|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KBANG TỈNH GIA LAI Bản án số: 07/2025/HSST. Ngày: 11/3/2025. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KBANG -TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán, Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Nguyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Khánh .
- Ông Đỗ Khắc Vũ.
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Tố Uyên – Thư ký Tòa án nhân dân (TAND) huyện Kbang, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) huyện Kbang tham gia phiên toà: Ông Nông Trường Sinh - Kiểm sát viên (KSV).
Ngày 11/3/2025, tại trụ sở TAND huyện Kbang, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 03/2025/HS-ST ngày 06/02/2025 đối với bị cáo:
Võ Năm, sinh ngày 02/4/1979 tại A, Bình Định; nơi thường trú: Tổ dân phố (TDP) 9, thị trấn K, huyện K, tỉnh Gia Lai; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 01/12; nghề nghiệp: Làm nông; số CCCD: [...], nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC về TTXH; tiền án: Không, tiền sự: Có 01 tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản; con ông Võ Văn C và bà Phan Thị Ú (đều đã chết); vợ là Nguyễn Thị H (đã ly hôn) và 02 con, vợ là Trần Thị T (đã ly hôn) và 01 con; bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
Người bị hại: Ông Phạm Văn S, sinh năm 1986;
Địa chỉ: TDP A, thị trấn K, huyện K, tỉnh Gia Lai (vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần P, sinh năm 1964. Địa chỉ: TDP B, thị trấn K, huyện K, tỉnh Ga Lai (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 03 giờ 00 phút ngày 04/11/2024, Võ N một mình đi xe đạp từ nhà tại TDP I, thị trấn K lên hướng dốc khảo sát thuộc TDP A, thị trấn K thì phát hiện 01 ngôi nhà đang xây, không có người trông coi là nhà của anh Phạm Văn S. Lúc này, N nảy sinh ý định trộm cắp tài sản là sắt xây dựng bán lấy tiền tiêu xài. Năm dựng xe đạp ở ngoài đường rồi đi bộ vào khu vực đang xây nhà thì phát hiện một số khung sắt hình chữ nhật, dùng để đổ trụ bê tông. Năm gom lại được tổng cộng khoảng 17kg, rồi đưa ra xe đạp bỏ ở rổ xe phía trước và chở về giấu ở bụi cây gần nhà thuộc TDP I, thị trấn K. Khoảng 08 giờ 00 phút cùng ngày, Năm mang số sắt trên đến tiệm thu mua phế liệu tại TDP B, thị trấn K (gần khu vực Bến xe huyện K). Tại đây, N gặp chủ tiệm là ông Trần P nói số sắt trên là do nhặt được khi đi phụ hồ mà có thì ông P đồng ý mua. Ông P mua với giá 6.500 đồng/kg, cân lên được 17kg sắt và thanh toán cho N số tiền là 110.000 đồng (một trăm mười nghìn đồng). Sau đó, N đã tiêu xài cá nhân hết số tiền trên.
Sáng cùng ngày 04/11/2024, ông Phạm Văn S đi đến ngôi nhà đang xây thì phát hiện bị mất trộm sắt. Đến ngày 07/11/2024, ông S gửi đơn trình báo sự việc đến Công an thị trấn K. Sau khi tiếp nhận vụ việc, Công an thị trấn K đã tiến hành kiểm tra hiện trường, làm việc với người bị hại và những người liên quan. Qua xác minh, Cơ quan Công an đã xác định được đối tượng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là Võ N, Võ N đã khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Cơ quan Công an đã thu giữ 148 khung sắt: Loại sắt phi 6, đã uốn hình chữ nhật, kích thước 15,5cm x 8,5cm, khối lượng 17kg do ông Trần P giao nộp.
Kết quả xác minh, xác định trước đó vào ngày 21/12/2023, Võ N đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản (trộm cắp cà phê tại TDP G, thị trấn K), bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn K Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 12/QĐ-XPHC ngày 12/01/2024 bằng hình thức phạt tiền 2.500.000 đồng. Ngày 18/01/2024, Năm đã thi hành quyết định xử phạt. Do Võ N đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản và chưa hết 01 năm kể từ ngày thi hành quyết định xử phạt mà còn vi phạm, tiếp tục trộm cắp tài sản (17kg sắt) của ông Phạm Văn S nên ngày 13/11/2024, Công an thị trấn K đã chuyển vụ việc cho Cơ quan Cảnh sát điều tra (CSĐT) Công an huyện K để điều tra, xử lý theo thẩm quyền.
Ngày 15/11/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện K đã có yêu cầu định giá tài sản số: 620/YC-ĐGTS, định giá 148 khung sắt, loại sắt phi 6, đã uốn hình chữ nhật, kích thước 15,5cm x 8,5cm, khối tượng 17kg. Theo Kết luận định giá tài sản số: 21/KL-HĐĐG ngày 20/11/2024 của Hội đồng định giá thường xuyên tài sản trong Tố tụng hình sự huyện K kết luận giá trị của 17kg sắt tại thời điểm ngày 04/11/2024 là 289.000 đồng (hai trăm tám mươi chín nghìn đồng).
Ngày 05/12/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện K Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Võ N để điều tra, xử lý theo quy định.
Vật chứng của vụ án: Ngoài số vật chứng là 148 khung sắt đã thu giữ: Loại sắt phi 6, đã uốn hình chữ nhật, kích thước 15,5cm x 8,5cm, khối lượng 17kg, Cơ quan Công an còn tạm giữ 01 xe đạp màu xanh, hiệu GALENDA, vành tăm của Võ Năm L phương tiện phạm tội.
Cơ quan CSĐT Công an huyện K đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại tài sản trộm cắp là 148 khung sắt: Loại sắt phi 6, đã uốn hình chữ nhật, kích thước 15,5cm x 8,5cm, khối lượng 17kg cho ông Phạm Văn S, ông S nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Tại Bản cáo trạng số: 03/CT-VKS ngày 05/02/2025, VKSND huyện Kbang, tỉnh Gia Lai đã truy tố Võ N về tội: "Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 BLHS năm 2015.
Tại phiên toà, đại diện VKSND huyện Kbang, tỉnh Gia Lai vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như Bản cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) tuyên bố bị cáo Võ N phạm tội: “Trộm cắp tài sản".
Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173; các điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 36 của BLHS để xử phạt bị cáo Võ N từ 09 tháng đến 01 năm cải tạo không giam giữ; thời hạn cải tạo không giam giữ của bị cáo được tính từ ngày Ủy ban nhân dân (UBND) thị trấn Kbang nhận được quyết định thi hành án.
Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền và đề nghị khấu trừ 5% thu nhập của bị cáo trong thời gian bị cáo chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị tuyên tịch tiêu hủy 01 xe đạp màu xanh, hiệu GALENDA, vành tăm (xe đã qua sử dụng và đã cũ).
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm (HSST) theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Võ N khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Bản cáo trạng đã nêu, không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát, tỏ thái độ ăn năn hối cải và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT Công an huyện K, Điều tra viên, VKSND huyện Kbang, KSV trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS). Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Võ N đã khai nhận phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan CSĐT Công an huyện K và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, qua đó xác định rằng:
Bị cáo là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự nhưng xuất phát từ động cơ tư lợi cá nhân, muốn có tiền tiêu xài bất chính nên vào rạng sáng ngày 04/11/2024, bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là 17kg sắt của ông Phạm Văn S tại TDP A, thị trấn K với giá trị là 289.000 đồng. Mặc dù giá trị tài sản trộm cắp chưa đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng trước đó vào ngày 21/12/2023, bị cáo Võ N đã có hành vi trộm cắp tài sản và ngày 12/01/2024, bị Chủ tịch UBND thị trấn Kbang ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền, bị cáo đã chấp hành nộp phạt xong vào ngày 18/01/2024. Do bị cáo Võ N đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản và chưa hết 01 năm kể từ ngày thi hành quyết định xử phạt mà tiếp tục trộm cắp tài sản nên hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm vào tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự như truy tố của VKSND huyện Kbang là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an trên địa bàn. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo nhận thức và làm chủ được hành vi của mình, bị cáo biết được việc lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Vì vậy, cần xử lý nghiêm bị cáo bằng chế tài hình sự để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, xét bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, quá trình sinh sống tại địa phương luôn chấp hành đầy đủ chính sách, pháp luật của Nhà nước và nghĩa vụ công dân nơi cư trú; phạm tội không có tình tiết tăng nặng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đó là: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải;bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; hành vi phạm tội gây thiệt hại không lớn; đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, h, i, s khoản 1 Điều 51 BLHS. Vì vậy, để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật, tạo điều kiện cho bị cáo được cải tạo tại cộng đồng để trở thành người lương thiện, HĐXX thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội mà cần chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát, áp dụng Điều 36 của BLHS cho bị cáo được hưởng hình phạt cải tạo không giam giữ là đã đảm bảo tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
Xét các bị cáo Võ N không có việc làm và thu nhập ổn định, hoàn cảnh gia đình gặp nhiều khó khăn nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Do bị cáo bị xử phạt cải tạo không giam giữ nên cần khấu trừ 05% thu nhập của bị cáo trong thời gian bị cáo chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Do vật chứng đã được thu hồi trả lại cho người bị hại và người bị hại không có yêu cầu bồi thường gì thêm; bị cáo cũng đã hoàn trả đủ số tiền do mua bán sắt trộm cắp mà có cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Vì vậy, HĐXX không xem xét đến phần trách nhiệm dân sự nữa.
[5] Về xử lý vật chứng: Xét vật chứng là chiếc xe đạp màu xanh, hiệu GALENDA, vành tăm (xe đã qua sử dụng và đã cũ) là phương tiện bị cáo sử dụng để phạm tội nhưng không còn giá trị sử dụng nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Võ N phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173; các điểm b, h, i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 36 của BLHS;
Xử phạt bị cáo Võ N 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ, thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày UBND thị trấn K, huyện K, tỉnh Gia Lai nhận được quyết định thi hành án.
Giao các bị cáo N cho UBND thị trấn K, huyện K, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND cấp xã trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Bị cáo phải thực hiện những nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Khấu trừ 05% thu nhập đối với bị cáo trong thời gian bị cáo chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.
- Áp dụng Điều 47 của BLHS và Điều 106 của BLTTHS;
T1 tịch thu tiêu hủy 01 xe đạp màu xanh, hiệu GALENDA, vành tăm (xe đã qua sử dụng và đã cũ).
(Đặc điểm cụ thể của vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 12/02/2025 giữa Công an huyện K và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kbang)
- Áp dụng khoản 2 Điều 136 của BLTTHS và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Võ N phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 11/3/2025), bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo đề nghị TAND tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Thời hạn trên đối với người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được tính từ ngày người đó nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa |
Bản án số 07/2025/HSST ngày 11/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KBANG TỈNH GIA LAI về hình sự - trộm cắp tài sản
- Số bản án: 07/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KBANG TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Võ N Trộm cắp tài sản
