TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 07/2025/HS-ST
Ngày: 24/01/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thái Dương Thùy Dung.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Bờ; Ông Lê Cao Trí.
Thư ký phiên tòa: Ông Trương Trọng Tín – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Thuận - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 93/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2025/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú đối với các bị cáo:
- Nguyễn Văn N, sinh ngày 02/5/1991 tại huyện C, tỉnh An Giang. Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 3/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Đạo Phật; Con ông Nguyễn Văn B và bà Phạm Thị C (đã chết); Anh em ruột bị cáo có 03 người, bị cáo là người thứ hai.
Nhân thân của bị cáo: Ngày 15/10/2020, bị Công an huyện C ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.500.000 đồng về hành vi “Cố ý gây thương tích”, chưa chấp hành xong việc đóng phạt.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đang bị tạm giam từ ngày 25/9/2024 đến nay và có mặt tại phiên tòa.
- La Văn T, sinh ngày 01/01/1989 tại huyện C, tỉnh An Giang. Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Đạo Phật; Con ông La Văn Đ (đã chết) và bà Lê Thị N1 (đã chết); Anh em ruột bị cáo có 04 người con, bị cáo là người thứ tư.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đang bị tạm giam từ ngày 05/11/2024 đến nay và có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Ông Huỳnh Hữu Đ1, sinh năm 1997, địa chỉ cư trú: Ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt);
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Ông Lê Khánh H, sinh năm 1994, địa chỉ cư trú: Tổ B, ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt);
- + Ông Đoàn Minh H1, sinh năm 2005, địa chỉ cư trú: Tổ C, ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Người làm chứng: Ông Lê Thành N2; Ông Nguyễn Nhựt A; Ông Phạm Văn K; Ông La Văn Hiếu E; Bà Lê Thị H2; Bà Huỳnh Kim N3 (đều vắng mặt); Ông La Văn T1 (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 21 giờ ngày 21/01/2024, La Văn H3 Em tổ chức uống rượu tại nhà, thuộc ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang cùng với Nguyễn Nhựt A, Đoàn Minh H1, Lê Thành N2, Phạm Văn K và Huỳnh Hữu Đ1. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, bị cáo La Văn T và bị cáo Nguyễn Văn N (đã có uống rượu) đi về nhà Hiếu E (T là chú ruột của Hiếu E và ở chung nhà với Hiếu E), thấy trời đã khuya, nhóm của H3 Em nhậu nói chuyện lớn tiếng nên T la rầy Hiếu Em, yêu cầu nhóm giải tán. Hiếu E cự cãi với T, sau đó nhóm của Hiếu E giải tán ra về, bạn của H3 Em lên xe bỏ đi ra hướng đầu hương lộ đường M cách đó 30m. Lúc này, bà Lê Thị H2 (nhà ở đầu hẻm) từ trong nhà bước ra nói “Đường này là đường dành đi bộ, mấy chú chạy xe ồn ào, người lớn tuổi, bệnh không ngủ được”. Nghe vậy, Huỳnh Hữu Đ1 lớn tiếng chửi thề và cự cãi lại với bà H2 “Tại bà lớn tuổi nên tôi mới không đánh bà, chứ bà bằng cỡ tuổi tôi là tôi đánh bà rồi”. Khi đó, T và N đang ngủ trong nhà thì nghe tiếng Huỳnh Hữu Đ1 cự cãi lớn tiếng với bà H2 (do bà H2 là dì, mợ của N và T) nên N và T đi ra cự cãi và đánh nhau với Đ1. Thấy vậy, H1 và H3 Em can ngăn (Hoàng ôm Đ, Hiếu E ôm T), T lấy 01 khúc gỗ tre dài 68cm cầm trên tay đánh Đ1 02 cái nhưng H1 dùng tay đỡ nên trúng tay phải của H1. Do tức giận nên N chạy vào nhà của bà Huỳnh Kim N3 (cạnh nhà Hiếu E) lấy 01 cây dao bằng kim loại dài 26,5cm cầm trên tay phải xông đến chém Đ1 nhiều nhát, thì được H1 tiếp tục can ngăn nên không trúng. Đ1 bỏ chạy, T cầm thanh gỗ tre, N cầm dao rượt đuổi theo Đ1, vừa truy hô “Ăn trộm". Lúc này, Lê Khánh H đang ở trong nhà nghe có tiếng truy hô, tưởng có ăn trộm nên H từ trong nhà chạy ra dùng tay nắm cổ áo Đ1 giữ lại, T bỏ khúc gỗ tre, chạy tới dùng hai tay chụp đầu Đ1 đè xuống và lên gối nhiều cái trúng vào ngực của Đ1. Khi đó N chạy đến cầm dao chém Đ1 nhưng trúng vào tay phải của H gây thương tích nên H buông Đ1 ra, Đ1 bỏ chạy, thấy H bị thương T đưa H vào nhà, còn N tiếp tục dùng dao chém Đ1 nhiều cái trúng vào vùng đầu, ngực, vai, vành tai phải, cổ của Đ1 gây thương tích, Đ1 giằng co cây dao với N làm N bị thương ở bàn tay phải. Sau đó, T và
N bỏ đi về nhà. Riêng Đ1 được N2 đưa đến Bệnh viện đa khoa khu vực tỉnh An Giang tại thành phố C cấp cứu, điều trị đến ngày 23/01/2024 xuất viện, còn H và H1 đến Trung tâm y tế huyện C điều trị vết thương.
Sau khi sự việc xảy ra Huỳnh Hữu Đ1 yêu cầu xử lý hình sự đối với N, T và yêu cầu N, T liên đới bồi thường thiệt hại về sức khoẻ tổng cộng là 24.500.000 đồng. Riêng Đoàn Minh H1, Lê Khánh H có đơn không yêu cầu xử lý hình sự đối với N, T và không yêu cầu bồi thường về trách nhiệm dân sự.
Ngày 02/8/2024 và 01/11/2024 N, T bị khởi tố điều tra.
Vật chứng thu giữ trong vụ án gồm: 01 (một) cây dao bằng kim loại dài 26,5 cm, mũi nhọn, cán dài 10,6 cm, lưỡi dài 15,9 cm, chỗ rộng nhất là 4,8cm và 01 (một) khúc tre màu xám đen dào 0,68m.
- * Căn cứ Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 53/KLTTCT-TTPY ngày 11/5/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh A đối với ông Huỳnh Hữu Đ1 kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, pháp y tâm thần. Xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên của ông Huỳnh Hữu Đ1, áp dụng phương pháp cộng theo Thông tư tại thời điểm giám định là: 19% (mười chín phần trăm).
- * Căn cứ Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 54/KLTTCT-TTPY ngày 08/5/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh A đối với ông Lê Khánh H kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, pháp y tâm thần. Xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên của Lê Khánh H, áp dụng phương pháp công theo Thông tư tại thời điểm giám định là 03 % (không ba phần trăm).
- * Căn cứ Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 55/KLTTCT-TTPY ngày 08/5/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh A đối với ông Đoàn Minh H1 kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, pháp y tâm thần. Xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên của Đoàn Minh H1, áp dụng phương pháp công theo Thông tư tại thời điểm giám định là 04% (không bốn phần trăm).
Quá trình điều tra, bị cáo N và bị cáo T trình bày phù hợp với nội dung vụ án và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Về động cơ và mục đích phạm tội thì N trình bày do say rượu, thấy Đ1 chửi bà H2 (là dì của N) nên N tức giận và muốn gây thương tích cho Đ1, việc gây thương tích cho H1 và H là ngoài ý muốn, còn về thương tích ở bàn tay phải của N trong quá trình giằng co với Đ1 thì N không yêu cầu xử lý hình sự và không yêu cầu bồi thường dân sự.
Quá trình truy tố, bị cáo N và bị cáo T đã tác động gia đình nộp thay số tiền 3.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú để bồi thường khắc
phục một phần hậu quả cho bị hại Huỳnh Hữu Đ1, trong đó nộp thay cho bị cáo T 2.000.000 đồng, bị cáo N 1.000.000 đồng.
Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng trình bày phù hợp với nội dung vụ án.
Tại Cáo trạng số 03/CT-VKSCP-HS ngày 13 tháng 12 năm 2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú truy tố bị cáo Nguyễn Văn N và La Văn T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi tắt là Bộ luật Hình sự).
Tại phiên toà,
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú thực hành quyền công tố tại phiên tòa trình bày lời luận tội: Vẫn giữ quan điểm truy tố như Cáo trạng đã nêu, căn cứ vào quy định của pháp luật, tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét:
- + Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 50; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, đề nghị tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N và bị cáo La Văn T phạm tội "Cố ý gây thương tích",
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù đến 03 (ba) năm tù;
- Xử phạt bị cáo La Văn T từ 02 (hai) năm tù đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù;
- + Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào Điều 46, 48 Bộ luật Hình sự, Điều 584, 585, 586, 587 và 590 của Bộ luật Dân sự năm 2015: Đề nghị công nhận sự tự nguyện bồi thường của hai bị cáo đối với bị hại, buộc bị cáo Nguyễn Văn N, La Văn T liên đới bồi thường thiệt hại tổng số tiền 20.000.000 đồng cho bị hại Huỳnh Hữu Đ1. Đề nghị tiếp tục tạm giữ số tiền 3.000.000 đồng do gia đình nộp thay bị cáo T và N để khắc phục hậu quả tại Chi cục Thi hành án dân sự ngày 11/12/2024 để đảm bảo cho việc thi hành án.
- + Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố Tụng Hình sự năm 2015: Đề nghị tịch thu tiêu hủy vật chứng gồm 01 (một) cây dao bằng kim kim loại dài 26,5 cm, mũi nhọn, cán dài 10,6 cm, lưỡi dài 15,9 cm, chỗ rộng nhất là 4,8 cm và 01 khúc tre màu xám đen dài 0,68m.
- + Về án phí sơ thẩm: Đề nghị buộc mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Đối với Nguyễn Văn N có hành vi dùng dao chém Đoàn Minh H1 gây thương tích 04% và Lê Khánh H gây thương tích 03%, nhưng H1, H không yêu cầu xử lý hình sự đối với N nên Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện C không xem xét trách nhiệm hình sự đối với hành vi này là có căn cứ.
Đối với Lê Khánh H và Nguyễn Văn N, La Văn T không có sự bàn bạc, phân công, tiếp nhận ý chí để gây thương tích cho Huỳnh Hữu Đ1, do đó không xác định H có vai trò đồng phạm trong vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với H là có căn cứ.
Đối với việc Huỳnh Hữu Đ1 gây thương tích cho N ở mu bàn tay phải nhưng thương tích không đáng kể, N từ chối giám định thương tích và không yêu cầu xử lý hình sự đối với hành vi này của Đ1 nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
- - Bị cáo Nguyễn Văn N và La Văn T đều thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã nêu, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra và truy tố, các bị cáo không tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Các bị cáo biết hành vi của mình là sai trái, vi phạm pháp luật, ăn năn, hối hận về hành vi mình đã thực hiện, tại phiên toà, các bị cáo xin lỗi bị hại. Trong lời nói sau cùng, hai bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho hai bị cáo để có cơ hội sớm trở về lo cho gia đình, đi làm kiếm tiền, bồi thường thiệt hại cho bị hại để khắc phục hậu quả. Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên toà, hai bị cáo đồng ý và thống nhất bồi thường cho bị hại Huỳnh Hữu Đ1 tổng số tiền 20.000.000 đồng. Về số tiền 3.000.000 đồng khắc phục hậu quả là của hai bị cáo tác động gia đình nộp thay, trong đó bị cáo T 2.000.000 đồng, bị cáo N 1.000.000 đồng để bồi thường phần nào chi phí cho bị hại.
- - Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn N trình bày: Thống nhất với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú. Không tranh luận về tội danh và điều luật áp dụng. Tuy nhiên, mong Hội đồng xét xử xem xét điều kiện hoàn cảnh của bị cáo N, gia đình khó khăn, là lao động chính trong gia đình, nguyên nhân sự việc có một phần lỗi của bị hại. Về động cơ phạm tội do bị cáo tức giận về hành vi của bị hại chửi người thân của mình, bị cáo nhận thức là chỉ muốn gây thương tích cho bị hại, chứ không mong muốn tước đoạt mạng sống của bị hại. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo N dưới mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là 02 năm tù.
- - Bị hại Huỳnh Hữu Đ1 trình bày như nội dung vụ án đã nêu, bị hại thừa nhận ngày xảy ra sự việc có say xỉn nên dẫn đến cự cãi lớn tiếng với bà Lê Thị H2. Bị hại vẫn giữ yêu cầu xử lý hình sự đối với hành vi của hai bị cáo, tuy nhiên về trách nhiệm dân sự, bị hại chỉ yêu cầu hai bị cáo bồi thường thiệt hại tổng số tiền 20.000.000 đồng, rút lại một phần yêu cầu bồi thường so với quá trình điều tra là 4.500.000 đồng.
- - Ông La Văn T1 trình bày: Số tiền nộp khắc phục hậu quả 3.000.000 đồng là do bị cáo T và N tác động gia đình nộp thay, trong đó bị cáo T nộp 2.000.000 đồng, bị cáo N 1.000.000 đồng, ông không có yêu cầu, ý kiến gì khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- - Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015. Người tham gia tố tụng trong vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án là hợp pháp.
- - Về sự có mặt, vắng mặt của người tham gia tố tụng: Quá trình chuẩn bị xét xử, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho người tham gia tố tụng. Tại phiên toà, hai bị cáo, bị hại, ông T1 có mặt, riêng những người tham gia tố tụng còn lại vắng mặt, không có lý do mặc dù đã được triệu tập hợp lệ. Xét thấy, quá trình điều tra đã ghi nhận lời khai của họ, việc vắng mặt của họ tại phiên tòa không gây trở ngại cho việc xét xử. Do đó, căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
- - Về việc xác định tư cách tham gia tố tụng:
- Đối với Lê Khánh H, Đoàn Minh H1 là người bị bị cáo N gây thương tích nhưng không yêu cầu xử lý hình sự và không yêu cầu bồi thường thiệt hại. Hội đồng xét xử xét thấy H, H1 có mặt tại hiện trường, chứng kiến sự việc, bị xâm phạm về sức khoẻ nhưng không có yêu cầu khởi tố hình sự, không yêu cầu về trách nhiệm dân sự, riêng Khánh H không bị khởi tố hình sự về hành vi đồng phạm với T và N. Do đó Hội đồng xét xử xác định Lê Khánh H, Đoàn Minh H1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là phù hợp với quy định tại Điều 65 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
- Đối với La Văn T1 tại phiên tòa trình bày số tiền 3.000.000 đồng mà T1 nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự ngày 11/12/2024 là nộp thay cho T và N, trong đó nộp cho N 1.000.000 đồng, T 2.000.000 đồng để khắc phục hậu quả. Đây là số tiền do T, N tác động gia đình nhờ bồi thường thay, không phải là tiền của T1, T1 không có yêu cầu hay ý kiến gì khác nên Hội đồng xét xử xác định La Văn T1 là người làm chứng trong vụ án này là phù hợp theo quy định tại Điều 66 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về trách nhiệm hình sự:
- Xét về hành vi phạm tội của các bị cáo: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo N và bị cáo T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của các bị cáo phù hợp với nội dung Cáo trạng; phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng, cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản tiếp nhận nguồn tin tội phạm, Biên bản khám nghiệm hiện trường, Kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống, các biên biên bản ghi lời khai, qua đó có cơ sở xác định: Vào khoảng 22 giờ 00 phút ngày 21/01/2024, do nghe thấy việc cãi nhau giữa bị hại Huỳnh Hữu Đ1 và bà Lê Thị H2
(là dì, mợ của N, T) nên bị cáo Nguyễn Văn N và La Văn T đã có hành vi dùng tay chân và hung khí nguy hiểm là 01 cây dao bằng kim loại dài 26,5cm và 01 khúc gỗ tre dài 68cm cầm trên tay xông đến đánh và chém Đ1 gây thương tích với tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 19% (Mười chín phần trăm).
Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo N và bị cáo T đều là người trên 18 tuổi, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, các bị cáo nhận thức được hành vi dùng dao và khúc gỗ tấn công người khác gây thương tích là sai trái và vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Chỉ vì mâu thuẫn nhỏ không đáng có mà hai bị cáo lại có hành vi dùng tay chân và hung khí nguy hiểm đánh, chém bị hại gây thương tích để thõa mãn sự tức giận của mình. Cho thấy thái độ của hai bị cáo là hung hăng, thể hiện bản tính côn đồ, bất chấp hậu quả, xem thường pháp luật. Hành vi của hai bị cáo đã thỏa mãn tình tiết phạm tội là “dùng hung khí nguy hiểm” và “Có tính chất côn đồ”, không những trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ mà xâm phạm đến tình hình trật tự tại địa phương nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hình vi mà mình đã gây ra.
Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy, hành vi của bị cáo Nguyễn Văn N và La Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội "Cố ý gây thương tích" theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự do thuộc các trường hợp quy định tại điểm a và điểm i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Do đó, cáo trạng số 03/CT-VKSCP-HS ngày 13/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú truy tố đối với bị cáo N và bị cáo T là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[2.2] Xét về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
Sức khỏe và tính mạng của con người là tài sản vô giá được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm sức khỏe trái pháp luật đều bị xử lý nghiêm. Các bị cáo nhận thức được hành vi dùng tay chân và hung khí tấn công người khác gây thương tích là nguy hiểm và vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Chỉ vì mâu thuẫn không đáng có, với bản tính côn đồ, nóng nảy, nhưng không biết kiềm chế, nóng giận, vội vàng giải quyết vấn đề bằng bạo lực, mong muốn gây thương tích cho người khác nhằm để thỏa mãn sự tức giận của mình, cho thấy thái độ của các bị cáo là bất chấp hậu quả và xem thường pháp luật nên cần phải xử lý nghiêm để thể hiện tính răn đe, giáo dục đối với các bị cáo.
Xét về vai trò đồng phạm trong vụ án, nhận thấy hai bị cáo cùng thực hiện hành vi phạm tội được xem là đồng phạm nhưng thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, không có sự tiếp nhận ý chí, bàn bạc, phân công từ trước. Cả hai bị cáo đều có hành vi cự cãi với Đ1, nảy sinh ý định phạm tội và cùng trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội trong tình trạng say rượu. Trong đó, bị cáo N là người chủ động đi ra cự cãi và đánh nhau với bị hại trước, bị cáo là người chủ động đi tìm cây dao để sử dụng làm hung khí gây thương tích nhiều nhát trên cơ thể bị hại Đ1 và gây thương tích cho H1 và H. Còn bị cáo T khi thấy N cự cãi với Đ1, bênh vực N nên đã có hành vi dùng cây tre để đánh Đ1, đuổi theo Đ1 và có hành vi dùng chân lên gối đánh Đ1, khi H bị
thương, T đã dừng tay, không tiếp tục đuổi theo đánh Đ1 nữa nhưng không có lời lẽ nào để ngăn cản N gây thương tích cho Đ1 nên cả hai bị cáo đều có lỗi, nhưng xét vai trò của bị cáo N cao hơn bị cáo T. Do đó, cần buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội mà hành vi phạm tội của từng bị cáo gây ra mới đủ tính răn đe, giáo dục, thuyết phục đối với các bị cáo, đồng thời tuyên truyền, răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội, đảm bảo sự nghiêm minh của pháp luật.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, cũng cần xem xét, sự việc xảy ra nguyên nhân có một phần lỗi của bị hại, do bị hại uống rượu say sỉn, đêm khuya, cùng bạn bè chạy xe nói chuyện, cự cãi lớn tiếng ồn ào trong khu dân cư, làm ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân, ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương, dùng lời lẽ khiếm nhã đối với người lớn tuổi, từ đó dẫn đến việc cự cãi, đánh nhau như sự việc phạm tội vừa qua. Cần nhắc nhở bị hại rút kinh nghiệm trong cách hành xử sau này tại nơi công cộng để trách sự việc đáng tiếc tương tự xảy ra.
[2.3] Xét về nhân thân của các bị cáo:
Hai bị cáo không có tiền án và tiền sự.
Riêng bị cáo N, trước đây vào ngày 15/10/2020, bị Công an huyện C, ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.500.000 đồng về hành vi “Cố ý gây thương tích”, chưa chấp hành xong việc đóng phạt. Mặc dù hết thời hiệu thi hành nên được xem là không có tiền sự, tuy nhiên qua đó cũng thể hiện nhân thân của bị cáo N là chưa tốt.
[2.4] Về tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo N và bị cáo T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, các bị cáo thành khẩn khai báo, nhận tội, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu, trình độ học vấn thấp, các bị cáo đã tự nguyện tác động gia đình nộp một phần tiền khắc phục hậu quả cho bị hại, các bị cáo đồng ý bồi thường thiệt hại cho bị hại, sự việc xảy ra có một phần lỗi của bị hại, gia đình các bị cáo khó khăn, nhận thức pháp luật hạn chế, riêng bị cáo N gia đình thuộc thành phần hộ cận nghèo nên cần xem xét cho hai bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho hai bị cáo khi quyết định hình phạt là phù hợp với quy định của pháp luật và phù hợp với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú.
[3] Về biện pháp tư pháp:
[3.1] Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào Điều 46, Điều 48 của Bộ luật Hình sự, Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 587 và Điều 590 của Bộ luật Dân sự năm 2015, do bị cáo N và bị cáo T là người có hành vi xâm phạm sức khỏe của bị hại Đ1 nên cần buộc các bị cáo phải bồi thường thiệt hại cho bị hại Đ1. Quá trình điều tra, bị hại yêu cầu bồi thường tổng số tiền 24.500.000 đồng, trong đó bao gồm tiền chi phí điều trị và tiền mất thu nhập khi điều trị. Tại phiên tòa, bị hại đồng ý rút lại một phần
yêu cầu bồi thường là 4.500.000 đồng, chỉ yêu cầu bồi thường tổng số tiền 20.000.000 đồng, bị cáo N và T đồng ý tự nguyện bồi thường cho bị hại 20.000.000 đồng nên công nhận sự tự nguyện của hai bị cáo, buộc bị cáo N và bị cáo T liên đới bồi thường cho bị hại số tiền 20.000.000 đồng, trong đó cả hai bị cáo đều có lỗi cố ý gây thương tích cho bị hại Đ1 nên cần buộc mỗi bị cáo phải có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại Đ1 10.000.000 đồng là đúng theo quy định.
[3.2] Quá trình truy tố, gia đình của các bị cáo đã nộp số tiền khắc phục hậu quả tại Chi cục Thi hành án dân sự theo biên lai thu tiền số 0003031 ngày 11/12/2024 nộp thay cho La Văn T số tiền 2.000.000 đồng và biên lai thu số 0003032 ngày 11/12/2024 nộp thay cho bị cáo N số tiền 1.000.000 đồng. Nên xét thấy, cần tiếp tục tạm giữ số tiền khắc phục hậu quả này để đảm bảo cho việc thi hành án.
[3.3] Về xử lý vật chứng:
Đối với vật chứng thu giữ trong vụ án gồm: 01 (một) cây dao bằng kim kim loại dài 26,5 cm, mũi nhọn, cán dài 10,6 cm, lưỡi dài 15,9 cm, chỗ rộng nhất 4,8cm (đã sử dụng) và 01 (một) khúc tre màu xám đen dài 0,68m. Xét thấy, đây là công cụ, phương tiện bị cáo N và bị cáo T dùng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy là đúng theo quy định tại Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và phù hợp với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú.
[4] Đối với Nguyễn Văn N có hành vi dùng dao chém Đoàn Minh H1 gây thương tích 04% và Lê Khánh H gây thương tích 03%, nhưng H1, H không yêu cầu xử lý hình sự đối với N nên Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện C không xem xét trách nhiệm hình sự đối với hành vi này là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Đối với Lê Khánh H và Nguyễn Văn N, La Văn T không có sự bàn bạc, phân công, tiếp nhận ý chí để gây thương tích cho Huỳnh Hữu Đ1, do đó không xác định H có vai trò đồng phạm trong vụ án, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với H là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Đối với việc Huỳnh Hữu Đ1 gây thương tích cho Nguyễn Văn N ở bàn tay phải nhưng N từ chối giám định thương tích và không yêu cầu xử lý hình sự đối với hành vi này của Đ1 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện C không xử lý là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về án phí sơ thẩm:
Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo Nguyễn Văn N và La Văn T là người bị kết án nên buộc mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng theo quy định của pháp luật;
Bị cáo Nguyễn Văn N và La Văn T là người bị buộc nghĩa vụ bồi thường thiệt hại nên buộc mỗi bị cáo phải chịu 500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn N và La Văn T phạm tội "Cố ý gây thương tích".
- Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 50, Điều 58, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 25/9/2024 (ngày hai mươi lăm tháng chín năm hai ngàn không trăm hai mươi bốn).
- Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 50, Điều 58, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo La Văn T 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 05/11/2024 (ngày năm tháng mười một năm hai ngàn không trăm hai mươi bốn).
- Căn cứ Điều 46, Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã sửa đổi, bổ sung năm 2017, Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 587 và Điều 590 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Buộc bị cáo Nguyễn Văn N và bị cáo La Văn T phải liên đới bồi thường cho bị hại Huỳnh Hữu Đ1 tổng số tiền 20.000.000 đồng, trong đó bị cáo Nguyễn Văn N và bị cáo La Văn T, mỗi bị cáo phải bồi thường cho bị hại Huỳnh Hữu Đ1 số tiền 10.000.000 đồng.
Tiếp tục tạm giữ số tiền 3.000.000 đồng, trong đó bị cáo La Văn T 2.000.000 đồng đã nộp theo biên lai số 0003031 ngày 11/12/2024 và bị cáo Nguyễn Văn N 1.000.000 đồng đã nộp theo biên lai số 0003032 ngày 11/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú để đảm bảo cho việc thi hành án.
- Căn cứ Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015:
- Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) cây dao bằng kim kim loại dài 26,5 cm, mũi nhọn, cán dài 10,6 cm, lưỡi dài 15,9 cm, chỗ rộng nhất 4,8cm (đã sử dụng) và 01 (một) khúc tre màu xám đen dài 0,68m. (Đặc điểm vật chứng như mô tả theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 21/01/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú).
- Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu,
miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn N và La Văn T, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn N và La Văn T, mỗi bị cáo phải chịu 500.000 đồng (Năm trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian và số tiền chậm thi hành án.
Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015:
Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thái Dương Thuỳ Dung |
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Số: 08/2025/TB-TA
Châu Phú, ngày 06 tháng 3 năm 2025
THÔNG BÁO
SỬA CHỮA, BỔ SUNG BẢN ÁN
Căn cứ Điều 45, 260 và 261 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
Xét thấy Bản án hình sự sơ thẩm số 07/2024/HS-ST ngày 24/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú có thiếu sót do lỗi đánh máy, cần được sữa chữa như sau:
- Về nội dung tại phần cuối của trang 1 và đầu trang (phần mở đầu) của bản án sơ thẩm nêu trên đã ghi:
“Bị cáo đang bị tạm giam từ ngày 05/11/2024 đến nay và có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Ông Huỳnh Hữu Đ1, sinh năm 1997, địa chỉ cư trú: Ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt)”.
Do lỗi đánh máy nên có thiếu sót về phần giới thiệu của người bào chữa cho bị cáo N nên nay nội dung nêu trên được sữa chữa, bổ sung như sau:
“Bị cáo đang bị tạm giam từ ngày 05/11/2024 đến nay và có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn N: Ông Lương Minh H4, là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước thuộc Sở Tư pháp tỉnh An Giang.
- Bị hại: Ông Huỳnh Hữu Đ1, sinh năm 1997, địa chỉ cư trú: Ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt)”.
(Phần bổ sung là phần ghi người bào chữa).
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thái Dương Thùy Dung |
Bản án số 07/2025/HS-ST ngày 24/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 07/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/01/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn N và La Văn T phạm tội cố ý gây thương tích
