 đã bán đấu giá thành công tài sản trên với giá trúng đấu giá là: 4.050.000.000 đồng và đã bàn giao tài sản cho người trúng đấu giá. Sau khi trừ đi các chi phí bán đấu giá và chi phí xử lý tài sản bảo đảm có liên quan (số tiền: 32.640.000 đồng), Ngân hàng N1 đã thực hiện hạch toán thu nợ gốc tổng số tiền: 4.017.360.000 đồng của Hợp đồng tín dụng số 2700LAV201900655 (đã thông báo cho Tổng Công ty V1 về kết quả bán đấu giá và xử lý số tiền thu từ bán đấu giá tài sản bảo đảm theo Công văn số 255/NHNo.PT-KHDN ngày 11/03/2021). Ngân hàng N1 đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì không giải quyết hợp đồng thế chấp này do đã bán đấu giá tài sản thành công và đã hoàn thành bàn giao tài sản cho Bên trúng đấu giá.
  • Tài sản bảo đảm thứ sáu: Hợp đồng thế chấp tài sản số: 2700LCL201900269-TS ngày 02/05/2019 và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 2700LCL201900269 ngày 15/05/2019. Tên tài sản bảo đảm: Quyền sử dụng đất diện tích 1.300 m² tại thửa đất số: 57+66, tờ bản đồ số: 20+19 và toàn bộ hệ thống nhà xưởng khung, sân đường, tường rào và các công trình phụ trợ nằm trong khuôn viên đất diện tích 1.300 m² của Tổng Công ty V1 tại Phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số X 023361 do UBND Tỉnh P cấp ngày 24 tháng 6 năm 2004; đất thuê trả tiền một lần, thời gian thuê đất đến năm 2053. Giá trị tài sản bảo đảm là: 6.581.000.000 đồng. Hợp đồng bảo đảm được công chứng tại Văn phòng C, địa chỉ: Số F, phố Q, phường G, thành phố V, tỉnh Phú Thọ và đã được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất tỉnh Phú Thọ (số đơn đăng ký: 81 – quyển số 1 ngày 15/5/2019). Ngày 02/7/2021, Ngân hàng N1 đã bán đấu giá thành công tài sản trên với giá trúng đấu giá là: 6.100.000.000 đồng và đã bàn giao tài sản cho người trúng đấu giá. Sau khi trừ đi các chi phí bán đấu giá và chi phí xử lý tài sản bảo đảm có liên quan (số tiền: 134.576.500 đồng), Ngân hàng N1 đã thực hiện hạch toán thu nợ gốc tổng số tiền: 5.965.423.500 đồng của Hợp đồng tín dụng số 2700LAV201800212 (đã thông báo cho Tổng Công ty V1 về kết quả bán đấu giá và xử lý số tiền thu từ bán đấu giá tài sản bảo đảm theo Công văn số 482/NHNo.PT-KHDN ngày 28/02/2022).

Ngoài ra, số tiền thu được từ việc thanh lý vật liệu xây dựng phục vụ quá trình xử lý tài sản bảo đảm là: 4.017.360 đồng, Ngân hàng N1 đã thực hiện hạch toán thu nợ gốc số tiền: 4.017.360 đồng của Hợp đồng tín dụng số 2700LAV201900655.

Ngân hàng N1 đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì không giải quyết hợp đồng thế chấp này do đã bán đấu giá tài sản thành công và đã hoàn thành bàn giao tài sản cho Bên trúng đấu giá.

Thực hiện cam kết trong các Hợp đồng tín dụng đã ký, Ngân hàng N1 đã giải ngân cho Tổng công ty V1. Sau khi vay vốn Tổng công ty Vương Ngọc A1 đã không thanh toán cho Ngân hàng N1 số tiền gốc và lãi theo cam kết. Cụ thể theo từng hợp đồng tín dụng đã trình bày trên đến ngày xét xử Tổng công ty Vương Ngọc A1 không thanh toán cả gốc đến hạn và lãi theo hợp đồng vay đã ký giữa hai bên. Ngân hàng N1 đã nhiều lần trao đổi, nhắc nhở, thông báo tạo điều kiện để Tổng công ty Vương Ngọc A1 thanh toán nợ nhưng Tổng công ty Vương Ngọc A1 vẫn không thanh toán theo hợp đồng.

Ngay từ khi công ty G, đã triển khai nhiều biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp như giảm lãi suất cho vay, giãn thời gian trả lãi, cơ cấu lại thời hạn trả nợ... Tuy nhiên, sau khi được hỗ trợ, hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty vẫn không có dấu hiệu phục hồi; Tổng công ty V1 vẫn liên tục vi phạm các cam kết, thỏa thuận và không có thiện chí hợp tác với Ngân hàng N1, mặc dù đã được đôn đốc nhiều lần.

Để giảm bớt khó khăn tài chính đối với Công ty, hai bên đã thống nhất bán bớt các tài sản bảo đảm không trực tiếp tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh là: Nhà điều hành, K, nhà bếp, nhà ăn, nhà kho, nhà để xe trong khuôn viên diện tích 556 m² của Tổng công ty V1 tại thửa đất số 1, tờ bản đồ 27, địa chỉ: Khu E, phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ và Quyền sử dụng đất diện tích 1.300 m² tại thửa đất số: 57+66, tờ bản đồ số: 20+19 và toàn bộ hệ thống nhà xưởng khung, sân đường, tường rào và các công trình phụ trợ nằm trong khuôn viên đất diện tích 1.300 m² của Tổng Công ty V1 tại Phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Tuy nhiên, sau khi bán đấu giá thành công thì công ty L4, kéo dài thời gian bàn giao tài sản cho người trúng đấu giá, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của người trúng đấu giá cũng như quyền và lợi ích của Ngân hàng N1. Đến ngày 28/01/2022, Tổng Công ty V1 ký kết biên bản bàn giao tài sản.

Đến nay, công ty vẫn không khắc phục vi phạm, không trả được nợ theo cam kết, không cung cấp thông tin, tài liệu phục vụ công tác quản lý, kiểm tra, giám sát nợ vay. Tài sản hình thành từ vốn vay là các dây chuyền sản xuất, máy móc thiết bị do Ngân hàng Nông nghiệp đầu tư vẫn hoạt động tạo ra sản phẩm nhưng công ty không luân chuyển dòng tiền từ doanh thu qua tài khoản thanh toán mở tại Ngân hàng N1 (từ tháng 5/2020 đến nay); không thực hiện mua bảo hiểm tài sản cho các dây chuyền sản xuất, máy móc thiết bị; cố tình tìm mọi lý do để cản trở Ngân hàng N1 thực hiện quyền kiểm tra, giám sát tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh và tài sản bảo đảm tiền vay mặc dù Ngân hàng N1 đã nhiều lần đôn đốc (công ty liên tục trì hoãn không cho người của Ngân hàng vào bên trong khuôn viên nhà máy để kiểm tra, giám sát tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh và tài sản bảo đảm, có hành vi cản trở việc kiểm tra, giám sát thực tế tài sản bảo đảm tiền vay và hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty).

- Do Tổng công ty V1 vi phạm Hợp đồng tín dụng nên Ngân hàng Nông nghiệp yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Tổng công ty Vương Ngọc A1 phải trả một lần cho Ngân hàng Nông nghiệp bao gồm gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn, lãi chậm trả tính đến hết ngày 16/7/2024: 54.270.524.464 đồng (Trong đó: Dư nợ gốc quá hạn: 34.187.401.500 đồng; L2 phải trả trong hạn: 6.804.038.885 đồng; L2 phải trả quá hạn: 12.094.810.311 đồng; Lãi chậm trả: 1.184.273.768 đồng) và tiền lãi phát sinh trên số nợ gốc chưa thanh toán từ ngày 17/7/2024 đến ngày Tổng công ty V1 trả hết nợ cho Ngân hàng Nông nghiệp theo lãi suất quá hạn, lãi chậm trả trong Hợp đồng tín dụng đã ký giữa hai bên.

+ Tuyên buộc Tổng công ty cổ phần V1 phải tiếp tục trả lãi phát sinh (gồm lãi trong hạn, lãi quá hạn và lãi chậm trả) theo mức lãi suất thỏa thuận tại các Hợp đồng tín dụng/giấy nhận nợ đã ký kết, kể từ ngày tiếp theo của ngày Tòa án ra bản án cho đến ngày thực tế Tổng công ty Vương Ngọc A1 trả hết nghĩa vụ nợ gốc, lãi cho Ngân hàng N1.

Trong trường hợp Tổng công ty V1 không thực hiện việc trả đầy đủ các khoản nợ trên thì Ngân hàng Nông nghiệp có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý các tài sản bảo đảm theo các Hợp đồng thế chấp để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.

+ Tuyên nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ trả nợ cho Ngân hàng Nông nghiệp thì Ngân hàng N1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý bất kỳ tài sản nào thuộc quyền sở hữu, sử dụng của Tổng công ty V1 để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.

* Tại bản tự khai, quá trình giải quyết và tại phiên tòa đại diện theo pháp luật của bị đơn trình bày: Tổng công ty Cổ phần V1 xác nhận có ký kết các hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thế chấp tài sản với Ngân hàng N1 số tiền vay, mục đích vay vốn và đã được giải ngân như Ngân hàng Nông nghiệp trình bày là đúng. Việc thỏa thuận thời hạn vay và lãi suất như Ngân hàng N1 trình bày là đúng. Do làm ăn thua lỗ nên Tổng công ty Vương Ngọc A1 chưa thanh toán tiền gốc đến hạn theo từng hợp đồng tín dụng và lãi theo qui định của hợp đồng vay đã ký giữa hai bên.

Đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N1, Tổng công ty V1 có quan điểm đề nghị Ngân hàng Nông nghiệp cho công ty khoảng thời gian để trả nợ, do tình hình dịch bệnh COVID nên công ty mới không trả được nợ, do tình huống bất khả kháng. Việc Ngân hàng khởi kiện khi chưa hết dịch bệnh là không thuyết phục và đồng thời doanh nghiệp chưa được hưởng các chính sách hỗ trợ của Nhà nước sau dịch bệnh, đề nghị Ngân hàng N1 tạm hoãn khởi kiện cho đến năm 2025 khi hết chính sách ưu đãi của nhà nước, tạo điều kiện cho doanh nghiệp P2 sản xuất kinh doanh để trả nợ cho Ngân hàng N1. Nếu không trả được nợ Tổng công ty V1 đề nghị Tòa án giải quyết theo qui định của pháp luật.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn đồng ý với lời trình bày của bị đơn. Tại phiên tòa, Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn đề nghị Tóa án xem xét tính lãi suất theo đúng Hợp đồng hai bên đã ký kết, xem xét về việc Ngân hàng Nông nghiệp bán đấu giá tài sản thế chấp của Công ty, Tổng công ty Vương Ngọc A1 không đồng ý với kết quả bán đấu giá đề nghị hủy kết quả bán đấu giá; đề nghị đưa UBND phường V, UBND thành phố V, UBND tỉnh P, Công ty Đ1 tham gia tố tụng trong vụ án này; đề nghị tạm đình chỉ giải quyết vụ án chờ kết quả giải quyết của vụ án khác về giải quyết đất bị chồng lấn giữa ông Cao Xuân H, bà Trương Thị Kim T và Tổng công ty V1.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp tư nhân Đ trình bày: Ngày 03/02/2021 Doanh nghiệp tư nhân Đ tham gia đấu giá và trúng đấu giá tài sản đấu giá của Ngân hàng N1, chi nhánh P1. Tài sản trúng đấu giá là quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với quyền sử dụng thuê đất trả tiền hàng năm bao gồm: Nhà điều hành, ki ốt, nhà bếp, nhà ăn, nhà kho, nhà để xe trong khuôn viên diện tích 556m² của Tổng công ty V1 tại thửa đất số 1 tờ bàn đồ số 27 địa chỉ: Khu E, phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CK 070622 do sở tài nguyên và mội trường tỉnh Phú Thọ cấp ngày 19/9/2017; thời hạn thuê đất hết ngày 29/12/2053.

Sau khi trúng đấu giá đơn vị đã nộp đầy đủ số tiền trúng đấu giá, nhận bàn giao tài sản trúng đấu giá, làm đầy đủ các hồ sơ theo quy định trình UBND tỉnh P, Sở T, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất sở tài nguyên môi trường tỉnh P để được chuyển quyền sở hữu tài sản và tiếp tục thuê đất để thực hiện dự án của đơn vị

Đơn vị đã trúng đấu giá và nhận bàn giao tài sản đấu giá từ năm 2021 đến nay vẫn chưa được Sở T - Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh P ký hợp đồng cho thuê đất và cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản trúng đấu giá. Do vậy đơn vị không thực hiện được dự án đầu tư sản xuất kinh doanh, gây khó khăn cho hoạt động của doanh nghiệp.

Doanh nghiệp tư nhân Đ đề nghị Tòa án có văn bản phán quyết gửi Sở T - Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh P và các cơ quan đơn vị liên quan về việc cho Doanh nghiệp tư nhân Đ được tiếp tục thuê đất và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất theo đúng nội dung trong biên bản trúng đấu giá tài sản của Doanh nghiệp tư nhân Đ được Công ty Đ1 tổ chức ngày 03/02/2021. Đề nghị công nhận kết quả bán đấu giá.

* Tòa án đã tiến hành việc xem xét, thẩm định tại chỗ đối với tài sản của Tổng công ty V1 đã thế chấp cho Ngân hàng N1 (Bản kê phụ lục tài sản Do công ty TNHH T1 thực hiện):

  • Tài sản bảo đảm thứ nhất: Hợp đồng thế chấp tài sản hình thành trong tương lai số: 2700LCL201700447 ngày 27/09/2017. Tên tài sản bảo đảm (tài sản hình thành từ vốn vay): Hệ thống lọc bụi và ép kiện tự động, kèm theo 01 máy ép kiện bán tự động; máy chần bông, Model KSQT 64”/3 Bar 1.5"; máy chần bông, Model KSQT 64”/2 Bar
  • Tài sản bảo đảm thứ hai: Hợp đồng thế chấp tài sản hình thành trong tương lai số: 2700LCL201800205 ngày 24/04/2018. Tên tài sản bảo đảm (tài sản hình thành từ vốn vay): Dây chuyền sản xuất bông cây, hệ thống ga, xe cặp hàng diesel, hệ thống máy nén khí.
  • Tài sản bảo đảm thứ ba: Hợp đồng thế chấp tài sản hình thành trong tương lai số: 2700LCL201800393 ngày 31/07/2018. Tên tài sản bảo đảm (tài sản hình thành từ vốn vay): Dây chuyền sản xuất đệm bông cứng; hệ thống ga; xe nâng cặp hàng diesel, hệ thống cầu dẫn xe nâng 3 khúc, hệ thống giàn lạnh và hệ thống điện.
  • Tài sản bảo đảm thứ tư: Hợp đồng thế chấp tài sản hình thành trong tương lai số: 2700LCL201900202 ngày 12/04/2019. Tên tài sản bảo đảm (tài sản hình thành từ vốn vay): Máy sâm kim bao gồm: 01 máy đâm trước, 02 máy châm kim, 01 quả là dầu, 01 máy cắt cuộn và 01 máy xử lý phế liệu

Bản án Kinh doanh thương mại sơ thẩm số 04/2024/KDTM-ST ngày 16 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ đã quyết định:

Căn cứ vào các Điều: 463, 464, 465, 466, 467, 468, 317, 318, 320, 321, 322, 323 Bộ luật Dân sự năm 2015; Các Điều 90, 91, 93, 94, 95 Luật các tổ chức tín dụng;

Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điểm b khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 158 Bộ luật Tố dụng dân sự;

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 24 và khoản 2 Điều 26 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N1 đối với Tổng công ty cổ phần V1.

  1. Buộc Tổng công ty cổ phần V1 phải trả cho Ngân hàng N1 các khoản nợ tính đến ngày 16/7/2024 là:
    • - Tiền nợ gốc: 34.187.401.500 đồng
    • - Tiền nợ lãi trong hạn: 6.804.038.885 đồng
    • - Tiền nợ lãi quá hạn: 12.094.810.311 đồng
    • - Tiền lãi chậm trả: 1.184.273.768 đồng
    • Tổng cộng là 54.270.524.464 đồng (Năm mươi tư tỉ hai trăm bảy mươi triệu năm trăm hai mươi tư nghìn bốn trăm sáu mươi bốn đồng).

    Kể từ ngày 17/7/2024, Tổng công ty cổ phần V1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong trường hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay".

    Đình chỉ đối với yêu cầu buộc Tổng công ty cổ phần V1 phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng N1 số tiền gốc 5.969.423.500 đồng và lãi trong hạn, lãi quá hạn và lãi chậm trả tạm tính hết ngày xét xử và đình chỉ yêu cầu buộc Tổng công ty cổ phần V1 phải bàn giao tài sản đã bán đã bán đấu giá.

  2. Về xử lý tài sản thế chấp: Trường hợp Tổng công ty cổ phần V1 không thanh toán đầy đủ tất cả các khoản nợ gốc và nợ lãi cho Ngân hàng N1, thì Ngân hàng N1 có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ bao gồm:
    • Tài sản bảo đảm thứ nhất: Hệ thống lọc bụi và ép kiện tự động, kèm theo 01 máy ép kiện bán tự động; máy chần bông, Model KSQT 64”/3 Bar 1.5"; máy chần bông, Model KSQT 64”/2 Bar. Hợp đồng bảo đảm và các Hợp đồng bổ sung, sửa đổi được công chứng tại Văn phòng C, địa chỉ : Số F, phố Q, phường G, thành phố V, tỉnh Phú Thọ và đã được đăng ký tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại thành phố Hà Nội (số đơn đăng ký: 1285751048 ngày 26/04/2018),
    • Tài sản bảo đảm thứ hai: Dây chuyền sản xuất bông cây, hệ thống ga, xe cặp hàng diesel, hệ thống máy nén khí. Hợp đồng bảo đảm và các Hợp đồng bổ sung, sửa đổi được công chứng tại Văn phòng C, địa chỉ : Số F, phố Q, phường G, thành phố V, tỉnh Phú Thọ và đã được đăng ký tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại thành phố Hà Nội (số đơn đăng ký: 1301067680 ngày 24/09/2018 và số đơn 1301418137 ngày 26/09/2018).
    • Tài sản bảo đảm thứ ba: Dây chuyền sản xuất đệm bông cứng; hệ thống ga; xe nâng cặp hàng diesel, hệ thống cầu dẫn xe nâng 3 khúc, hệ thống giàn lạnh và hệ thống điện. Hợp đồng bảo đảm và các Hợp đồng sửa đổi, bổ sung được công chứng tại Văn phòng C, địa chỉ : Số F, phố Q, phường G, thành phố V, tỉnh Phú Thọ và đã được đăng ký tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại thành phố Hà Nội (số đơn đăng ký: 1326536458 ngày 14/05/2019 và số đơn 2036223126 ngày 09/10/2020),
    • Tài sản bảo đảm thứ tư: Máy sâm kim bao gồm: 01 máy đâm trước, 02 máy châm kim, 01 quả là dầu, 01 máy cắt cuộn và 01 máy xử lý phế liệu. Hợp đồng bảo đảm và các Hợp đồng sửa đổi, bổ sung được công chứng tại Văn phòng C, địa chỉ : Số F, phố Q, phường G, thành phố V, tỉnh Phú Thọ và đã được đăng ký tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại thành phố Hà Nội (số đơn đăng ký: 1338398252 ngày 21/08/2019).

    Trường hợp sau khi phát mại các tài sản thế chấp mà số tiền thu được không đủ để thanh toán khoản nợ (bao gồm cả gốc và lãi) thì Tổng công ty cổ phần V1 có nghĩa vụ tiếp tục trả hết số tiền nợ còn thiếu cho Ngân hàng N1.

  3. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Tổng công ty cổ phần V1 hoàn trả lại 27.500.000₫ (Hai mươi bảy triệu năm trăm nghìn đồng) cho Ngân hàng N1.

    Bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  4. Về án phí:
    • Tổng công ty cổ phần V1 chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm là 162.270.000 đồng (Một trăm sáu mươi hai triệu hai trăm bảy mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
    • Trả lại cho Ngân hàng N1 tiền tạm ứng án phí đã nộp là 78.440.000 (Bảy mươi tám triệu bốn trăm bốn mươi nghìn đồng chẵn) theo biên lai thu tiền số 0009851 ngày 22/11/2021 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

Ngày 30 tháng 7 năm 2024, người đại diện theo theo pháp luật của Tổng Công ty V1 là ông Phùng Ngọc A kháng cáo Bản án Kinh doanh thương mại sơ thẩm số 04/2024/KDTM-ST ngày 16/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ các nội dung, đề nghị cấp phúc thẩm xem xét các nội dung sau đây:

  1. Đề nghị xem xét lại lãi suất Tòa án cấp sơ thẩm tính chưa đúng, cụ thể bản án sơ thẩm tính lãi suất cao hơn quy định của pháp luật gây thiệt hại cho Tổng công ty V1.
  2. Ngân hàng đã bán đấu giá tài sản thế chấp của Tổng công ty V1 là quyền sử dụng đất thế chấp trong khi đất đó còn đang tranh chấp, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không đưa UBND phường Vân Cơ, UBND phương M, UBND thành phố V, UBND tỉnh P và Công ty Đ1 vào tham gia tố tụng tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
  3. Tòa án cấp sơ thẩm không buộc Doanh nghiệp tư nhân Đ trả tiền đất khai thác quyền sử dụng đất thuê hàng năm cho Tổng Công ty Vương Ngọc A1 là thiếu sót, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét buộc Doanh nghiệp tư nhân Đ phải trả tiền khai thác quyền sử dụng đất thuê hàng năm của Tổng công ty V1.

Vì Tòa án cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng nên đề nghị hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại.

* Tại phiên tòa Đại diện Tổng Công ty V1 giữ nguyên các nội dung đã kháng cáo.

* Tại phiên tòa, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của những người tiến hành tố tụng; Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về nội dung vụ án:

Xét thấy nội dung kháng cáo đề nghị xem xét lãi suất thấy rằng việc tính lãi suất của cấp sơ thẩm tính đúng quy định của pháp luật. Đề nghị đưa UBND phường V, UBND thành phố V, UBND tỉnh P và Công ty Đ1 vào tham gia tố tụng tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án trong khi tài sản các bên đã thực hiện đáu giá tài sản trên đất hoàn thành, còn quyền sử dụng đất Tổng công ty Cổ phần V1 thuê hàng năm không được đấu giá tài sản nên đề nghị đưa UBND phường V, UBND thành phố V, UBND tỉnh P và Công ty Đ1 vào tham gia tố tụng tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án là không có căn cứ và nội dung kháng cáo yêu cầu Doanh nghiệp tư nhân Đ phải trả tiền khai thác quyền sử dụng đất thuê hàng năm cho Tổng công ty Cổ phần V1 trong khi Doanh nghiệp tư nhân Đại việc sử dụng đất thông qua trúng đấu giá tài sản, không liên quan gì đến quan hệ tranh chấp tín dụng nên nội dung kháng cáo này của Tổng công ty cổ phần V1 cũng không có căn cứ để xem xét.

Vì vậy, phải bác toàn bộ kháng cáo của Tổng công ty V1. Giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

Về án phí Kinh doanh thương mại phúc thẩm: Kháng cáo của Tổng công ty Vương Ngọc A1 không có căn cứ nên phải chịu án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, căn cứ ý kiến trình bày của các bên đương sự, nội dung kháng cáo và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của Tổng Công ty V1 nộp trong thời hạn luật định, đơn hợp lệ nên cần chấp nhận để xem xét nội dung kháng cáo.

[2]. Xét kháng cáo của Tổng công ty Cổ phần V1 đề nghị xem xét lại việc tính lãi đối với các hợp đồng tính dụng thấy rằng: Do Tổng Công ty Vương Ngọc A1 không thực hiện đúng cam kết nên Ngân hàng không đồng ý giảm lãi, giãn nợ là có căn cứ. Tòa án cấp sơ thẩm không đưa ra cách tính lãi cụ thể đối với hợp đồng nhưng lại đưa ra số tiền lãi đối với các khoản nợ là chưa chặt chẽ, cần đưa ra cách tính lãi cụ thể đối với từng hợp đồng tín dụng cụ thể:

  • 2.1. Đối với hợp đồng tín dụng số 2700LAV201700624 dư nợ gốc và lãi phải trả là: 3.191.562.375 đồng (trong đó nợ gốc quá hạn 2.100.000.000 đồng, lãi phải trả trong hạn 308.700.000 đồng, lãi phải trả quá hạn 723.995.000 đồng, lãi chậm trả 58.867.375 đồng).
  • 2.2. Đối với hợp đồng tín dụng số 2700LAV2018000212 tổng dư nợ gốc và lãi phải trả là: 23.927.882.317 đồng (trong đó nợ gốc quá hạn 13.970.576.500 đồng, lãi phải trả trong hạn 4.347.256.655 đồng, lãi phải trả quá hạn 4.903.241.626 đồng và lãi chậm trả 706.807.536 đồng).
  • 2.3. Đối với hợp đồng tín dụng số 2700LAV201800493 tổng dư nợ gốc và lãi phải trả là: 10.372.103.321 đồng (trong đó nợ gốc quá hạn 6.800.000.000 đồng, lãi phải trả trong hạn 988.338.356 đồng, lãi phải trả quá hạn 2.394.780.822 đồng và lãi chậm trả là 188.984.143 đồng).
  • 2.4. Đối với hợp đồng tín dụng số 2700LAV201900227 tổng dư nợ gốc và lãi phải trả là 4.413.411.715 đồng (trong đó nợ gốc quá hạn 2.917.358.000 đồng, lãi phải trả trong hạn 431.931.851 đồng, lãi phải trả quá hạn 993.651.886 đồng, lãi chậm trả 70.469.978 đồng).
  • 2.5. Đối với hợp đồng tín dụng số 2700LAV201900655 tổng dư nợ gốc và lãi phải trả là 12.365.564.736 đồng (trong đó nợ gốc quá hạn 8.399.467.000 đồng; lãi phải trả trong hạn 727.812.023 đồng, lãi phải trả quá hạn 3.079.140.977 đồng, lãi chậm trả 159.144.736 đồng).

Tổng cả gốc và lãi của 05 hợp đồng tính đến ngày 16/7/2024 là 54.270.524.464đ (Năm mươi tư tỷ hai trăm bẩy mươi triệu năm trăm hai mươi tư nghìn bốn trăm sáu mươi tư đồng). Trong đó, dư nợ gốc quá hạn 34.187.401.500 đồng, lãi phải trả trong hạn 6.804.038.885 đồng, lãi phải trả quá hạn 12.094.810.311 đồng và lãi chậm trả 1.184.273.768 đồng (thể hiện chi tiết từ bút lục 661 đến Bút lục số 681 lưu trong hồ sơ vụ án) là có căn cứ, đúng pháp luật nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo đề nghị xem xét lại khoản tiền lãi của Tổng Công ty cổ phần V1.

[3] Xét kháng cáo của Tổng công ty V1 đề nghị hủy án sơ thẩm do Tòa án cấp sơ thẩm không đưa UBND phường Vân Cơ, UBND phường M, UBND thành phố V, UBND tỉnh P và Công ty Đ1 tham gia tố tụng tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án thấy rằng:

Hợp đồng thế chấp tài sản bảo đảm thứ năm: Hợp đồng thế chấp tài sản số: 2700LCL201700446 ngày 26/09/2017. Tên tài sản bảo đảm: Nhà điều hành, K, nhà bếp, nhà ăn, nhà kho, nhà để xe trong khuôn viên diện tích 556 m² của Tổng công ty V1 tại thửa đất số 1, tờ bản đồ 27, địa chỉ: Khu E - Phường V - Tp V - tỉnh Phú Thọ theo GCN QSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK 070622 do Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh P cấp ngày 19/09/2017. Đối với tài sản thế chấp này, giữa Tổng công ty Vương Ngọc A1 và Ngân hàng chỉ thế chấp tài sản trên đất, không thế chấp quyền sử dụng 556m² đất do diện tích đất này Tổng công ty V1 được UBND tỉnh P cho thuê đất trả tiền thuê hàng năm.

“Căn cứ điểm b, c khoản 1 Điều 175 của Luật đất đai năm 2013, quy định Quyền và Nghĩa vụ của tổ chức kinh tế, tổ chức sự nghiệp công lập sử dụng đất thuê trả tiền thuê đất hàng năm

“b) Thế chấp tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê tại các tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam”.

c) Bán tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê khi có đủ điều kiện quy định tại Điều 189 của Luật này; người mua tài sản được Nhà nước tiếp tục cho thuê đất theo mục đích đã được xác định;

Do Tổng công ty Vương Ngọc A1 thuê đất trả tiền thuê hàng năm nên chỉ được quyền thế chấp tài sản trên đất thuê hàng năm là “Nhà điều hành, K, nhà bếp, nhà ăn, nhà kho, nhà để xe”, không được quyền thế chấp quyền sử dụng đất. Do không trả được nợ đúng hạn nên ngày 03/02/2021, Tổng công ty Vương Ngọc A1 đã ủy quyền cho Ngân hàng Nông nghiệp bán đấu giá tài sản và Ngân hàng đã bán đấu giá thành công tài sản trên đất thuê hàng năm giá là: 4.050.000.000 đồng và đã bàn giao tài sản cho người trúng đấu giá là Doanh nghiệp tư nhân Đ để thực hiện quyền thuê đất theo mục đích Tổng công ty V1 đã được thuê trước đó. Quyền sử dụng đất không phải là tài sản thế chấp, không liên quan gì đến quan hệ tranh chấp hợp đồng tính dụng nên Tổng công ty Vương Ngọc A1 kháng cáo đề nghị đưa người tham gia tố tụng là UBND phường Vân Cơ, UBND phường M, UBND thành phố V, UBND tỉnh P và Công ty Đ1 là không có căn cứ nên phải bác nội dung kháng cáo này của Tổng Công ty cổ phần V1. Tổng Công ty Vương Ngọc A1 không thực hiện thủ tục bàn giao đất tại thời điểm Doanh nghiệp tư nhân Đ trúng đấu giá năm 2021, vẫn tiếp tục đóng tiền thuê đất và không thực hiện thủ tục trả lại quyền sử dụng đất là cố tình gây khó khăn cho Doanh nghiệp tư nhân Đ.

[4]. Xét kháng cáo của Tổng công ty V1 đề nghị buộc Doanh nghiệp tư nhân Đ trả tiền đất khai thác quyền sử dụng đất thuê hàng năm cho Tổng Công ty Cổ phần V1 thấy rằng:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 175 của Luật đất đai năm 2013 đã trích dẫn ở trên thấy rằng: Tổng Công ty Vương Ngọc A1 phải có nghĩa vụ giao quyền sử dụng đất để Doanh nghiệp trúng đấu giá thực hiện thuê lại đất đối với thời hạn còn lại, nhưng Tổng công ty Vương Ngọc A1 không giao lại quyền sử dụng đất, gây khó khăn cho Doanh nghiệp tư nhân Đ. Nhưng phạm vi vụ án này chỉ giải quyết hợp đồng tín dụng và tài sản thế chấp. Đối với quyền sử dụng đất diện tích 556m² của Tổng công ty V1 thuê hằng năm hay việc tranh chấp chồng lấn quyền sử dụng đất với quyền sử dụng đất của vợ chồng ông Cao Xuân H, bà Trương Thị Kim T không thuộc đối tượng thế chấp nên không xem xét, giải quyết trong vụ án; hay việc tranh chấp chồng lấn quyền sử dụng đất với quyền sử dụng đất của vợ chồng ông Cao Xuân H, bà Trương Thị Kim T không liên quan đến hợp đồng tín dụng, tài sản thế chấp để giải quyết trong vụ án. Đối với nội dung kháng cáo của Tổng công ty V1 đề nghị Doanh nghiệp tư nhân Đ phải trả tiền đất khai thác quyền sử dụng đất thuê hàng năm cho Tổng công ty Vương Ngọc A1 nhưng không có yêu cầu độc lập để xem xét tại cấp sơ thẩm nên không có căn cứ để xem xét đề nghị này của Tổng công ty V1 tại cấp phúc thẩm. Nếu có yêu cầu thì Tổng công ty Vương Ngọc A1 đề nghị giải quyết trong vụ án khác.

Từ những nội dung đã nêu và phân tích ở trên thấy rằng: Các nội dung kháng cáo của Tổng công ty Vương Ngọc A1 đề nghị tính lại lãi suất tiền vay tại hợp đồng tín dụng; kháng cáo không đưa thêm người tham gia tố tụng trong vụ án đều không có căn cứ để chấp nhận và kháng cáo đề nghị buộc Doanh nghiệp tư nhân Đ phải thanh toán tiền khai thác quyền sử dụng đất thuê hàng năm cho Tổng Công ty V1 không có căn cứ để giải quyết trong cùng vụ án này. Nên phải bác toàn bộ kháng cáo đề nghị tính lại lãi suất tiền vay tại hợp đồng tín dụng; kháng cáo không đưa thêm người tham gia tố tụng trong vụ án của Tổng Công ty Vương Ngọc A1 và không giải quyết nội dung kháng cáo đề nghị buộc doanh nghiệp tư nhân Đ phải thanh toán tiền khai thác quyền sử dụng đất thuê cho Tổng công ty Vương Ngọc A1. Giữ nguyên quyết định bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ là có căn cứ, đúng pháp luật.

[5] Về án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm: Căn cứ Nghị quyết số 326 ngày 31/12/2016 của UBTVQH 14 quy định thì án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm người kháng cáo phải nộp tạm ứng là 2.000.000 đồng. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm lại thông báo người kháng cáo là Tổng công ty Cổ phần V1 nộp số tiền 300.000đồng như tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm là chưa đúng quy định của pháp luật cần rút kinh nghiệm. Do kháng cáo của Tổng công ty Vương Ngọc A1 không được chấp nhận nên Tổng Công ty Vương Ngọc A1 phải chịu án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

[6] Xét quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa đề nghị bác toàn bộ kháng cáo của Tổng công ty Vương Ngọc A1 là có căn cứ nên cần chấp nhận.

[7] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

    Xử: Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của Tổng Công ty Cổ phần V1.

    Giữ nguyên bản án Kinh doanh thương mại sơ thẩm số 04/2024/KDTM-ST ngày 16/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

  2. Về án phí Kinh doanh thương mại phúc thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 148 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 29 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

    Tổng công ty Cổ phần đầu và Đầu tư Vương Ngọc A1 phải chịu 2.000.000₫ (Hai triệu đồng) án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm. Xác nhận Tổng công ty Cổ phần V1 Vương Ngọc A1 đã nộp số tiền 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0006216 ngày 01 tháng 8 năm 2024, tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Tổng công ty Cổ phần đầu và Đầu tư Vương Ngọc A1 còn phải nộp 1.700.000 đ (Một triệu bảy trăm nghìn đồng) án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm.

  3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo và không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm hết kháng cáo và kháng nghị.

    Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - VKSND VKS thành phố Việt Trì;
  • - Chi cục THADS thành phố Việt Trì;
  • - TAND thành phố Việt Trì;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu văn phòng.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Hán Hưởng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2025/KDTM-PT ngày 24/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 07/2025/KDTM-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2025
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bác kháng cáo của Tổng công ty Vương Ngọc Anh
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger