Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THANH SƠN

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2025/HSST

Ngày 27/3/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN, TỈNH PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Anh Nhinh

Các Hội thẩm nhân dân.

Bà Triệu Thị Hai

Ông Đinh Mạnh Hùng.

Thư ký phiên toà: Ông Đỗ Hải Long- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ. Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 04/2025/HS-ST ngày 22 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:11/2025/QĐXXST - HS ngày 17 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: ĐINH XUÂN HẠNH

Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không;

Sinh ngày: 25/5/1985; tại: huyện T, Phú Thọ; Nơi ĐKNKTT + Chỗ ở: khu Q, xã C, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Đảng viên Đảng viên Đ2 (Đình chỉ sinh hoạt Đảng theo quyết định số 276-QĐ/UBKTHU ngày 22/10/2024 của ủy ban kiểm tra huyện ủy T4, tỉnh Phú Thọ); Con ông: Đinh Chiến C, sinh năm 1957; Con bà: Đỗ Thị L, sinh năm 1963; Vợ: Nguyễn Thị Kim N, sinh năm 1986; Con: có 01 con sinh năm 2017.Hiện bố, mẹ, vợ, con đều ở tại khu Q, xã C, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 18/10/2024 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại trại tạm giam công an tỉnh P.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

Người bị hại:

  1. Chị Hà Thị H, sinh năm 1997 (Đã chết).
  2. Địa chỉ: Khu A, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

  3. Cháu Đinh Ngọc Thiên A, sinh 2021.

Đại diện gia đình bị hại: Anh Đinh Văn T, sinh năm 1993.

Người đại diện theo pháp luật cho cháu A : Anh Đinh Văn T, sinh năm 1993

Đều cùng địa chỉ: Khu A, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Chị Nguyễn Thị Kim N, sinh năm 1986.

Địa chỉ: Khu Q, xã C, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

Những người làm chứng:

  1. Chị Đinh Thị M, sinh năm1986.
  2. Địa chỉ: Khu Q, xã C, T, tỉnh Phú Thọ.

  3. Anh Đinh Đại D, sinh năm 1978.
  4. Địa chỉ: Khu Q, xã C, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

  5. Anh Nguyễn Hồng P, sinh năm 1982
  6. Địa chỉ: Khu Q, xã C, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

( anh T có mặt, chị N, chị M, anh D, anh P đều vắng mặt; chị N vắng mặt có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 13/7/2024, Đinh Xuân H1 và anh Đinh Xuân S đến quán nhà chị Đỗ Thị H2 uống rượu, bia. Sau khi uống rượu, bia H1 một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, màu nâu, BKS: 19B1-105.12 đi về nhà theo hướng xã Đ, huyện T đi xã C, huyện T. Đến khoảng 22 giờ 00 phút, H1 điều khiển xe mô tô đi đến đoạn đường liên xã thuộc khu Q, xã C, huyện T (đây là đoạn đường thẳng, được trải nhựa áp phan tương đối bằng phẳng). Do H1 đã uống rượu, bia không tỉnh táo nên điều khiển xe mô tô BKS: 19B1-105.12 không đi bên phải mà đi sang phần đường bên trái theo hướng đi của H1 (hướng xã H đi xã C). Cùng thời điểm này, có xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade, màu: đỏ, đen, BKS: 19L1-328.25 do anh Đinh Văn T, điều khiển chở vợ là chị Nguyễn Thị H3, sinh năm 1997 và con gái là cháu Đinh Ngọc Thiên A, sinh năm 2021 (đang đi tại phần đường phải theo hướng xã C, huyện T đi xã H, huyện T (ngược với hướng của H1 ) đi tới. Khi xe mô tô do H1 điều khiển cách xe mô tô của anh T khoảng 10m, lúc này H1 vẫn điều khiển xe mô tô đi ở phần đường bên trái theo hướng đi của H1. Để tránh không va chạm với xe mô tô do H1 điều khiển, anh T cùng một lúc bóp cả phanh trước và phanh sau của xe mô tô dẫn đến xe mô tô BKS: 19L1-328.25 do anh T điều khiển bị đổ nghiêng sang trái tại phần đường bên phải theo hướng đi của anh T rồi rê trượt về phía trước còn anh T, cháu A và chị H3 bị ngã xuống đường. Thấy vậy, H1 giật mình điều khiển xe mô tô BKS: 19B1-105.12 đi chéo từ phần đường bên trái sang phần đường bên phải theo hướng đi của H1 thì xe mô tô của H1 điều khiển va chạm vào người chị H3 (vị trí va chạm tại phần đường bên phải hướng đi của anh T). Sau khi va chạm vào người chị H3 thì H1 điều khiển xe mô tô đi loạng choạng và đổ xuống phần đường bên phải theo hướng đi của H1. H1 bị ngã xuống đường sau đó đứng lên nói với anh T “em đi sai rồi, em xin lỗi” thì anh T chửi “mày đi kiểu gì mày đâm vào vợ tao, tao đập chết mày bây giờ”. Lúc này người dân ở hai bên đường nghe thấy tiếng va chạm nên chạy ra đường đến chỗ chị H3 nằm, lấy khăn lau máu ở mặt, cổ cho chị H3 và gọi xe ô tô đưa chị H3, cháu A đi cấp cứu tại Trung tâm y tế huyện T. Do chị H3 bị thương nặng nên được chuyển đến Bệnh viện đa khoa tỉnh P điều trị đến ngày 14/7/2024 chị H3 tử vong.

Sau khi vụ tai nạn giao thông xảy ra, Cơ quan CSĐT – Công an huyện T đã tiến hành tổ chức khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, khám nghiệm phương tiện, thu thập chứng cứ liên quan đến vụ tai nạn giao thông.

Kết quả khám nghiệm hiện trường thể hiện:

Hiện trường xảy ra vụ tai nạn giao thông là đoạn đường thẳng, được trải nhựa áp phan tương đối bằng phẳng thuộc đường liên xã K, xã C, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Mặt đường rộng 4,55m, tiếp giáp mép đường phải là lề đường bê tông rộng 0,3m, tiếp giáp lề bê tông là rãnh thoát nước rộng 0,42m, sâu 0,65m, ở giữa là lối mở rộng 6,0m đi vào nhà anh Đinh Công T1, sinh năm: 1973, trú tại khu Q, xã C, huyện T, Phú Thọ. Tiếp giáp mép đường trái là lề bê tông rộng 1,4m, tiếp giáp lề bê tông là các hộ dân khu Q, xã C, huyện T, Phú Thọ. Quá trình khám nghiệm hiện trường xác định trên hiện trường để lại 15 vị trí dấu vết, phương tiện và được đánh số thứ tự từ 01 đến 15.

Kết quả khám nghiệm phương tiện:

Khám xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, màu nâu, BKS: 19B1-105.12 (Xe do Đinh Xuân H1 điều khiển): Phần gương chiếu hậu bên phải bị đẩy lệch khỏi vị trí ban đầu. Phần gương chiếu hậu bên trái bị đẩy lệch khỏi vị trí ban đầu phần mặt ngoài gương bám dính bùn đất màu vàng có vết chà xát nhựa, kích thước (12x0,2)cm. Phần đầu tay lái bên trái có vết chà xát cao su mài mòn, kích thước (2,5x0,5)cm. Vị trí thấp nhất cách mặt đất 100cm. Phần ốp dưới xi nhan bên trái bị nứt vỡ nhựa, kích thước (3x1,5)cm. Để chân bên trái có vết chà xát cao su mài mòn kim loại ở phía trong cao su, kích thước (4,5x2)cm, vị trí thấp nhất cách mặt đất 32cm. Phần trụ phía trong của để chân chính có vết mài mòn kim loại, kích thước (4x2)cm. Phần đầu cần số bên trái có bám dính chất màu nâu đỏ, phần đầu cần số bên trái có vết chà xát mài mòn kim loại, kích thước (1,5x0,5)cm. Phần giỏ xe bên trái có vết mài mòn nhựa, móp méo, kích thước (7x9)cm. Vị trí thấp nhất cách mặt đất 68cm. Phần đầu ống giảm sóc phía trước bên trái có vết mài mòn kim loại chiều hướng từ trước về sau, kích thước (2,5x0,2)cm. Phần yên xe phía trước bên trái bị rách hở da bên trong, kích thước (11x0,5)cm. Giá để hàng phía sau bên trái có vết chà xát mài mòn kim loại, chiều hướng từ trước về sau, kích thước (2,5x2)cm, vị trí thấp nhất cách mặt đất 67cm.

- Kết quả khám xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade, màu: đỏ, đen, BKS: 19L1-328.25 (Xe do anh Đinh Văn T điều khiển): Gương chiếu hậu bên trái bị đẩy từ trước về sau lệch khỏi vị trí ban đầu, cần gương chiếu hậu bên trái có vết chà xát kim loại, kích thước (1x0,1)cm. Phần mặt gương phía sau có vết chà xát nhựa, kích thước (2x0,5)cm, vị trí thấp nhất cách mặt đất 1,2m. Đầu tay phanh bên trái có vết mài mòn kim loại, kích thước (5x0,5)cm. Phần cánh yếm phía trước bên trái có vết chà xát nhựa chiều hướng từ trước về sau, kích thước (4x1,2)cm vị trí thấp nhất cách mặt đất 83cm. Mặt ngoài cánh yếm phía dưới bên trái có vết chà xát nhựa, kích thước (9x1)cm. Vị trí thấp nhất cách mặt đất 62cm. Mặt ngoài để chân chính bên trái có vết chà xát kim loại, kích thước (5x0,5)cm. Để chân phụ phía sau bên trái có vết chà xát, kích thước (5x0,5)cm. Quá trình khám phương tiện trên xe có nhiều vết chà xát đã cũ.

Căn cứ vào kết quả khám nghiện hiện trường, khám nghiệm phương tiện xác định vị trí xảy ra va chạm giữa xe mô tô BKS:19B1-105.12 do Đinh Xuân H1 điều khiển với chị Nguyễn Thị H3 sau khi bị ngã ra đường là tại phần đường bên trái theo hướng xã H, huyện T đi xã C, huyện T. Xe mô tô do Đinh Xuân H1 điều khiển đã va chạm vào người của chị Nguyễn Thị H3 là nguyên nhân chính dẫn đến chị H3 tử vong.

Tại bản Kết luận giám định tử thi 1107/KL-KTHS, ngày 12/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh P kết luận: nguyên nhân chết của chị Nguyễn Thị H3 là ngạt do tràn máu vào đường thở trên người chấn thương dập rách gần hoàn toàn khí quản.

Tại bản Kết luận giám định số 1041/KL-KTHS, ngày 30/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh P kết luận: Trong mẫu máu của tử thi Nguyễn Thị H3 gửi đến giám định không có cồn (ethanol)”.

Tại bản Kết luận giám định hoá pháp số 2031/KL-KTHS, ngày 31/7/2024 của V1 kết luận: Trong mẫu máu của tử thi Nguyễn Thị H3 gửi đến giám định không tìm thấy các chất ma túy.

Ngày 14/7/2024, Công an huyện T đã tiến hành kiểm tra nồng độ cồn đối với Đinh Xuân H1, kết quả xác định nồng độ cồn của Đinh Xuân H1 là 0,814 mg/l khí thở. Khi tham gia giao thông Đinh Xuân H1 đã có giấy phép lái xe hạng A1 số AR085172 do Sở giao thông vận tải thành phố H cấp ngày 25/02/2011; Kiểm tra nồng độ cồn của Đinh Văn T, kết quả: Nồng độ cồn của anh Đinh Văn T là 0,043 mg/l khí thở.Khi tham gia giao thông anh Đinh Văn T không có giấy phép lái xe theo quy định, giấy chứng nhận bảo hiểm TNDS đã hết hạn từ ngày 10/7/2024. Quá trình tham gia giao thông anh T không đội mũ bảo hiểm chở chị H3 và cháu A ngồi sau không đội mũ bảo hiểm.

Tại bản kết luận giámđịnhsố 1148/KL-KTHS ngày 22/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh P kết luận: Không xác định được dấu vết va chạm giữa xe mô tô BKS: 19L1-328.25 với xe mô tô BKS: 19B1-105.12.

Ngày 16/9/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã ra Quyết định thực nghiệm điều tra xác định hiện trường vụ tai nạn giao thông.

Tại bản kết luận giám địnhsố 1735/KL-KTHS ngày 10/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh P kết luận: Không xác định được vận tốc của xe mô tô xuất hiện tại thời điểm 22 giờ 01 phút 54 giây ngày 13/7/2024 (Theo thời gian hiển thị của video “6046543663128.mp4" gửi giám định) do quãng đường và thời gian ngắn.

Tại bản kết luận giám địnhsố 1635/KL-KTHS ngày 10/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh P kết luận: Trên chiếc xe mô tô BKS: 19B1-105.12 gửi giám định không phát hiện được dấu vết máu, mô cơ người bám dính.

Tại kết luận định giá tài sản số 43, số D, ngày 05/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện T kết luận xe mô tô tô nhãn hiệu Honda Dream, BKS:19B1-105.12 bị thiệt hại hư hỏng trị giá 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng). Xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade BKS:19L1328.25 bị thiệt hại hư hỏng trị giá 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).

Quá trình điều tra xác định chị H3 là người quản lý chiếc mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade, màu: đỏ, đen, BKS:19L1-328.25. Ngày 13/7/2024, chị H3 cùng chồng là anh T và con gái là cháu A đến nhà bố đẻ chị H3 là ông Nguyễn Văn T2 ăn cơm. Quá trình ăn cơm anh T có uống bia. Khi ra về chị H3 biết rõ anh T chưa có giấy phép lái xe, đã uống bia nhưng chị H3 vẫn giao chiếc xe mô tô BKS: 19L1-328.25 cho anh T điều khiển chở chị H3 và cháu A đi về nhà.

Tại cơ quan điều tra bị cáo Đinh Văn H4 đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai người làm chứng, kết quả khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, thực nghiệm điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Tại bản cáo trạng số 05/CT – VKS –Th.S ngày 22 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn đã truy tố bị cáo Đinh Xuân H1 về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 2 Điều 260 - Bộ Luật Hình sự năm 2015

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đinh Xuân H1 phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 BLHS, đề nghị xử phạt bị cáo mức hình phạt từ 36(Ba Mươi sáu) tháng đến 42 (Bốn mươi hai) tháng tù. Thời tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày18/10/2024.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Đinh Xuân H5.

Về trách nhiệm dân sự:

Xác nhận ngày 03/8/2024 gia đình bị cáo Đinh Xuân H1 đã bồi thường cho đại diện gia đình bị hại anh Đinh Văn T số tiền 220.000.000 đồng.

Đối với thiệt hại của xe mô tô nhãn hiệu Honda Honda AirBlade BKS:19L1328.25 của bị hại: Anh Đinh Văn T là đại diện cho bị hại tự nguyện khắc phục sửa chữa hư hỏng của xe mô tô, nên không đặt vấn đề giải quyết.

Đối với thiệt hại của xe mô tô nhãn hiệu hon đa Dream, BKS:19B1-105.12 của Đinh Xuân H1, bị cáo tự khắc phục thiệt hại do bị cáo gây ra, nên không đặt vấn đề giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, khoản 2, điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Trả lại cho chủ sở hữu các vật chứng sau:

  • - Trả lại cho anh Đinh Văn T là đại diện hợp pháp của bị hại 01 mô tô nhãn hiệu mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade màu đỏ, đen BKS:19L1328.25, đã qua sử dụng xe bị hư hỏng do tai nạn giao thông; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô BKS:19L1328.25, mang tên Nguyễn Thị H3;
  • -Trả lại bị cáo Đinh Xuân H1 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, màu nâu BKS:19B1-105.12, đã qua sử dụng xe bị hư hỏng do tai nạn giao thông, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô BKS:19B1-105.12 mang tên Hoàng Công H6, nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
  • - Trả lại cho Trần Xuân H7 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 số AR 085172do sở G cấp ngày 25/02/2011.
  • -Tịch thu tiệu huỷ 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS mang tên Nguyễn Thị H3 có giá trị đến ngày 10/7/2024.

Bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến tranh luận gì.

Tại lời nói sau cùng, bị cáo xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân an huyện T, tỉnh Phú Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại phiên tòa bị cáo, đại diện cho bị hại cũng không có ý kiến gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản thực nghiệm điều tra, biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông và các kết luận giám định, lời khai của người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 22 giờ ngày 13/7/2024, tại đường liên xã thuộc khu Q, xã C, huyện T, tỉnh Phú Thọ, Đinh Xuân H1 sau khi đã sử dụng rượu, bia. Sau đó một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, màu nâu, BKS: 19B1-105.12 tham gia giao thông đã đi lấn sang phần đường bên trái theo hướng đi của mình (hướng xã H đi xã C) là vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ. Cùng thời điểm này, anh Đinh Văn T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade, màu đỏ, đen, BKS: 19L1-328.25 chở vợ là chị Nguyễn Thị H3, sinh năm 1997 và con gái là cháu Đinh Ngọc Thiên A, sinh năm 2021 đang đi tại phần đường phải theo hướng xã C, huyện T đi xã H, huyện T. Thấy Đinh Xuân H1 điều khiển xe mô tô đi lấn sang phần đường bên trái theo hướng đi của H1, anh T cùng lúc bóp cả hai phanh của xe làm xe mô tô và người bị đổ nghiêng sang trái tại phần đường phải theo hướng đi của anh T. Xe mô tô do H1 điều khiển đi chéo từ phần đường trái sang phần đường phải theo hướng đi của H1 va chạm vào người chị Nguyễn Thị H3, hậu quả làm chị Nguyễn Thị H3 tử vong.

[3]. Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng bởi hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng trong lĩnh vực giao thông đường bộ, xâm phạm tính mạng của công dân, gây hoang mang, lo lắng cho quần chúng nhân dân khi tham gia giao thông đường bộ. Bị cáo Đinh Xuân H1 là người có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, nhưng do chủ quan, cẩu thả khi tham gia giao thông đường bộ, bị cáo đã không tuân thủ qui định về an toàn giao thông nên đã gây ra tai nạn làm chị H3 tử vong, cháu A bị thương phải đưa đi cấp cứu. Hành vi đó của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ” qui định tại điểm b, khoản 2 Điều 260- BLHS. Do vậy Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn và bản luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4]. Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

Xét về nhân thân của bị cáo: Bị cáo có thân nhân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, rất ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo và gia đình đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho gia đình người bị hại anh Đinh Văn T số tiền 220.000.000 đồng (Hai trăm hai mươi triệu đồng), Tại phiên toà đại diện gia đình bị hại cũng xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015.

Căn cứ nhân thân, tính chất mức độ thực hiện hành vi phạm tội cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Những phân tích, đánh giá về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo của Kiểm Sát V tại phiên tòa là có căn cứ. Xét thấy, cần phạt bị cáo mức án tù có thời hạn, ở mức khởi điểm của khung hình phạt mà điều luật qui định cũng đủ để răn đe giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật hình sự, bị cáo còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung là cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm. Xét thấy bị cáo không hành nghề lái xe, không làm công việc liên quan đến lái xe nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự:

Sau khi xảy ra tai nạn, ngày 03/8/2024 gia đình bị cáo đã đến thăm hỏi, động viên và hỗ trợ cho gia đình người bị hại anh Đinh Văn T số tiền 220.000.000 đồng (Hai trăm hai mươi triệu đồng). Giữa gia đình bị cáo và người đại diện theo pháp luật của bị hại đã thỏa thuận giải quyết xong vấn đề bồi thường, đại diện theo pháp luật của người bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm khoản tiền nào khác nên HĐXX không đặt ra giải quyết là phù hợp.

Đối với thiệt hại của xe mô tô nhãn hiệu Honda Honda AirBlade BKS:19L1328.25 của bị hại: Anh Đinh Văn T là đại diện cho bị hại không yêu cầu bị cáo H1 phải bồi thường sửa chữa hư hỏng của xe mô tô, nên HĐXX không đặt vấn đề giải quyết.

Đối với thiệt hại của xe mô tô nhãn hiệu hon đa Dream, BKS:19B1-105.12 của Đinh Xuân H1, bị cáo tự khắc phục thiệt hại do bị cáo gây ra nên HĐXX không đặt vấn đề giải quyết.

[7] Về xử lý vật chứng:

Các đồ vật Cơ quan điều tra đã thu giữ cần trả cho chủ sở hữu hợp pháp:

Trả lại cho anh Đinh Văn T là đại diện hợp pháp của bị hại 01 mô tô nhãn hiệu mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade màu đỏ, đen BKS:19L1328.25, đã qua sử dụng xe bị hư hỏng do tai nạn giao thông; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô BKS:19L1328.25, mang tên Nguyễn Thị H3;

  • -Trả lại cho bị cáo Đinh Xuân H1 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, màu nâu BKS:19B1-105.12, đã qua sử dụng xe bị hư hỏng do tai nạn giao thông, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô BKS:19B1-105.12 mang tên Hoàng Công H6, nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
  • Trả lại cho bị cáo Đinh Xuân H1 01 giấy phép lái xe môtô hạng A1 số AR 085172 do sở G cấp ngày 25/02/2011.
  • -Tịch thu tiệu huỷ 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS mang tên Nguyễn Thị H3 có giá trị đến ngày 10/7/2024.

[8] Các nội dung khác:

Đối với anh Đinh Văn T: Ngày 13/7/2024 sau khi đã uống bia, anh Đinh Văn T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade, BKS:19L1-328.25 chở vợ là chị Nguyễn Thị H3 và con gái Đinh Ngọc Thiên A tham gia giao thông. Bản thân anh T không có giấy phép lái xe mô tô theo quy định. Khi điều khiển xe mô tô đến đoạn đường thuộc khu Q, xã C, huyện T, anh T điều khiển xe mô tô đi tại phần đường bên phải theo hướng của T và quan sát thấy phía trước ngược với hướng của T đi có ánh đèn xe mô tô BKS:19B1-105.12 do Đinh Xuân H1 điều khiển theo hướng xã H, huyện T đi xã C, huyện T (ngược với hướng anh T đi) đang đi bên phần đường của anh T. Để tránh không va chạm với xe mô tô do H1 điều khiển, anh T cùng một lúc bóp cả phanh trước và phanh sau của xe để dừng lại thì xe mô tô của anh T đổ nghiêng sang trái tại phần đường phải theo hướng đi của T rồi rê trượt về phía trước, anh T, cháu A và chị H3 bị ngã xuống đường. Thấy vậy, H1 giật mình điều khiển xe mô tô đi chéo từ phần đường bên trái sang phần đường bên phải theo hướng đi của H1 thì xe mô tô của H1 điều khiển va chạm vào người chị H3 (vị trí va chạm tại phần đường bên phải hướng đi của anh T). Hậu quả chị H3 tử vong, cháu A bị thương, hai xe mô tô bị hư hỏng. Nguyên nhân xảy ra tai nạn là do H1 điều khiển xe mô tô không đi bên phải theo hướng đi của H1 không phải lỗi của anh T. Tuy nhiên, quá trình điều khiển xe mô tô tham gia giao thông anh T không có giấy phép lái xe theo quy định, giấy chứng nhận bảo hiểm TNDS đã hết hạn từ ngày 10/7/2024. Quá trình tham gia giao thông anh T không đội mũ bảo hiểm, chở chị H3 và cháu A ngồi sau không đội mũ bảo hiểm. Điều khiển xe mô tô khi đã sử dụng bia kết quả kiểm tra nồng độ cồn là: 0,043 miligam/1 lít khí thở. Cơ quan CSĐT Công an huyện T xác định hành vi của anh T là hành vi, vi phạm hành chính Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã chuyển tài liệu cho Công an huyện T xử phạt anh T theo quy định của pháp luật là phù hợp.

Đối với chị Nguyễn Thị H3: Chị H3 là người chủ sở hữu đăng ký chiếc xe mô tô BKS:19L1-328.25. Bản thân chị H3 biết rõ T chưa có giấy phép lái xe, đã sử dụng bia nhưng chị H3 vẫn giao chiếc xe mô tô BKS:19L1-328.25 cho anh T điều khiển chở chị H3 và cháu A đi về nhà (chị H3 và cháu A không đội mũ bảo hiểm). Khi đi đến đoạn đường thuộc khu Q, xã C, huyện T thì xảy ra va chạm với xe mô tô do H1 điều khiển. Hậu quả chị H3 tử vong, cháu A bị thương. Hành vi của chị Nguyễn Thị H3 có dấu hiệu của tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” quy định tại Điều 264 Bộ Luật hình sự. Do cháu A và người đại diện pháp luật cho cháu A kiên quyết từ chối giám định thương tích của cháu A nên. Cơ quan CSĐT không có căn cứ để xác định tỷ lệ tổn hại phần trăm sức khỏe của cháu A. Cơ quan CSĐT xác định hành vi của chị H3 là hành vi vi phạm hành chính. Tuy nhiên, chị H3 đã tử vong sau khi xảy ra tai nạn nên Cơ quan CSĐT Công an huyện T không đề cập xử lý đối với chị H3. Xét thấy là đúng quy định, nên chấp nhận.

Đối với cháu Đinh Ngọc Thiên A: Khi tham gia giao thông cháu A không đội mũ bảo hiểm. Cơ quan CSĐT xác định hành vi của cháu A là hành vi vi phạm hành chính. Căn cứ Luật xử phạt vi phạm hành chính do cháu An sinh ngày 25/01/2021 nên chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm xử phạt hành chính. Do vậy, Cơ quan CSĐT không đề cập xử lý đối với cháu A. Xét thấy đúng quy định pháp luật.

Đối với số tiền gia đình bị cáo H1 bồi thường cho gia đình bị hại chị Nguyễn Thị H3 là tài sản chung của vợ chồng bị cáo H1, chị N là vợ bị cáo đã tự nguyện bồi thường thay cho bị cáo, và không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả lại số tiền trên nên HĐXX không xem xét.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 - Bộ luật hình sự 2015.

Tuyên bố bị cáo Đinh Xuân H1 phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

  1. Xử phạt: Bị cáo Đinh Xuân H1 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 18/10/2024.

Về hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Đinh Xuân H1.

* Về trách nhiệm dân sự: Xác nhận ngày 03/8/2024 gia đình bị cáo Đinh Xuân H1 đã tự nguyện bồi thường cho đại diện gia đình bị hại anh Đinh Văn T số tiền 220.000.000đ (Hai trăm hai mươi triệu đồng).

  1. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, khoản 2, điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Trả lại cho anh Đinh Văn T là đại diện hợp pháp của bị hại 01 xe mô tô nhãn hiệu mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade màu đỏ, đen BKS:19L1328.25, đã qua sử dụng và bị hư hỏng do tai nạn giao thông; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô BKS:19L1328.25, mang tên Nguyễn Thị H3;

-Trả lại cho bị cáo Đinh Xuân H1 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, màu nâu BKS:19B1-105.12, đã qua sử dụng và bị hư hỏng do tai nạn giao thông, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô BKS:19B1-105.12 mang tên Hoàng Công H6, nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

- Trả lại cho Đinh Xuân H1 01 giấy phép lái xe môtô hạng A1 số AR 085172 do sở G cấp ngày 25/02/2011.

-Tịch thu tiệu huỷ 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS mang tên Nguyễn Thị H3 có giá trị đến ngày 10/7/2024.

Vật chứng là đồ vật được tạm giữ tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Sơn theo biên bản ngày 23/01/2025.

  1. Về án phí: Áp dụngkhoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án Buộc bị cáo Đinh Xuân H1 phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
  2. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo, đại diện gia đình người bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án sơ thẩm hoặc ngày bản án sơ thẩm được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện và VKS tỉnh;
  • - Công an huyện;
  • - Chi cục THADS huyện;
  • - Hồ sơ công tác THAHS;
  • - UBND xã Cự Đồng;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Đào Thị Anh Nhinh

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Đức Quảng Hà Đ Sở Đào Thị Anh Nhinh

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - VKSND huyện Thanh Sơn;
  • - Trại tạm giam công an tỉnh Phú Thọ;
  • - Cơ quan CSĐT CA huyện Thanh Sơn;
  • - Phòng Hồ sơ NV CA huyện Thanh Sơn;
  • - Chi cục THADS huyện Thanh Sơn;
  • - UBND xã Huy Tân;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Đào Thị Anh Nhinh

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THANH SƠN

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào hồi giờ phút, ngày 09 tháng 6 năm 2022

Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đào Thị Anh N1

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Xuân H8

Ông Vũ Đức T3

Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số22/2022/TLST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2022 đối với các bị cáo:

1.Đinh Bằng L1, sinh ngày 21/11/2004 (lúc phạm tội mới 16 tuổi 10 tháng 28 ngày); Tên gọi khác: Không;Nơi ĐKHKTT: khu N, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ;Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12;

2.Đinh Bá B, sinh ngày 19/02/1993; Tên gọi khác: Không;Nơi ĐKHKTT: Xóm D, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ;Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12;

Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:

  1. Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc trường hợp trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Kết quả biểu quyết 3/3
  2. Tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập; do bị cáo và những người tham gia tố tụng khác cung cấp: Các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án đều đúng theo quy định của pháp luật.

KÕt qu¶ biÓu quyõt: 3/3.

  1. VÒ téi danh:

Tuyên bố: Tuyên bố bị cáo Đinh Bằng L1 phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Tuyên bố bị cáo Đinh Bá B phạm tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”

KÕt qu¶ biÓu quyõt: 3/3.

  1. Hình phạt, biện pháp tư pháp áp dụng đối với bị cáo; trách nhiệm bồi thường thiệt hại; vấn đề dân sự trong vụ án hình sự:

Căn cứ:Điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54; Điều 65; khoản 6 Điều 91, khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo Đinh Bằng L2 (Ba mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 60 (Sáu mươi) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Giao bị cáo Đinh Bằng L1 cho UBND xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo L1 có trách nhiệm phối hợp với UBND xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo điều 92 của Luật thi hành án hình sự năm 2019.

- Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Đinh Bằng L1.

Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 264; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35 - Bộ luật hình sự 2015.

Tuyên bố bị cáo Đinh Bá B phạm tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”

Xử phạt: bị cáo Đinh Bá B1 (Hai mươi triệu đồng) nộp ngân sách nhà nước.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo B.

Kết quả biểu quyết 3/3.

  1. Bị cáo không thuộc trường hợp miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt:

Kết quả biểu quyết 3/3.

  1. Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Không đặt ra giải quyết.

Kết quả biểu quyết 3/3

  1. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng: Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Đ1 bằng Lăng, Đinh Bá B2 bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Kết quả biểu quyết 3/3.

  1. Kiến nghị phòng ngừa tội phạm, khắc phục vi phạm: Không.

Kết quả biểu quyết 3/3.

Nghị án kết thúc vào hồi giờ phút, cùng ngày.

Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đào Thị Anh N1

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2025/HSST ngày 27/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN, TỈNH PHÚ THỌ về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 07/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger