|
TAND KHU VỰC 4 TỈNH LAI CHÂU Bản án số: 07/2025/HSST Ngày: 03/12/2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4- LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Bình.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Định; Bà Lý Thị The .
- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Thị Tuyết- Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 4- Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4- Lai Châu tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Tâm- Kiểm sát viên.
Trong ngày 03 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở TAND Khu vực 4- Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 01/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2025/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:
Lã Văn Q, sinh năm 1994, tại tỉnh Ninh Bình.
Quê quán: Xã P, tỉnh Ninh Bình; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Bản N, xã B, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 5/12; Chức vụ đoàn thể, chính quyền: Không; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lã Văn L, sinh năm 1971, con bà Phạm Thị N, sinh năm 1973; Bị cáo có vợ: Ly Mò M, sinh năm 1987 và có 01 con sinh năm 2024; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Năm 2017 bị TAND huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu (nay là TAND Khu vực 4- Lai Châu) xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” hiện đã được xóa án tích; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/7/2025 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Mường Tè thuộc trại tạm giam Công an tỉnh L. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 03/7/2025, Lã Văn Q điều khiển xe mô tô nhãn hiệu LIFAN BKS: 25AM-004.05 (xe thuộc quyền sở hữu của Q) đi từ nhà tại bản N, xã B lên bản Đ, xã B mục đích tìm mua Heroine để sử dụng.
Tại đây, Q gặp một người đàn ông dân tộc L, khoảng 40 tuổi, không rõ nhân thân, lai lịch. Qua trao đổi, Q mua của người đàn ông này 01 gói nilon màu hồng, bên trong có 04 gói nhỏ Heroine, mỗi gói được gói bằng nilon màu trắng với giá 100.000 đồng. Sau khi nhận Heroine, Q cất giấu vào túi quần phía trước bên phải đang mặc, rồi điều khiển xe mô tô về nhà.
Hồi 11 giờ 35 phút cùng ngày, khi Q điều khiển xe mô tô về đến khu phố A (nay là thôn A), xã B, tỉnh Lai Châu thì bị Tổ công tác Công an xã B phối hợp với Công an xã B, tỉnh Lai Châu phát hiện, bắt quả tang và thu giữ gói Heroine như đã mô tả ở trên trong túi quần phía trước bên phải của Q.
Tại Bản kết luận giám định số 543/KL-KTHS ngày 05/7/2025 của phòng K Công an tỉnh L kết luận: Số chất bột màu trắng thu giữ của Lã Văn Q có tổng khối lượng 02 gam; 04 (bốn) mẫu chất bột, màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Heroine
Tại bản cáo trạng số 01/CT- VKSKV4 ngày 13/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4- Lai Châu truy tố bị cáo Lã Văn Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự (Sửa đổi bổ sung năm 2025). Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lã Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự (sửa đổi bổ sung năm 2025); điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Lã Văn Q từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm, đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung và bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 mảnh nilon màu hồng, 04 mảnh nilon màu trắng. Đề nghị tịch thu bán sung quỹ Nhà nước chiếc xe mô tô nhãn hiệu LIFAN biển kiểm soát 25AM-004.05 xe đã qua sử dụng.
Bị cáo nhất trí với bản cáo trạng, bản luận tội của Viện kiểm sát và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức án cho bị cáo.
Lời nói sau cùng bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và đề nghị xin lại chiếc xe mô tô.
Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an tỉnh L- Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4- Lai Châu- Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp.
[2] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên Tòa và trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội phù hợp với lời khai nhận tội tại cơ quan điều tra, biên bản thu giữ, niêm phong vật chứng, kết luận giám định về chất ma túy, các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Tòa án đã có đủ căn cứ kết luận: Hồi 11 giờ 35 phút ngày 03/7/2025, tại khu phố A (nay là thôn A), xã B, tỉnh Lai Châu, Lã Văn Q đang tàng trữ trái phép 01 gói Heroine có khối lượng 02 gam trong túi quần phía trước bên phải để sử dụng cho bản thân thì bị Tổ công tác Công an xã B phối hợp với Công an xã B phát hiện, bắt quả tang. Do đó hành vi của bị cáo Lã Văn Q đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Hành vi nêu trên của bị cáo Lã Văn Q là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến khách thể được pháp luật hình sự Việt Nam bảo vệ, đó là chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và biết rõ hành vi phạm tội của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng để thỏa mãn nhu cầu cá nhân nên vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo không những trực tiếp hủy hoại sức khỏe con người, làm suy thoái giống nòi, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội và an ninh quốc gia mà còn là nguyên nhân chủ yếu làm gia tăng tội phạm khác.
[3] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự thấy: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Nên cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về nhân thân: Tại bản án số 11/2017/HSST, ngày 23/11/2016 của Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu (nay là TAND Khu vực 4- Lai Châu) xử phạt bị cáo 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Bị cáo chấp hành hình phạt tù xong ngày 12/12/2017, nộp án phí ngày 23/11/2016. Tính đến thời điểm phạm
tội, ngày 03/7/2025 bị cáo đã được xóa án tích.
Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội và nhân thân của bị cáo về hành vi phạm tội của mình. Hội đồng xét xử xét thấy cần có một mức án phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội đồng thời để nâng cao ý thức pháp luật trong nhân dân, đảm bảo công tác phòng ngừa chung cho xã hội. Do đó mức hình phạt như đại diện Viện kiểm sát đề nghị là hoàn toàn phù hợp, cần chấp nhận.
[4] Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo thì bị cáo nghiện ma túy, không có tài sản để đảm bảo thi hành án, không có nghề nghiệp ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Về nguồn gốc ma túy thu giữ trong vụ án: Lã Văn Q khai đã mua được của người đàn ông dân tộc La Hủ nhưng do Q không biết họ, tên của người này, Cơ quan Cảnh sát điều tra không đủ căn cứ để điều tra làm rõ để xử lý trong cùng vụ án này. Hội đồng xét xử chấp nhận và không đề cập giải quyết.
[6] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 gói nilon màu hồng, bên trong có 04 gói nilon màu trắng chứa Heroine, có tổng khối lượng 02 gam, toàn bộ số Heroine đã được gửi giám định (không hoàn lại mẫu vật) nên không đề cập giải quyết. Vật chứng còn lại 01 mảnh nilon màu hồng và 04 mảnh nilon màu trắng, tất cả đều không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu LIFAN biển kiểm soát 25AM-004.05, đây là phương tiện bị cáo dùng vào việc đi mua ma túy nên cần tịch thu bán sung quỹ Nhà nước.
[7] Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[8] Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 Luật số 86/2025/QH 15 ngày 25/6/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106; Khoản 2 Điều 135; Khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố bị cáo Lã Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Lã Văn Q 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/7/2025.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 mảnh nilon màu hồng và 04 mảnh nilon màu trắng. Tịch thu bán sung quỹ Nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu LIFAN biển kiểm soát 25AM-004.05, xe đã qua sử dụng.
(Vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh L và Phòng Thi hành án Dân sự Khu vực 4- Lai Châu ngày 21/10/2025).
- Án phí HSST: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Văn Bình |
Bản án số 07/2025/HSST ngày 03/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - LAI CHÂU về tàng trữ trái phép chất ma túy (vụ án hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 07/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Vụ án hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ...
