Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN N

TỈNH BẮC KẠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2025/HS-ST

Ngày: 15-4-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH BẮC KẠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Út Lệ

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đào Việt Hưng

Bà Hoàng Thị Huyên

- Thư ký phiên tòa: Bà La Quỳnh Anh - Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Bắc Kạn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N tham gia phiên tòa: Bà Mã Ngọc Cẩm - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 4 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Bắc Kạn kết nối với điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh B, Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 07/2025/TLST-HS ngày 07 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2025/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo:

Lý Văn H

(Tên gọi khác: Không có), sinh ngày 06 tháng 02 năm 1986 tại huyện N, tỉnh Bắc Kạn. Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Thôn L, xã H, huyện N, tỉnh Bắc Kạn. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Nùng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lý Văn H1, sinh năm 1960 và bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1960; Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án: 01, ngày 22/06/2023 bị Tòa án nhân dân huyện N xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” xử phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Ngày 01/5/2024 chấp hành xong, chưa được xóa án tích.

Tiền sự: Không.

Về nhân thân: Ngày 31/8/2022 bị Công an xã H, huyện N xử phạt vi phạm hành chính, phạt cảnh cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/01/2025 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt tại điểm cầu thành phần.

Người chứng kiến: Ông Chu Văn Q, sinh năm 1979 - Địa chỉ: Thôn L, xã H, huyện N, tỉnh Bắc Kạn (Vắng mặt).

- Người tham gia tố tụng khác: Ông Hoàng Quốc H3 - Phó Đội trưởng Đội Cảnh sát bảo vệ và hỗ trợ tư pháp Trại Tạm giam Công an tỉnh B hỗ trợ phiên tòa tại điểm cầu thành phần. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 09 giờ 40 phút ngày 07/01/2025, tại khu Đ, thuộc thôn N, xã H, huyện N, tỉnh Bắc Kạn, tổ công tác Công an xã H, huyện N phát hiện, bắt quả tang Lý Văn H đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tang vật thu giữ: 01 gói nhỏ chất màu trắng dạng cục và bột được gói bằng 01 lớp giấy có nét hoa văn, để bên trong 01 bao thuốc lá nhãn hiệu GOLD LION (có chứa 01 điếu thuốc lá), đặt tại trong túi áo khoác phía trước bên phải H đang mặc trên người (tổ công tác tiến hành niêm phong trong phong bì ký hiệu A1). Tạm giữ của H: 01 xe mô tô biển số đăng ký 97B1-431.29, màu xanh, nhãn hiệu HONDA WAVE kèm theo chìa khóa xe.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã tiến hành mở niêm phong cân xác định khối lượng và thử phản ứng phát hiện chất ma túy đối với gói ma túy thu giữ khi bắt quả tang Lý Văn H, sau đó đã tiến hành niêm phong lại toàn bộ số ma túy trong phong bì ký hiệu T1 để gửi trưng cầu giám định. Tại Bản kết luận giám định số 59/KL-TTHS ngày 13/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong phong bì ký hiệu T1 gửi giám định là ma túy; loại Heroine (H), có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất. Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong phong bì ký hiệu T1 có khối lượng là 0,11g (không phẩy một một gam).

Quá trình điều tra, truy tố, Lý Văn H khai nhận: Số ma túy mà Cơ quan Công an thu giữ ngày 07/01/2025 là của H, do H mua về để sử dụng vì bản thân là người nghiện ma túy, cụ thể: Khoảng chiều tối ngày 04/01/2025 khi H đang đi sửa máy cưa lốc tại khu vực ngã ba đường giao nhau giữa Quốc lộ C và Quốc lộ B thuộc thôn N, xã H, huyện N, tỉnh Bắc Kạn, H nhìn thấy một người đàn ông lạ mặt (H không biết tên, tuổi, địa chỉ) giống người nghiện, nên đã hỏi nhờ người đó mua ma túy hộ, người đàn ông đó đồng ý, H đưa cho người đó số tiền 100.000đ (một trăm nghìn đồng) và đứng đợi. Khoảng gần một giờ đồng hồ sau, người đàn ông đó quay lại và đưa cho H 01 (một) gói nhỏ ma túy. H cho gói ma túy vào bao thuốc lá (bên trong có 01 điếu thuốc lá) và cầm trong lòng bàn tay phải. Khoảng 15 phút sau, H đi nhờ xe một người đàn ông lạ mặt (H không biết tên, tuổi, địa chỉ) để về nhà. Khi đi đến khu vực đồi T thuộc thôn N, xã H, huyện N, tỉnh Bắc Kạn, H xuống xe đi vệ sinh và cất giấu bao thuốc lá có chứa gói ma túy vừa mua được vào trong bụi cây cách đường Q khoảng 30 mét. Rồi tiếp tục cùng người đàn ông lạ mặt đi về nhà. Đến khoảng 08 giờ ngày 07/01/2025, H mượn xe mô tô biển số đăng ký 97B1-413.29 của chị Hoàng Thị S (Là người cùng thôn) để đi sửa máy cưa. H một mình điều khiển xe mô tô đến vị trí cất giấu gói ma túy và lấy bao thuốc lá có chứa gói ma túy cho vào túi áo khoác bên phải phía trước H đang mặc trên người để mang đi sử dụng. Khi chưa kịp sử dụng thì bị tổ công tác Công an xã H kiểm tra và phát hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của H.

Ông Chu Văn Q, sinh năm 1979, trú tại thôn N, xã H, huyện N, tỉnh Bắc Kạn xác nhận: Ngày 07/01/2025 bản thân được chứng kiến việc Cơ quan Công an kiểm tra, lập biên bản về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy đối với Lý Văn H.

Tại bản cáo trạng số 08/CT-VKSNS, ngày 06 tháng 3 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện N đã truy tố bị cáo Lý Văn H về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lý Văn H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị xử lý bị cáo như sau:

* Về trách nhiệm hình sự:

- Về hình phạt chính: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 07/01/2025.

- Hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng đối với bị cáo.

* Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): Tịch thu tiêu hủy: Số ma túy (H) hoàn lại sau khi giám định, giấy gói cũ, phong bì niêm phong cũ, 01 vỏ bao thuốc lá, 01 điếu thuốc lá có trong các phong bì niêm phong ký hiệu T42, T2.

* Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo khai nhận hành vi của mình đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện N đã truy tố và nhất trí với quan điểm luận tội của Kiểm sát viên. Bị cáo không có ý kiến tranh luận, bào chữa hay khiếu nại gì. Lời sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đông xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo

Tại phiên tòa, bị cáo Lý Văn H khai nhận: Do nghiện ma túy nên ngày 07/01/2025, bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép 01 (một) gói nhỏ ma túy (heroine) có tổng khối lượng 0,11g (không phẩy một một gam) trên người mục đích sử dụng cho bản thân và đã bị tổ công tác Công an xã H, huyện N phát hiện bắt quả tang, tiến hành thu giữ toàn bộ tang vật.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 09 giờ 40 phút, ngày 07/01/2025; Biên bản mở đóng niêm phong, cân xác định khối lượng chất bột màu trắng nghi là chất ma túy và gửi mẫu giám định ngày 07/01/2025, phù hợp với Kết luận giám định số 59/KL-KTHS ngày 13/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh B, phù hợp với các biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung đối với bị can và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Qua tranh luận tại phiên tòa không có mâu thuẫn, không làm phát sinh tình tiết, chứng cứ mới.

Vì vậy, có đầy đủ cơ sở kết luận hành vi của Lý Văn H đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Điều luật có nội dung:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Heroine........ có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”

[3] Xét về tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm

Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc mua, tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, từng bị xét xử về tội tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng bị cáo không chịu tu dưỡng đạo đức, lối sống mà vẫn là đối tượng nghiện chất ma túy và đã cố ý thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 0,11g (không phẩy một một gam) ma túy (Heroine).

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, gây mất trật tự trị an xã hội, tiếp tay cho các đối tượng hám lời có cơ hội lưu thông, buôn bán ma túy, là nguyên nhân làm lây lan, phát sinh nhiều tệ nạn nguy hiểm xã hội và các hành vi vi phạm pháp luật khác. Viện kiểm sát nhân dân huyện N quyết định truy tố bị cáo trước Tòa án để xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là đúng quy định của pháp luật, đúng với diễn biến khách quan của vụ án, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội.

[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Bị cáo có nhân thân xấu. Bị cáo phạm tội khi đang có 01 tiền án, nay lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm do cố ý nên phải chịu 01 tình tiết tăng nặng là tái phạm quy định điểm h, khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân. Bị cáo có ông nội Lý Văn N được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì, gia đình bị cáo đang thờ cúng liệt sĩ Lý Thị Đ (em gái ruột ông N). Do vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Từ những nhận định trên, căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần thiết cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Đề nghị mức hình phạt của Kiểm sát viên là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, không có việc làm, thu nhập ổn định. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét áp dụng.

[6] Về xử lý vật chứng trong vụ án: Số ma túy (Heroine) hoàn lại sau khi giám định, giấy gói cũ và phong bì niêm phong cũ, 01 vỏ bao thuốc lá, 01 điếu thuốc lá là vật cấm lưu hành và vật không có giá trị nên cần tịch thu tiêu huỷ.

Xe môtô bị tạm giữ là của chị Hoàng Thị S, sinh năm 1981, trú tại thôn L, xã H, huyện N, tỉnh Bắc Kạn, quá trình điều tra làm rõ chị S không biết bị cáo sử dụng chiếc xe mô tô này vào hành vi vi phạm pháp luật, cơ quan điều tra trả lại chiếc xe cho chị S là có căn cứ.

[7] Các vấn đề liên quan trong vụ án:

Đối với người đàn ông (không rõ họ tên, địa chỉ) theo lời khai của bị cáo là người bị cáo nhờ mua hộ ma túy (heroine) ngày 04/01/2025, quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch của người này, nên Cơ quan điều tra không đủ căn cứ làm rõ để xử lý.

Đối với chị Hoàng Thị S quá trình điều tra làm rõ chị S không biết bị cáo sử dụng chiếc xe mô tô vào hành vi vi phạm pháp luật ngày 07/01/2025, cơ quan điều tra không xem xét xử lý là có căn cứ.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lý Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm c, khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017)

Xử phạt bị cáo 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 07/01/2025.

2. Về xử lý vật chứng trong vụ án: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017), Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Tịch thu tiêu hủy:

- 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T42.

- 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T2.

(Tình trạng, số lượng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 07/3/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B và Chi cục Thi hành án dân sự huyện N).

3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/UBTVQH, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để nộp Ngân sách Nhà nước.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

4. Quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh;
  • - VKSND huyện;
  • - VKSND tỉnh;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Kạn;
  • - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bắc Kạn;
  • - Công an tỉnh Bắc Kạn (PC10);
  • - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Bắc Kạn;
  • - Chi cục THADS huyện;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Hoàng Út Lệ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2025/HS-ST ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH BẮC KẠN về hình sự sơ thẩm về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 07/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH BẮC KẠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger