Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2025/HSPT

Ngày:18/02/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:Ông Lê Văn Quân
Các Thẩm phán:Bà Trần Thị Nga
Bà Lê Thị Dung

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Trần Thị Minh Sơn, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh hoá tham gia phiên toà:

Bà Cù Thị Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 02/2024/HSPT ngày 02 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo Trần Văn C, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 68/2024/HSST ngày 27 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa.

* Bị cáo kháng cáo:

Họ và tên: Trần Văn C, sinh năm 1995 tại: xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Thôn C, xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn L và bà Trần Thị M; có vợ là Nguyễn Thị L1 và có 02 con, lớn sinh năm 2019, nhỏ sinh năm 2022. Tiền án: Không. Tiền sự: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0035900/QĐ - XPHC ngày 26/10/2023 của Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa xử phạt Trần Văn C 2.000.000₫ (Hai triệu đồng) về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, đã nộp phạt ngày 26/10/2023. Nhân thân: Ngày 17/9/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 24/2015/HSST và ngày 19/10/2015 Tòa án nhân dân huyện Nông Cống xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 31/2015/HSST. Tổng hợp hình phạt của 02 bản án là 18 tháng trừ 09 ngày tạm giữ. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 19/01/2017, đã được xóa án tích.

Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 16/5/2024 đến nay. Hiện bị cáo đang tại ngoại tại địa phương; (có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Nữ H - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T. (vắng mặt có đơn xét xử vắng mặt)

- Bị hại: Ông Trần Văn L, sinh năm 1961; Địa chỉ: Thôn C, xã M, huyện N, Thanh Hóa. (vắng mặt có đơn xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào chiều ngày 17/3/2024, ông Trần Văn L, sinh năm 1961 ở thôn C, xã M, huyện N ăn cơm và uống rượu cùng con trai là Trần Văn C, sinh năm 1995 tại nhà ông Trần Văn S, sinh năm 1980 ở xã T, huyện N (là em vợ ông L). Đến khoảng 16 giờ cùng ngày thì ông L chở H1 là cháu nội về. Khi đi đến thôn S, xã M, huyện N thì ông L ghé vào nhà ông Đ để uống nước. Đến khoảng 18 giờ ông L về đến nhà thì thấy nhà cửa lộn xộn, không có người dọn dẹp nên lấy điện thoại gọi cho con trai là Trần Văn C, qua điện thoại ông L và C chửi bới nhau. Khoảng 20 phút sau thì C về đến nhà, để xe ở trước sân đối diện với cửa chính và thấy ông L đang đứng ở trước cửa; giữa ông L và C có lời nói chửi bới và thách thức lẫn nhau. Do bực tức nên ông L dùng tay đấm về phía C hai cái, C dùng tay trái túm cổ ông L và đấm một cái vào mắt trái rồi cả hai cùng vật lộn nhau và lăn từ bậc tam cấp hè nhà lớn xuống sân, khi đụng đến cây cột sắt của mái hiên sân thì C và ông L không giằng co nhau nữa. Sau đó ông L đi vào trong nhà cầm 01 con dao bằng kim loại, dạng dao tông quay ra sân chém C. Lúc này C đang đứng ở sân cạnh cây cột sắt của mái hiên, ông L dùng dao chém C 02 nhát C tránh được, thì ông L chém vào cây cột sắt và bị trượt chân ngã ra sân, thấy ông L bị ngã C đi lại dùng hai chân đá vào người và vào tay cầm dao của ông L, làm con dao văng ra, C đoạt được dao, lúc này ông L đang nhóm người đứng dậy thì C cầm dao bằng tay phải chém một nhát vào đầu tại vị trí trán trái, bên trên cung lông mày trái, sau khi bị chém ông L chạy vào trong nhà, C cầm dao đi theo vào đến cửa chính thì nhìn thấy ông L chảy nhiều máu nên C quay ra, khi đến bậc tam cấp nhà chính, C ném con dao về phía hông nhà, sau đó C đi tiếp ra đến giữa sân thì ông L từ trong nhà chạy ra, khi chạy đến cầu xe lên xuống của sân thì bị ngã, ông L đứng dậy tiếp tục chạy sang nhà hàng xóm để kêu cứu. Sau đó được người dân đưa đi cấp cứu tại bệnh viên T - Cầu Q điều trị từ ngày 17/3/2024 đến ngày 26/3/2024 thì xuất viện.

* Phần thương tích và giám định sức khỏe:

- Theo biên bản xem xét dấu vết trên thân thể ông Trần Văn L vào hồi 15 giờ 00 phút ngày 22/3/2024 tại Bệnh viện Đ1, huyện N ghi nhận như sau: 01 vết thương hở lóc da tại vị trí vùng trán trái, cung mày trái kích thước 10cm x 05cm bờ mép nham nhở, chảy nhiều máu; Mắt trái sưng nề, bầm tím; Cổ trái có vết bầm tím, trầy xước kích thước 05cm x 02cm; Mặt sau cẳng tay trái có vết thương trầy xước da dọc cẳng tay trái; Cổ chân trái có vết thương rộng 01cm.

- Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 450/KLTTCT - PYTH ngày 19/4/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh T kết luận, tỷ lệ phần trăm tổn hại sức khỏe đối với, ông Trần Văn L.

  • + Chấn thương vùng cổ chân trái gây hậu quả gãy bờ ngoài 1/3 dưới xương chày trái, đã được điều trị, can tốt, trục thẳng, không ngắn chi 11% (Thông tư 22/2019/TT - BYT; Bảng 1, chương 7 mục VIII; 15).
  • + Chấn thương vùng trán trái, cung mày trái gây hậu quả vỡ lún xương trán trái 09% (Thông tư 22/2019/TT - BYT; Bảng 1, chương I mục I; 4.1).
  • + Sẹo vết thương và sẹo xử lý vết thương phần mềm vùng mặt ngang mức trán cung lông mày trái, kích thước sẹo trung bình: 06% (Thông tư 22/2019/TT- BYT; Bảng 1, chương 8 mục I; 3 (Nguyên tắc 2).
  • + Sẹo vết thương vùng mặt sau trong cẳng tay trái; kích thước sẹo trung bình: 02% (Thông tư 22/2019/TT - BYT; Bảng 1, chương 8 mục I; 2).
  • + Chấn thương vùng mắt trái hiện tại không để lại sẹo, vết thương phần mềm, không để lại vết biến đổi rối loạn sắc tố da, không có di chứng tổn thương cơ quan chức năng do chấn thương 0%.

Căn cứ Thông tư 22/2019/TT - BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định:

Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với ông Trần Văn L là 26% (Hai mươi sáu phần trăm).

Trong đó tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể bởi các nhóm vết thương: lóc da tại vị trí vùng trán trái, cung mày trái; vết thương sưng nề bầm tím mắt trái; vết thương xây xước, bầm tím tại vị trí bên trái cổ; vết thương trầy xước da dọc cẳng tay trái: 16% (Mười sáu phần trăm).

* Vật chứng:

01 con dao bằng kim loại dài 35cm, phần lưỡi dao dài 20cm, rộng 07cm, cán dao làm bằng gỗ dài 15cm được nẹp kim loại sáng màu ở hai đầu cán. C xác nhận con dao trên là hung khí dùng để chém gây thương tích cho ông L.

Ngày 11/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra ra quyết định trưng cầu vật gây thương tích cho ông L. Tại Bản kết luận số: 451/KLVGTT - PYTH ngày 15/4/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh T xác định vết thương lóc da tại trán trái, cung mày trái kích thước 10 x 05cm do vật tày có cạnh gây ra.

Ngày 02/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra ra quyết định trưng cầu phòng K giám định ADN có trên hung khí (là con dao) và chân tóc của ông Trần Văn L. Tại bản kết luận giám định số: 2721/KL - KTHS ngày 23/7/2024 của phòng K Công an tỉnh T kết luận: Trên con dao gửi giám định không tìm thấy vết máu và tổ chức cơ thể người.

Ngày 24/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Quyết định trưng cầu giám định bổ sung 01 con dao bằng kim loại dài 35cm, phần lưỡi dao dài 20cm, rộng 07cm tay cầm bằng gỗ dài 15cm được nẹp bằng kim loại sáng màu ở hai đầu cán, có thể gây ra vết thương rách da tại vị trí trán trái, phía trên cung lông mày trái của ông Trần Văn L hay không?

Ngày 30/9/2024, Trung tâm pháp y tỉnh T ban hành kết luận giám định bổ sung vật gây thương tích số 756/KLVGTT - PYTH, kết quả như sau: Căn cứ vào tài liệu do Cơ quan điều tra cung cấp cho phép Trung tâm P xác định con dao thu ở hiện trường vụ án (được cơ quan trưng cầu gửi giám định bổ sung) có thể là vật gây ra vết thương tại vị trí trán trái, phía trên cung lông mày trái của ông Trần Văn L.

Quá trình điều tra ông Trần Văn L (người bị hại) khai báo ông bị Trần Văn C dùng gậy đánh gây thương tích ở đầu và cổ chân trái mâu thuẫn với lời khai của Trần Văn C là dùng dao để gây thương tích cho ông L. Cơ quan điều tra đã tiến hành cho đối chất, thực nghiệm điều tra và trưng cầu giám định cơ chế hình thành thương tích, vật gây thương tích, kết quả phù hợp với các chứng cứ mà Cơ quan điều tra đã thu thập được. Căn cứ vào lời khai của Trần Văn C, kết luận giám định thương tích, cơ chế hình thành thương tích, vật chứng là hung khí gây thương tích và quá trình thực nghiệm điều tra đủ căn cứ xác định Trần Văn C dùng dao chém ông Trần Văn L.

* Phần dân sự:

Theo báo cáo của ông Trần Văn L, ông phải điều trị tại Bệnh viện Đ1, huyện N từ ngày 17/3/2024 đến ngày 26/3/2024 thì xuất viện. Ông L yêu cầu Trần Văn C phải bồi thường các khoản tiền viện phí, thuốc điều trị là: 5.885.000đ (Năm triệu tám trăm tám mươi lăm nghìn đồng). Ngoài ra ông không yêu cầu Trần Văn C phải bồi thường bất cứ khoản tiền nào khác. Hiện Trần Văn C chưa bồi thường, khắc phục thiệt hại.

* Tại bản án hình sự sơ thẩm số 68/2024/HSST ngày 27 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa đã quyết định:

Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134 BLHS:

Tuyên bố Trần Văn C phạm tội “Cố ý gây thương tích".

- Áp dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a, d khoản 1 Điều 134 BLHS); điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 BLHS:

-Xử phạt: Trần Văn C 42 (Bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

-Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 BLHS; Điều 584, Điều 585, Điều 586 và Điều 590 BLDS: Chấp nhận yêu cầu của ông Trần Văn L về bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm. Buộc bị cáo Trần Văn C phải bồi thường thiệt hại cho ông Trần Văn L tổng số tiền là 15.245.000₫ (Mười lăm triệu hai trăm bốn mươi lăm nghìn đồng).

Ngoài ra án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của bị cáo, bị hại theo quy định của pháp luật.

* Sau khi xét xử sơ thẩm:

Ngày 04 tháng 12 năm 2024 bị cáo kháng cáo với nội dung: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

* Tại phiên tòa:

  • - Bị cáo giữ nguyên yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt;
  • - Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa đề nghị: Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Tại giai đoạn phúc thẩm bị cáo đã xuất trình thêm tài liệu chứng cứ mới đó là: Chính quyền địa phương xác nhận bị cáo là hộ cận nghèo, luôn chấp hành đóng góp đầy đủ tại địa phương. Trong vụ án do xuất phát từ mâu thuẫn gia đình, người bị hại trong vụ án cũng có một phần lỗi trong vụ án nên:

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo giảm mức hình phạt cho bị cáo từ 01 đến 03 tháng tù.

Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí phúc thẩm vì án được chấp nhận để cải sửa.

  • - Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo thật sự ăn năn hối hận, bị cáo là lao động chính trong gia đình, đang phải chăm sóc vợ bị bệnh, nuôi 2 con nhỏ không có công việc, xin HĐXX xem xét giảm án cho bị cáo để bị cáo sớm được đoàn tụ với gia đình, làm công dân có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong thời hạn luật định, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo khai nhận: Vào khoảng 19 giờ 00 phút ngày 17/3/2024 tại thôn C, xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, Trần Văn C và bố đẻ là ông Trần Văn L đã có hành vi chửi bới, vật lộn và xô xát nhau tại sân nhà mình ông L, sau đó Trần Văn C dùng tay đấm vào mặt, bóp cổ ông Trần Văn L, ông L2 vào nhà lấy dao chém C nhưng không trúng, sau khi nhặt được dao từ tay ông L, C dùng dao chém một nhát vào trán trái, bên trên cung mày trái ông Trần Văn L. Theo Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 450/KLTTCT - PYTH ngày 19/4/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh T, kết luận: Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể bởi các nhóm vết thương: lóc da tại vị trí vùng trán trái, cung mày trái; vết thương sưng nề bầm tím mắt trái; vết thương xây xước, bầm tím tại vị trí bên trái cổ; vết thương trầy xước da dọc cẳng tay trái là 16% (Mười sáu phần trăm). Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hôm nay thống nhất với lời khai trước đây bị cáo đã khai nhận tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai tại phiên tòa sơ thẩm và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Xét hành vi của bị cáo đã được Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Cố ý gây thương tích" theo điểm đ khoản 2 Điều 134 BLHS là đúng người, đúng tội.

[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo thấy rằng:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những gây thiệt hại sức khoẻ của ông Trần Đình L3 mà còn gây hoang mang cho nhân dân, ảnh hưởng đến trật tự an ninh tại địa phương. Tuy nhiên, sau khi phạm tội, bị cáo cũng đã nhận thức được hành vi vi phạm của mình. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự là phù hợp quy định của pháp luật.

* Tại cấp phúc thẩm: Bị cáo xuất trình thêm tình tiết mới đó là: Chính quyền địa phương xác nhận bị cáo hộ cận nghèo, trong vụ án này xét thấy người bị hại cũng có lỗi một phần nhưng cấp sơ thẩm chưa áp dụng, đây được coi là tình tiết giảm nhẹ TNHS tại Khoản 2 Điều 51 BLHS. Do đó HĐXX chấp nhận kháng cáo của bị cáo sửa bản án sơ thẩm theo hướng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp, tuy nhiên cũng cần phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[5] Án phí phúc thẩm: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm, vì kháng cáo của bị cáo được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; chấp nhận kháng cáo của bị cáo giảm hình phạt cho bị cáo. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 68/2024/HSST ngày 27 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa, cụ thể:

Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: điểm a khoản 2 Điều 23, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn C phạm tội: “Cố ý gây thương tích".

Xử phạt: Bị cáo Trần Văn C 39 (ba chín) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày đị thi hành án.

2. Về án phí: Bị cáo Trần Văn C không phải chịu án phí Hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND Cấp cao tại HN;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa (p7);
  • - TAND, VKSND huyện Nông Cồng;;
  • - Chi cục THADS huyện Nông Cồng;
  • - Công an huyện Nông Công;;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Văn Quân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2025/HSPT ngày 18/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 07/2025/HSPT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 18/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Văn C phạm tội cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger