Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ HÒA

TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2025/HSST

Ngày: 27/02/2025.

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ HÒA - TỈNH PHÚ YÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Thu Hiền;

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Hoàn Thiện;

2. Ông Lê Văn Trưởng.

Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Rum Ba – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Phan Đình Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Hòa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 02/2025/HSST ngày 20 tháng 01 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2025/HSST-QĐ ngày 12 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Phùng Tấn L, tên gọi khác: B, sinh năm 1994, tại tỉnh Phú Yên; Nơi cư trú: Thôn X, xã H, thành phố T, tỉnh Phú Yên; Nghề nghiệp: Nông; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Phùng Văn Đ, sinh năm: 1966 và bà Đặng Thị T, sinh năm: 1968; có vợ và 02 con, lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 13/3/2012 bị Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa xử phạt 06 tháng cải tạo không giam giữ về hành vi hủy hoại tài sản. Đã chấp hành xong từ ngày 28/5/2012 (Bút lục 259).

Ngày 03/12/2021, bị Công an thành phố T xử phạt hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi cố ý gây thương tích.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/10/2024 đến nay tại nhà tạm giữ Công an huyện P có mặt tại điểm cầu thành phần nhà tạm giữ.

* Bị hại:

  1. Đặng Công D, sinh năm 1996, địa chỉ: Thôn S, xã H, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
  2. Lê Văn A, sinh năm 1967, địa chỉ: Thôn T, xã H, thành phố T, tỉnh Phú Yên.
  3. Trương Minh P, sinh năm 1999, địa chỉ: Thôn P, xã A, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Dương Thị Đ1, sinh năm 1969, địa chỉ: Thôn T, xã H, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.

* Người làm chứng:

  1. Lê Văn T1, sinh năm 1988. Vắng mặt. địa chỉ: Thôn L, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên.
  2. Cao Tấn V, sinh năm 1992. Vắng mặt.
  3. Cao Thị D1, sinh năm 1990. Vắng mặt. Cùng địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên.
  4. Lê Văn T2, sinh năm 1991, địa chỉ: Thôn X, xã H, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 05/10/2024, Phùng Tấn L đi bộ đến tiệm Internet “Văn Chỉ” ở thôn X, xã H, thành phố T, tỉnh Phú Yên để chơi game, mục đích chờ cơ hội để trộm cắp xe máy bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, L thấy bên ngoài tiệm có dựng một số xe mô tô của khách chơi game nhưng không có người trông coi, nên L dùng đoản phá khóa xe mô tô biển số 78C1-597.68, nhãn hiệu YAMAHA, loại Exciter, màu đen của anh Đặng Công D để trộm thì đèn trước và sau xe bật sáng, L sợ bị phát hiện nên bỏ đi, làm hư hỏng ổ khóa xe. Sau đó, L đi ngang qua nhà ông Lê Văn A ở thôn T, xã H, thành phố T thấy trong sân có dựng xe mô tô biển số 78N3-8132, nhãn hiệu stream, màu sơn đỏ đen, nên lén lút lấy trộm rồi điều khiển xe mô tô chạy trên đường K đến thôn L, xã H, huyện P, thấy nhà ông Lê Văn T1 đang tổ chức ăn nhậu hát karaoke bên trong nhà, trước sân có dựng xe mô tô. L bỏ lại xe mô tô biển số 78N3-8132 trước cửa ngõ nhà ông T1, đi bộ vào sân lén lút lấy trộm xe mô tô biển số 78C1-521.74, nhãn hiệu Honda, loại Winner, màu đỏ đen của ông Trương Minh P rồi điều khiển xe bỏ chạy vào tỉnh Khánh Hòa để tiêu thụ thì bị Cơ quan Công an phát hiện bắt giữ cùng tang vật.

Tại kết luận định giá tài sản số 37/KL-HĐĐGTS ngày 11/10/2024 và kết luận định giá số 56/KL-HĐĐGTS ngày 31/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện P: xe mô tô biển số 78C1-521.74 trị giá 20.417.000 đồng.

Tại kết luận định giá tài sản số 93/KL-HĐĐGTS ngày 28/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản thành phố T, xe mô tô biển số 78C1-597.68 có giá 20.500.000 đồng, xe mô tô biển số 78N3-8132 có giá 1.025.000 đồng.

Tại kết luận số 102/KL- HĐĐGTS ngày 27/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản thành phố T ổ khóa điện xe mô tô YAMAHA EXCITER 150 hư hỏng, phải thay có giá là 380.000 đồng.

Vật chứng vụ án: Đã trả lại cho chủ sở hữu xe mô tô biển số 78C1-521.74 và 01 bộ túi nhựa màu đen cùng 01 máy bắn vít cầm tay cho Trương Minh P; Đã trả lại xe mô tô biển số 78N3-8132 cho Lê Văn A; Đã trả lại xe mô tô biển số 78C1-597.68 cho Đặng Công D.

Đang tạm giữ: 01 ổ khóa điện xe mô tô loại YAMAHA EXCITER 150, bị hư hỏng; 01 điện thoại di động loại MASTELL A7 PRO; 01 điện thoại di động hiệu REDMI 9C.

Phần dân sự: Các bị hại đã nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường thiệt hại, bị hại Phạm Công D2 yêu cầu bồi thường 380.000.000 đồng, giá trị ổ khóa điện xe mô tô đã hư hỏng.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi như nội dung bản cáo trạng và xin hội đồng xét xử (HĐXX) xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Bị hại D2 yêu cầu tiền bồi thường ổ khóa hư hỏng và tiền công lắp đặt là 400.000 đồng, bị cáo đã bồi thường xong.

Bị hại Trương Minh P tại phiên tòa mới phát sinh yêu cầu bồi thường thiệt hại về camera hành trình bị hư hỏng là và tiền thuê xe taxi đi tìm tài sản bị mất nhưng không cung cấp được giấy tờ gì chứng minh thiệt hại nên thống nhất rút lại yêu cầu để khởi kiện sau.

Tại bản cáo trạng số 03/CT-VKSPH ngày 20/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Hòa đã truy tố bị cáo Phùng Tấn L về tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự (BLHS)”.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát tranh luận và luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) áp dụng Khoản 1 Điều 173, điểm s Khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, điều 38, Điều 57 BLHS, xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 06/10/2024.

Về dân sự: Các bên đã bồi thường xong, không đề nghị HĐXX giải quyết.

Về vật chứng: Đề nghị HĐXX tuyên trả lại 02 điện thoại di động cho bị cáo, tịch thu tiêu hủy 01 ổ khóa điện đã bị hư hỏng.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo ăn năn hối cải, xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Dương Thị Đ1 và người làm chứng Lê Văn T1, Cao Tấn V, Cao Thị D1 đều vắng mặt, việc vắng mặt những người này không ảnh hưởng đến kết quả xét xử vụ án, căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật tố tụng hình sự Hội đồng tiếp tục xét xử.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, như nội dung cáo trạng đã nêu, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 05/10/2024, tại quán "" tại thôn X, xã H, thành phố T, Phùng Tấn L đã chuẩn bị sẵn một đoản phá khóa tự chế, để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản xe mô tô biển số 78C1-597.68, sau khi phá khóa, đèn xe phát sáng bị cáo không tắt được nên đã bỏ đi, việc đèn xe phát sáng, bị cáo không tắt được là diễn ra ngoài ý thức chủ quan của bị cáo. Mặc dù bị cáo chưa lấy được tài sản, tuy nhiên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt theo quy định tại điều 15 Bộ luật hình sự. Bị cáo còn được áp dụng Điều 57 BLHS khi lượng hình phạt đối với lần trộm cắp này.

Ngoài ra, trong ngày 05/10/2024 bị cáo liên tiếp lén lút lấy trộm 02 chiếc xe mô tô khác có biển số 78N3-8132 (vì giá trị xe thấp nên bị cáo bỏ lại) và xe mô tô có biển số 78C1-597.68, trên đường mang đi tiêu thụ thì bị bắt phạm tội quả tang. Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS với tổng số tiền 41.942.000 đồng là phù hợp với mục 3, 4 phần I, Công văn 64/TANDTC-PC ngày 03/4/2019 của Tòa án nhân dân Tối Cao.

Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 BLHS như cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo.

Hành vi của bị cáo mang tính chất nguy hiểm cao đã xâm phạm trực tiếp đến quyền về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh, trật tự công cộng tại địa phương. Bị cáo là người có đủ tuổi, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện với lỗi cố ý. Bản thân bị cáo là người nghiện ma túy, có nhân thân xấu, xem thường pháp luật, không có ý thức tự cải tạo, giáo dục thành công dân có ích xã hội nên cần cách ly ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo:

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình tiến hành tố tụng và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả nên được áp dụng điểm b, s khoản 1 Điều 51 BLHS.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Hành vi của bị cáo liên tục trộm cắp từ 02 lần trở lên, nên áp dụng tình tiết phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g, khoản 1 Điều 52 BLHS.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã nhận lại tài sản không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên HĐXX không xét.

Riêng về ổ khóa điện bị hỏng, tại phiên tòa bị hại Đặng Công D yêu cầu bồi thường về tiền thiệt hại là 400.000 đồng, bị cáo đã bồi thường xong.

Ngoài ra, tại phiên tòa bị hại Trương Minh P yêu cầu bồi thường thiệt hại do xe bị hư camera hành trình và tiền thuê xe taxi để đi tìm xe bị mất, đây là yêu cầu mới phát sinh, từ trước đến nay bị hại không yêu cầu bồi thường và cũng không cung cấp bất kỳ tài liệu, chứng cứ gì chứng minh các khoản thiệt hại. Do đó cần dành quyền khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng để giải quyết bằng vụ án dân sự khác nếu bị hại Trương Minh P phát sinh yêu cầu khởi kiện, bị hại cũng thống nhất với giải thích của Tòa án nên đồng ý rút lại yêu cầu.

[6] Về vật chứng:

Xét thấy Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P đã trả lại cho chủ sở hữu xe mô tô biển số 78C1-521.74 và 01 bộ túi nhựa màu đen cùng 01 máy bắn vít cầm tay cho Trương Minh P; Đã trả lại xe mô tô biển số 78N3-8132 cho Lê Văn A; Đã trả lại xe mô tô biển số 78C1-597.68 cho Đặng Công D là đúng pháp luật.

Áp dụng các điều 47 BLHS, điều 106 BLTTHS:

Cần tịch thu tiêu hủy 01 ổ khóa điện xe mô tô loại YAMAHA EXCITER 150, bị hư hỏng vì không còn giá trị sử dụng.

Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động loại MASTELL A7 PRO; 01 điện thoại di động hiệu REDMI 9C.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Hòa ngày 25/11/2024).

[7] Các đề xuất của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với các nhận định của HĐXX nên được xem xét chấp nhận.

[9] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 BLTTHS và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 15, 47, 57, điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm g Khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Áp dụng Điều 106, 292, 293 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tuyên bố bị cáo Phùng Tấn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

  1. Xử phạt: Phùng Tấn L 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 06/10/2024.
  2. Về dân sự: Bị cáo đã bồi thường xong theo yêu cầu của các bị hại, nên HĐXX không xem xét, giải quyết. Riêng bị hại Trương Minh P dành quyền khởi kiện vụ án dân sự khác nếu phát sinh yêu cầu khởi kiện.
  3. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 ổ khóa điện xe mô tô loại YAMAHA EXCITER 150, bị hư hỏng. Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động loại MASTELL A7 PRO; 01 điện thoại di động hiệu REDMI 9C.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Hòa ngày 25/11/2024).

  1. Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Phùng Tấn L phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng chẵn) án phí hình sự sơ thẩm.
  2. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - Người tham gia tố tụng;
  • - VKSND huyện Phú Hòa;
  • - Công an huyện Phú Hòa;
  • - TAND tỉnh Phú Yên;
  • - VKSND tỉnh Phú Yên;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Phú Yên;
  • - TAND cấp cao Đà Nẵng;
  • - Chi cục THAHS huyện Phú Hòa;
  • - Cơ quan THAHS Công an huyện Phú Hòa;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Thị Thu Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2025/HSST ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ HÒA - TỈNH PHÚ YÊN về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 07/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ HÒA - TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phùng Tấn L trộm cắp tài sản là xe máy, bị bắt quả tang cùng tài sản và phương tiện, bị hại đã nhận lại tài sản không yêu cầu gì, bị cáo bị xét xử về tội Trộm cắp tài sản theo Khoản 1 Điều 173 BLHS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger