|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC TỈNH NAM ĐỊNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 07/2025/HS-ST Ngày 26-02 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thịnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Trung Thành
Ông Lưu Xuân Tiến
- Thư ký phiên toà: Ông Đoàn Minh Toàn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Huy - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 13/2025/HSST ngày 07 tháng 02 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án xét xử số 13/2025/QĐXXST – HS ngày 13 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Bùi Xuân Đ, sinh năm 2006; tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam; nơi cư trú: thôn C, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Đảng phái: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; bố đẻ Bùi Văn Đ1, sinh năm 1976 và mẹ đẻ Đoàn Thị Ú, sinh năm 1979; đều cư trú tại: Thôn C, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; vợ, con: Chưa có;
Tiền án: không
Tiền sự: Ngày 31/12/2022, bị Toà án nhân dân huyện Nam Trực ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường G trong thời hạn 18 tháng.
Bị cáo Bùi Xuân Đ bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/12/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N.
- Bị hại:
1.Chị Đoàn Thị D, sinh năm 1986; địa chỉ: Tổ dân phố số C, thị trấn N, huyện N, tỉnh Nam Định (vắng mặt );
2. Anh Đoàn Văn P, sinh năm 1995; địa chỉ: Thôn T, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định (vắng mặt );
3. Ông Phạm Hồng H, sinh năm 1960; địa chỉ: Thôn C, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định (có mặt );
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ ngày 16/12/2024, Bùi Xuân Đ đi bộ đến nhà ông Phạm Hồng H, quan sát thấy nhà không có người, không khóa cửa, Đ trèo qua hàng rào rồi vào trong nhà để trộm cắp tài sản. Đ vào phòng khách đến giường ngủ, Đ phát hiện ở bên trong chiếc gối trên giường có 01 túi vải đen bên trong có 01 tập tiền, trị giá 10.804.000 đồng, gồm nhiều loại mệnh giá khác nhau buộc bằng chun, Đ cất số tiền này vào túi bên trong áo khoác rồi tiếp tục sang phòng ngủ bên cạnh, Đ lục trong tủ thì phát hiện có 03 bao lì xì, bên trong có 02 tờ tiền mệnh giá 50.000₫ và 01 tờ tiền mệnh giá 100.000đ, Đ cất số tiền 200.000đ này vào túi quần phía sau bên trái, tiếp tục tìm kiếm. Đán phát hiện trên kệ tủ ti có 01 con lợn đất màu vàng, Đ mang con lợn đất ra gần cầu thang đập vỡ có số tiền 2.000.000 triệu đồng bên trong con lợn đất, gồm nhiều mệnh giá khác nhau, Đ cất số tiền này vào túi bên trong áo khoác. Đ tiếp tục quay lại phòng ngủ, lấy dao cạy phá cửa tủ nhỏ cạnh tủ quần áo thì phát hiện bên trong có hộp màu cam bên trong có 02 nhẫn tròn kim loại màu vàng, Đ cất giấu hộp đựng 02 nhẫn này vào túi quần phía sau bên phải rồi rời khỏi nhà ông H.
Khoảng 15 giờ cùng ngày, sau khi đi làm về, ông H phát hiện ra nhà bị trộm cắp tài sản nên đã đến Công an xã N trình báo sự việc. Công an huyện N truy tìm đối tượng và phát hiện Bùi Xuân Đ đang đi bộ một mình có biểu hiện nghi vấn nên đã đưa Đ về trụ sở Công an xã N để làm việc. Quá trình làm việc, lực lượng Công an phát hiện và thu giữ trên người Đ số tiền 13.185.000 đồng và 02 nhẫn kim loại màu vàng. Đ khai nhận số tiền 13.004.000 đồng bao gồm 05 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, 13 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng, 31 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng, 54 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng, 62 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng, 79 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng, 14 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng, 02 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng và 02 nhẫn kim loại màu vàng (01 nhẫn trơn tròn và 01 nhẫn tròn có hoa văn gắn đá), đường kính 2cm là tài sản Đ trộm cắp được trong nhà ông Phạm Hồng H, còn số tiền 181.000 đồng gồm các mệnh giá: 100.000 đồng, 50.000 đồng, 10.000 đồng, 5.000 đồng, 2.000 đồng, 1.000 đồng, lực lượng Công an thu giữ tại túi quần phía trước bên trái của Đ là số tiền của Đ để tiêu sài cá nhân.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, Bùi Xuân Đ còn khai nhận ngoài hành vi trộm cắp tài sản ngày 16/12/2024 tại nhà ông Phạm Hồng H thì Đ còn thực hiện hành vi trộm cắp tài sản các ngày 07/12/2024 tại thị trấn N huyện N, tỉnh Nam Định và ngày 13/12/2024 tại xã N, huyện N, tỉnh Nam Định, cụ thể:
Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 07/12/2024, Đ đi bộ qua nhà chị Đoàn Thị D, Đ trèo qua tường bao đột nhập vào trong sân nhà chị D, phát hiện ra cửa trước chỉ cài then, không khoá, Đ dùng tay kéo chốt khoá ra và đột nhập vào bên trong nhà. Đán tìm kiếm tại phòng khách không lấy tài sản gì, Đ tiếp tục đi vào phòng ngủ và phát hiện ra tủ gỗ bị khoá cánh cửa; Đán tìm kiếm chìa khoá để mở tủ và tìm thấy chìa khoá tủ để trong hộp sắt hình vuông (loại hộp đựng bánh kẹo) để trên mặt tủ. Đán mở tủ và phát hiện ra bên trong tủ có treo 01 chiếc áo vest, Đ lục túi áo vest lấy số tiền 21.000.000 đồng, gồm các tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, bỏ vào túi quần bên phải. Đ tiếp tục tìm kiếm và phát hiện ra bên dưới tủ có một chiếc ví da màu đen, Đ mở ví và phát hiện ra bên trong ví có số tiền 2.000.000 triệu đồng, gồm nhiều tờ tiền mệnh giá khác nhau, số tiền này Đ lấy bỏ vào túi quần bên trái. Sau đó, Đ để chiếc ví vào vị trí ban đầu, khoá cửa tủ lại, bỏ chìa khoá tủ vào chiếc hộp sắt, rồi rời khỏi nhà chị D. Sau đó, Đ bắt xe khách lên Hà Nội sử dụng số tiền này tiêu sài cá nhân hết.
Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 13/12/2024, Đ đi bộ qua nhà anh Đoàn Văn P phát hiện nhà anh P không có người trông coi nên Đ trèo tường bao nhà anh P vào trong sân, đi ven hông nhà và đột nhập vào nhà bằng lối cửa phụ (cửa phụ chỉ khép, không chốt và khóa). Đ vào trong phòng ngủ phát hiện trên mặt tủ quần áo có chiếc chìa khoá, Đ dùng chiếc chìa khoá mở ngăn kéo tủ phát hiện bên trong có bao lì xì màu đỏ, bên trong có số tiền 15.000.000 đồng, gồm các tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, Đ cất giấu toàn bộ số tiền vào túi quần, khoá ngăn kéo lại và để lại chìa khoá vào vị trí ban đầu. Đ tiếp tục tìm kiếm phát hiện trên bàn trang điểm có 01 con lợn đất màu hồng, Đ đập con lợn đất lấy số tiền 1.240.000 đồng, gồm 02 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, 02 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng, và 02 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng rồi rời khỏi nhà anh P. Số tiền Đ trộm cắp được ở nhà anh P, Đ mang đi tiêu sài vào việc cá nhân hết.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N tiến hành khám nghiệm hiện trường tại nhà ông Phạm Hồng H thu giữ: 01 túi vải màu đen, 01 bao lì xì màu đỏ, 02 bao lì xì màu xanh, 02 mảnh vỡ của con lợn bằng thạch cao và 01 gối màu đỏ đã qua sử dụng;
Chị Đoàn Thị D đã tự nguyện giao nộp 01 đoạn video có dung lượng 4,74mb ghi lại diễn biến vụ việc ngày 07/12/2024, có hình ảnh Đ đột nhập vào trong nhà chị D.
Tại Bản kết luận giám định số 233 ngày 12/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung trong toàn bộ mẫu gửi giám định.
Tại Bản kết luận giám định số 10149 ngày 31/12/2024 của V Bộ C kết luận 01 nhẫn kim loại màu vàng dạng tròn trơn có khối lượng 3,75 gam là vàng, có hàm lượng 99,89%; 01 nhẫn kim loại màu vàng có hoa văn kim tiền gắn với nhau có khối lượng 3,84 gam là vàng, có hàm lượng 99,93%.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 49/KLĐG ngày 25/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện N kết luận: Giá trị tài sản của 01 chiếc nhẫn kim loại trơn màu vàng, đường kính 2cm trị giá là 8.350.000 đồng; giá trị tài sản của 01 chiếc nhẫn kim loại trơn màu vàng, đường kính 2cm, có họa tiết kim tiền có trị giá là 8.500.000 đồng; giá trị tài sản của 01 con lợn màu vàng, làm bằng thạch cao, kích thước (16x15x14)cm, trên mặt có khoảng vỡ KT (12x8,5)cm có trị giá là: 40.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là: 16.890.000 đồng .
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã xử lý vật chứng trả lại cho ông Phạm Hồng H số tiền 13.004.000 đồng, 02 chiếc nhẫn vàng, 01 túi vải màu đen; 01 bao lì xì màu đỏ; 02 bao lì xì màu xanh và 01 gối màu đỏ. Ông Phạm Hồng H đã nhận lại toàn bộ tài sản và không có yêu cầu
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, bị cáo Bùi Xuân Đ đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Bị cáo Bùi Xuân Đ bị Viện kiểm sát huyện N truy tố tại bản cáo trạng số 14/CT-VKS ngày 06 tháng 02 năm 2025 và tại phiên tòa đề nghị:
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Bùi Xuân Đ phạm tội “ Trộm cắp tài sản”, xử phạt bị cáo Bùi Xuân Đ từ 33 tháng tù đến 39 tháng tù.
Về vật chứng: Trả lại cho bị cáo Bùi Xuân Đ số tiền 181.000đ nhưng tiếp tục giữ lại để đảm bảo thi hành án và tịch thu tiêu hủy 01 con lợn bằng thạch cao, bị vỡ thành 02 mảnh.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Bùi Xuân Đ phải bồi thường cho chị Đoàn Thị D số tiền 23.000.000đ và cho anh Đoàn Văn P số tiền 16.240.000₫
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo phải nộp án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Bùi Xuân Đ nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
- [1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- [2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Lời khai của bị cáo Bùi Xuân Đ tại cơ quan CSĐT Công an huyện N và tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị hại, vật chứng của vụ án, Bản kết luận giám định số 233 ngày 12/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh N; Bản kết luận giám định số 10149 ngày 31/12/2024 của V Bộ C; Bản kết luận định giá tài sản số 49/KLĐG ngày 25/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện N.
Như vậy đã có cơ sở xác định:
Ngày 16/12/2024, bị cáo Bùi Xuân Đ đã lén lút chiếm đoạt số tiền 13.004.000đ và 02 nhẫn vàng trị giá 16.850.000đ của ông Phạm Hồng H, ở thôn C, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định. Tổng giá trị tài sản bị cáo Bùi Xuân Đ chiếm đoạt là 29.854.000₫
Ngày 07/12/2024, bị cáo Bùi Xuân Đ đã lén lút chiếm đoạt của chị Đoàn Thị D, ở tổ dân phố số C, thị trấn N, huyện N, tỉnh Nam Định số tiền là 23.000.000 đồng.
Ngày 13/12/2024, bị cáo Bùi Xuân Đ đã lén lút chiếm đoạt của anh Đoàn Văn P, ở thôn T, xã N, huyện N số tiền 16.240.000 đồng.
Tổng số tiền bị cáo Bùi Xuân Đ chiếm đoạt của các bị hại ông Phạm Hồng H, chị Đoàn Thị D và anh Đoàn Văn P là: 69.094.000₫
- [3] Hành vi của bị cáo Bùi Xuân Đ đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân, làm ảnh hưởng đến an toàn, trật tự trị an trong khu vực cũng như trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, giữ gìn kỷ cương, tăng cường pháp chế XHCN.
- [4] Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng nhiệm hình sự.
Tại cơ quan CSĐT và tại phiên tòa bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Bùi Xuân Đ đã 03 lần thực hiện hành vi phạm tội trộm cắp tài sản của các bị hại nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- [5] Xét nhân thân, tính chất mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù tương xứng với hành vi của bị cáo đã thực hiện, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định, để cải tạo, rèn luyện bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội.
- [6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Phạm Hồng H đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không có yêu cầu bồi thường, khắc phục hậu quả gì khác nên không đặt ra xem xét giải quyết. Bị hại chị Đoàn Thị D yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền là 23.000.000đ và ông Đoàn Văn P yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 16.240.000đ là có cơ sở nên được chấp nhận.
- [7] Về án phí: Bị cáo Bùi Xuân Đ phải nộp án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Tuyên bố bị cáo Bùi Xuân Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Xử phạt bị cáo Bùi Xuân Đ 33 ( ba mươi ba) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 16/12/2024
- Về vật chứng:
Trả lại cho bị cáo Bùi Xuân Đ số tiền là 181.000đ ( một trăm tám mươi mốt nghìn đồng) nhưng tiếp tục giữ lại để đảm bảo thi hành án.
Tịch thu tiêu hủy 01 con lợn màu vàng bằng thạch cao ( đã bị vỡ thành 02 mảnh)
( Số tiền và vật chứng đang được quản lý tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định theo số tài khoản 3949.0.1054782.00000 và có đặc điểm như biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 07/02/2025)
- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Bùi Xuân Đ phải có trách nhiệm bồi thường cho chị Đoàn Thị D số tiền là 23.000.000 đồng (hai mươi ba triệu đồng) và cho anh Đoàn Văn P số tiền là 16.240.000 đồng ( mười sáu triệu hai trăm bốn mươi nghìn)
Khi án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong khoản tiền trên, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự .
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Bùi Xuân Đ phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.962.000đ ( một triệu chín trăm sáu mươi hai nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo Bùi Xuân Đ và bị hại ông Phạm Hồng H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại chị Đoàn Thị D và anh Đoàn Văn P có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Văn Thịnh |
Bản án số 07/2025/HS-ST ngày 26/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC TỈNH NAM ĐỊNH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 07/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Xuân Đ - Trộm cắp tài sản
