Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHƯ PRÔNG

TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2025/HS-ST

Ngày 22-01-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ PRÔNG, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Nam Trung

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Công Chự và ông Nguyễn Ngọc Bình

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Bích Vân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Nhất Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 02/2025/TLST-HS ngày 08 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:

Triệu Tiến D

Sinh ngày: 04/01/1986 tại huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Giáo viên; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam. Con ông Triệu Trọng H và bà Trần Thị H1. Bị cáo có vợ là Đỗ Thị V và có 02 con. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Bùi Văn T, sinh ngày: 21/11/2007 (đã chết).

Người đại diện hợp pháp của bị hại Bùi Văn T: Bà Bùi Thị T1, sinh năm: 1974 (Mẹ nuôi của bị hại); Địa chỉ: Thôn L, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai. (Văn bản cử người đại diện hợp pháp ngày 14/8/2024). Có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

  1. Bà Đỗ Thị V, sinh năm: 1986;
  2. Địa chỉ: Thôn Đ, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai.

  3. Ông Hà Văn T2, sinh năm: 1969;
  4. Địa chỉ: Thôn L, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai.

  5. Bà Hà Thị N, sinh năm: 1967;
  6. Địa chỉ: Thôn L, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai.

  7. Ông Lê Thanh T3, sinh năm: 1979;
  8. Địa chỉ: Làng T, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai.

  9. Ông Triệu Tiến T4, sinh năm: 1994;
  10. Địa chỉ: Thôn Đ, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Triệu Tiến D có giấy phép lái xe ô tô hạng B1 theo quy định. Khoảng 18 giờ ngày 08/8/2024, D điều khiển xe ô tô của mình BKS: 81A-262.31 chở vợ là Đỗ Thị V đi dự liên hoan với một số đồng nghiệp cùng trường tại xã I. Trong quá trình dự liên hoan D không sử dụng rượu bia. Đến khoảng hơn 22 giờ cùng ngày, D điều khiển xe ô tô BKS: 81A-262.31 chở vợ đi ra cổng quán Karaoke T5 P để về nhà tại thôn Đ, xã I thì có 01 người phụ nữ và 01 người đàn ông (không rõ nhân thân lai lịch) xin đi nhờ xe. D đồng ý chở. D điều khiển xe ô tô đi theo hướng từ thôn B đi thôn Đ trên đường liên thôn. Khi đến địa phận thôn L, xã I thì D phát hiện phía trước cùng chiều có xe mô tô do anh Hà Văn T2, chở sau là chị Hà Thị N đang di chuyển ở sát phần đường bên phải. D điều khiển xe đi ở vị trí giữa đường đồng thời bóp còi báo hiệu thì xe do anh Hà Văn T2 điều khiển di chuyển sang phải xuống phần lề đường đất. Do D không chú ý quan sát phía trước nên không phát hiện ở phía trước ngược chiều của D có xe mô tô BKS: 25F3-5186 do Bùi Văn T điều khiển đi đúng phần đường (xe mô tô cách mép đường bên phải theo hướng đi của T là 0.98m). Lúc này, D điều khiển xe ô tô BKS: 81A-262.31 lấn sang phần đường bên trái theo chiều đi của D nên xảy ra va chạm với xe mô tô BKS: 25F3-5186 do T điều khiển tại vị trí bên trái phía trước đầu xe ô tô BKS: 81A-262.31. Sau va chạm, Bùi Văn T văng lên rồi rơi xuống ở khu vực lề đất bên trái theo hướng đi của D còn xe mô tô thì kẹt dưới gầm xe ô tô. Hậu quả Bùi Văn T bị thương được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh G đến 13 giờ 30 phút ngày 09/8/2024 thì tử vong. Xe ô tô, mô tô bị hư hỏng.

Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định: Hiện trường nơi xảy ra tai nạn là đường hai chiều liên xã thuộc địa phận thôn L, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai òaHo. Đường chạy theo hướng Bắc đi hướng N, hướng Bắc đi UBND xã Ia Ga, hướng Nam đi UBND xã I. Đoạn đường bằng, phẳng, thẳng, không có chướng ngại vật, tầm nhìn không bị che khuất, không có biển báo giao thông đường bộ. Mặt đường trải thảm nhựa rộng 3,5m, không có vạch sơn phân chia phần đường, lề đường hướng Đông rộng 0,8m, lề đường hướng Tây rộng 1,6m. Tại hành lang bên phải theo hướng UBND xã I đi UBND xã I có đèn đường. Tại hành lang bên trái theo hướng UBND xã I đi UBND xã I có mương nước và có đường bê tông đi vào thôn L, xã I, huyện C, chỗ rộng nhất của đường bê tông là 4,1m.

Tại phiếu đo nồng độ cồn lúc 00:29 ngày 09/8/2024 của Đ Công an huyện C với Triệu Tiến D, xác định nồng độ cồn của Triệu Tiến D là 0.000mg/L.

Tại phiếu xét nghiệm sinh hoá ngày 09/8/2024 của Bệnh viện đa khoa tỉnh G, xác định định lượng Ethanol (cồn) trong máu của Bùi Văn T là 26.08mg/dl.

Tại Kết luận giám định tử thi số 755/KLGĐTT - KTHS ngày 21/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh G, kết luận nguyên nhân chết của Bùi Văn T như sau: Vùng bụng: Mô cơ dưới da vùng hạ vị và hố chậu hai bên bầm tụ máu; ổ bụng chứa khoảng 200ml máu lỏng, máu đông; dập vỡ, bầm tụ máu quay ruột non vùng hạ vị; các quay ruột căng phồng, sung huyết; dập vỡ bàng quang và tổ chức liên kết xung quanh bàng quang trong diện (7 x 10)cm. Bụng chướng căng. Vùng hố chậu phải xây sát da, bầm tụ máu trong diện (7 x 4)cm. Nguyên nhân chết do chấn thương bụng kín.

Tại Kết luận giám định tư pháp ngày 29/8/2024 của Sở G, kết luận: Xe ô tô BKS: 81A - 262.31 tại thời điểm giám định, xe có các hệ thống, tổng thành, chi tiết liên kết chắc chắn, đảm bảo tính năng hoạt động; trừ hư hỏng do tai nạn giao thông.

Tại Kết luận định giá tài sản số 56/KL - HĐ ĐGTS ngày 19/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, kết luận giá trị thiệt hại của xe mô tô BKS: 81B2 - 25F3 - 5186 là 2.116.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số: 05/CT- VKS-CPR ngày 06 tháng 01 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Triệu Tiến D về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.

Diễn biến tại phiên tòa:

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Prông thực hành quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố như bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Triệu Tiến D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Triệu Tiến D từ 14 (mười bốn) đến 16 (mười sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 28 (hai mươi tám) đến 32 (ba mươi hai) tháng.

* Vật chứng vụ án:

  • - 01 (một) xe ô tô BKS: 81A - 262.31, nhãn hiệu: FORD; số loại: Everest UW 151-7; Loại xe: ô tô con; số máy: WLAT 932811; số khung: RL05SUHAM8KR08877 đã được trao trả cho Triệu Tiến D là chủ sở hữu hợp pháp.
  • - 01 (một) xe mô tô BKS: 25F3 - 5186, nhãn hiệu: Yamaha, số loại: Sirius, màu sơn: Xanh đen là xe của Bùi Văn T được trao trả cho bà Bùi Thị T1 là người đại diện hợp pháp của Bùi Văn T. Bà T1 đã nhận lại xe và không có ý kiến gì.

* Về trách nhiệm dân sự:

Bị cáo Triệu Tiến D đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình anh Bùi Văn T với tổng số tiền là 114.600.000 đồng, bao gồm tiền chi phí mai táng, tiền viện phí, thuê xe cấp cứu và tiền tổn thất tinh thần. Bà Bùi Thị T1 là người đại diện hợp pháp của anh Bùi Văn T (Đã được mẹ ruột là Bùi Thị M ủy quyền theo đơn cử người đại diện hợp pháp ngày 14/8/2024) đã nhận đủ số tiền trên và không có yêu cầu gì khác. Đồng thời gia đình bị hại cũng đã có đơn xin bãi nại và giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đối với hư hỏng của xe mô tô BKS: 25F3 - 5186, bà Bùi Thị T1 là người đại diện hợp pháp của anh Bùi Văn T không yêu cầu bị cáo bồi thường.

Ngoài ra Kiểm sát viên còn đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung bản cáo trạng. Bị cáo xin lỗi gia đình người bị hại và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo để bị cáo có thể tiếp tục làm việc.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng trong vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo và tội danh: Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã nêu. Xét lời khai của bị cáo là phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và các tài liệu, chứng cứ như các biên bản khám nghiệm hiện trường, các kết luận giám định của cơ quan giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Vì vậy có đủ cơ sở xác định hành vi phạm tội của bị cáo như sau: Bị cáo Triệu Tiến D có giấy phép lái xe ô tô hạng B1 theo quy định. Vào lúc 22 giờ 17 phút ngày 08/08/2024, tại thôn L, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai, bị cáo D điều khiển xe ô tô BKS: 81A-262.31 tham gia giao thông không chú ý quan sát phía trước, đi không đúng phần đường quy định, đã lấn sang phần đường bên trái theo hướng đi nên đã tông vào xe mô tô BKS: 25F3-5186 đi phía trước ngược chiều do Bùi Văn T điều khiển đi đúng phần đường. Hậu quả làm Bùi Văn T tử vong, xe ô tô, mô tô bị hư hỏng. Hành vi điều khiểu xe ô tô không chú ý quan sát phía trước, đi không đúng phần đường quy định, đã lấn sang phần đường bên trái theo hướng đi của bị cáo đã vi phạm vào khoản 23 Điều 8 và khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ năm 2008 gây hậu quả nghiêm trọng làm một người chết. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai truy tố bị cáo Triệu Tiến D về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo Triệu Tiến D là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo phạm tội nghiêm trọng với lỗi vô ý. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trật tự, an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại đến tính mạng của người khác, đồng thời tác động xấu đến tình hình trật tự xã hội tại địa phương.

[4] Về các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, đã tự nguyện bồi thường thiệt hại đầy đủ theo yêu cầu của gia đình bị hại, thể hiện thái độ ăn năn hối cải Đó là các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tai nạn xảy ra cũng có phần lỗi của bị hại khi không chấp hành đúng quy định về giao thông đường bộ (tham gia giao thông khi trong máu có nồng độ cồn). Người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo, tại phiên tòa xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về nhân thân: Bị cáo lần đầu phạm tội, không có tiền án, tiền sự. Bị cáo là giáo viên, trong quá trình công tác tại Trường Tiểu học P1 đã có nhiều thành tích trong công tác giảng dạy, nhiều năm đạt danh hiệu lao động tiên tiến. Ngoài ra bị cáo còn là hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Gia Lai, có nhiều tác phẩm đạt giải. Điều đó thể hiện bị cáo có nhân thân tốt.

[6] Về hình phạt: Bị cáo đã vi phạm pháp luật hình sự nên phải chịu hình phạt theo quy định của pháp luật. Bị cáo vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây tai nạn nghiêm trọng, hậu quả làm chết một người, gây hậu quả nặng nề đối với gia đình bị hại và xã hội nên cần áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo. Tuy nhiên, xét bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, quá trình sinh sống ở địa phương không có vi phạm gì, có địa chỉ nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Nhận thấy bị cáo có khả năng tự cải tạo và nếu không bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù giam thì không ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, nên áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa không ai có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về xử lý vật chứng: Các vật chứng trong vụ án đã được Cơ quan CSĐT - Công an huyện C xử lý đúng theo quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh và hình phạt: Áp dụng điểm a, khoản 1, Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 của Bộ luật hình sự.

    Tuyên bố bị cáo Triệu Tiến D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

    Xử phạt bị cáo Triệu Tiến D 14 (Mười bốn) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo với thời gian thử thách là 28 (Hai mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án (22/01/2025).

    Giao bị cáo Triệu Tiến D cho Ủy ban nhân dân xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  2. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Buộc bị cáo Triệu Tiến D phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  3. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (22/01/2025) bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Gia Lai;
  • - VKSND huyện Chư Prông;
  • - Công an huyện Chư Prông;
  • - Chi cục THADS huyện Chư Prông (khi án có hiệu lực);
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Trương Nam Trung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2025/HS-ST ngày 22/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ PRÔNG, TỈNH GIA LAI về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (vụ án hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 07/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Vụ án hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ PRÔNG, TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tp. Trung
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger