|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẠ LANG TỈNH CAO BẰNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc |
Bản án số: 07/2025/HS-ST
Ngày 25-3-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẠ LANG, TỈNH CAO BẰNG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Sầm Đức Hiệp
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Ma Văn Kết
- 2. Bà Hoàng Thị Ngoan
- Thư ký phiên tòa: Bà La Thị Hằng – Thư ký viên, Tòa án nhân dân huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Ông Đàm Quang Vũ - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 07/2025/TLST-HS ngày 04/3/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 162/2025/QĐXXST-HS ngày 13/3/2025 đối với bị cáo:
Bế Văn L
sinh ngày 09/5/1977, tại thị trấn TN, huyện HL, tỉnh Cao Bằng.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm NK, thị trấn TN, huyện HL, tỉnh Cao Bằng; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bế Văn T (đã chết) và bà Nông Thị L1 (đã chết); Vợ, con: Chưa có; Tiền án: Có 02 tiền án:
- Ngày 17/9/2014, bị Toà án nhân dân huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng xử phạt 07 năm 03 tháng tù về tội mua bán trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự (BLHS) năm 1999.
- Ngày 25/9/2023, bị Toà án nhân dân huyện Quảng Hoà, tỉnh Cao Bằng xử phạt 12 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015.
Tiền sự: 01 tiền sự. Ngày 05/11/2020, bị Toà án nhân dân huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 24 tháng.
Nhân thân: Năm 1996, bị Công an huyện Hạ Lang xử phạt vi phạm hành chính về hành vi cố ý gây thương tích; Năm 2002, bị Công an thị xã Cao Bằng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi huỷ hoại tài sản xã hội chủ nghĩa; Ngày 26/11/2003, bị Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng xử phạt 07 năm tù về tội mua bán trái phép chất ma túy; Năm 2010, bị Uỷ ban nhân dân tỉnh Cao Bằng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc với thời hạn 24 tháng.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/12/2024, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực huyện Hạ Lang, Công an tỉnh Cao Bằng. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Đoàn Thị T - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Cao Bằng. Có mặt.
- Người làm chứng:
- Nông Văn Tr1, sinh năm 1984;
- Nông Việt Tr, sinh năm 1984;
- Lương Văn Ng, sinh năm 1989;
Trú tại: Xóm HD, thị trấn TN, huyện HL, tỉnh Cao Bằng.
Trú tại: Xóm N, thị trấn TN, huyện HL, tỉnh Cao Bằng.
Trú tại: Xóm BC, xã QL, huyện HL, tỉnh Cao Bằng.
Tất cả những người làm chứng đều vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 50 phút, ngày 31/12/2024, tổ công tác Công an huyện Hạ Lang phối hợp với Công an thị trấn TN làm nhiệm vụ tại khu vực xóm HD, thị trấn TN, huyện HL thì phát hiện một người đàn ông đang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu đen, BKS 11G1-012.xx có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra. Khi thấy tổ công tác, người đàn ông vứt từ tay trái ném xuống mặt đường 03 (ba) gói giấy bạc, tổ công tác đã yêu cầu đối tượng nhặt lại để kiểm tra. Qua kiểm tra, xác định người đàn ông tên Bế Văn L, trú tại xóm NK, thị trấn TN, huyện Hạ Lang phát hiện 03 (ba) gói giấy bạc có chứa chất bột màu trắng. Đấu tranh khai thác tại chỗ L khai nhận số chất bột màu trắng là ma tuý, loại Heroine được L mua với một người đàn ông không quen biết tại xóm LP, xã ĐT, huyện TK với số tiền 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng) mục đích đem về sử dụng cho bản thân và bán kiếm lời. Khi đang đi bán ma tuý cho Nông Văn Tr1 ở xóm HD, thị trấn TN, huyện HL thì bị kiểm tra, bắt giữ. Sự việc được lập biên bản tại chỗ, vật chứng được niêm phong và người được đưa về trụ sở để điều tra làm rõ.
Quá trình điều tra chứng minh được: Khoảng 09 giờ, ngày 31/12/2024, Bế Văn L mượn chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu đen, BKS 11G1-012.xx của Nông Việt Tr2 là cháu của L để đi đến xóm LP, xã ĐT, huyện TK mua ma tuý với một ng ười đàn ông không quen biết tên là Dùng với giá 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng). Khi đang tìm mua ma tuý, L nhận được điện thoại của Nông Văn Tr1 hỏi mua ma tuý với số tiền 100.000đ, L đồng ý. Sau khi mua được ma tuý, L sử dụng một phần, số ma tuý còn lại L chia ra thành 03 (ba) gói nhỏ, trong đó có 01 (một) gói ma tuý để bán cho Nông Văn Tr1. Trên đường quay trở về để bán ma tuý cho Tr1 thì L bị Công an phát hiện, bắt giữ. Trước khi bị bắt, L đã bán ma túy nhiều lần cho Nông Văn Tr1 và Lương Văn Ng. Cụ thể:
- Bán ma túy cho Nông Văn Tr1 02 (hai) lần, lần thứ nhất vào khoảng 15 giờ 30 phút, ngày 25/12/2024, L bán cho Tr1 01 gói ma tuý với số tiền 100.000₫ (một trăm nghìn) tại trước cửa nhà của Tr1 ở xóm HD, thị trấn TN; lần thứ hai vào khoảng 12 giờ 50 phút, ngày 31/12/2024, sau khi mua ma tuý tại LP quay trở về để bán ma tuý cho Tr1 chưa kịp bán thì bị giữ.
- Bán ma tuý cho Lương Văn Ng 03 (ba) lần: Lần thứ nhất, khoảng 18 giờ ngày 25/12/2024, L bán ma tuý cho Ng với số tiền 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) tại khu vực dốc gần nhà L thuộc xóm NK, thị trấn TN; lần thứ hai, cách lần thứ nhất khoảng hai đến ba ngày, khoảng 18 giờ L bán ma tuý cho Ng với số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) vị trí cũng tại khu vực dốc gần nhà L; lần thứ ba, khoảng 18 giờ, ngày 30/12/2024, L bán ma tuý cho Ng với số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) cũng tại vị trí trên.
Ngoài ra, Bế Văn L khai nhận, vào ngày 27/12/2024, khi Nông Việt Tr2 đến nhà L chơi và lên cơn nghiện, L đã đưa ma tuý cho Tr2 sử dụng tại nhà vệ sinh trong nhà của L.
Khi bắt bị cáo, Cơ quan Điều tra đã thu giữ: 03 (ba) gói giấy bạc màu trắng, bên trong có chứa chất bột màu trắng; 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu đen, BKS 11G1-012.xx là của chị Nông Thị Ngọc L1, sinh năm 1985, trú tại Tổ 9, phường Sông Bằng, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đứng tên chủ sở hữu, chị L1 cho Nông Việt Tr2 (anh trai ruột của L1) quản lý, sử dụng; quá trình L mượn Tr2 chiếc xe này để đi mua ma tuý Tr2 và L1 không biết, nên ngày 27/02/2025 Công an huyện Hạ Lang đã trả lại chiếc xe máy cho chị L1; số tiền 860.000đ (tám trăm sáu mươi nghìn đồng) thu giữ của Bế Văn L, do không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị cáo; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu xanh đen, loại màn hình cảm ứng được L sử dụng để liên lạc hằng ngày và gọi điện mua bán ma tuý. Chất bột màu trắng thu giữ của L được Công an huyện Hạ Lang cân có khối lượng tịnh 0,62g (không phẩy sáu mươi hai gam), được Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng giám định là ma túy, loại Heroine.
Tại bản Cáo trạng số: 08/CT-VKSHL ngày 28/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hạ Lang đã truy tố bị cáo Bế Văn L về các tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại các điểm b, q khoản 2 Điều 251 BLHS và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản 1 Điều 255 BLHS.
Tại phiên tòa:
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện đúng như Cáo trạng phản ánh và cho rằng việc truy tố bị cáo về các tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” là đúng người, đúng tội, không oan.
Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ quan điểm truy tố bị cáo Bế Văn L về các tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”; áp dụng các điểm b, q khoản 2 Điều 251, khoản 1 Điều 255 BLHS; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 và Điều 55 của BLHS. Đề nghị xử phạt Bế Văn L từ 07 năm đến 08 năm tù về tội mua bán trái phép chất ma tuý và từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý; tổng hợp hình phạt chung là từ 09 năm đến 10 năm 06 tháng tù. Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật TTHS: Tiêu huỷ số ma tuý bị thu giữ; Tịch thu nộp ngân sách nhà nước đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu xanh đen, loại màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng của bị cáo; Truy thu số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng) do bị cáo bán ma tuý mà có. Không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí đối với bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo: Nhất trí với quan điểm của Viện kiểm sát truy tố về tội danh, điều luật, tình tiết giảm nhẹ áp dụng đối với bị cáo và việc xử lý vật chứng. Tuy nhiên, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo hoàn cảnh gia đình khó khăn, là người dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt với mức án thấp nhất mà Kiểm sát viên đề nghị đối với hai tội và miễn án phí cho bị cáo.
Bị cáo không có ý kiến bào chữa, không tranh luận với các quan điểm của đại diện Viện kiểm sát và không có khiếu nại về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng, chỉ đề nghị được xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hạ Lang, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hạ Lang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật TTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi mà bị cáo đã thực hiện và các yếu tố cấu thành tội phạm:
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa, hoàn toàn phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra về thời gian, địa điểm, biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của những người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ nên có căn cứ khẳng định: Khoảng thời gian từ ngày 25 đến ngày 31/12/2024, Bế Văn L đã bán lẻ ma túy nhiều lần cho Nông Văn Tr1, Lương Văn Ng, cụ thể, bán ma tuý 03 lần cho Ng, mỗi lần 01 gói ma tuý với số tiền là 200.000đ đến 500.000₫ đều tại khu vực dốc gần nhà L thuộc xóm NK, thị trấn TN; bán 02 lần cho Tr1, mỗi lần 01 (một) gói ma túy với số tiền mỗi gói 100.000đ, lần 01 tại trước cửa nhà của Tr1 thuộc xóm HD, thị trấn TN, lần 02 khi trên đường mua ma tuý về cho Tr1 thì bị bắt giữ; tổng số tiền thu lợi bất chính từ việc bán ma tuý mà có là 1.000.000₫ (một triệu đồng). Ngoài ra, bị cáo L còn thừa nhận, ngày 27/12/2024, khi Nông Việt Tr2 đến nhà L chơi và lên cơn nghiện, L đã đưa ma tuý cho Tr2 sử dụng tại nhà vệ sinh trong nhà của L. Số ma túy bị thu giữ của L có khối lượng tịnh là 0,62g (không phẩy sáu mươi hai gam), được Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng giám định là ma túy, loại Heroine. Như vậy, việc L bán ma túy nhiều lần cho Nông Văn Tr1 và Lương Văn Ng, mỗi lần bán là hành vi cấu thành tội phạm độc lập, do đó bị cáo thuộc trường hợp phạm tội mua bán trái phép chất ma tuý với tình tiết định khung là phạm tội 02 (hai) lần trở lên. Đối với hành vi đưa ma tuý cho Nông Việt Tr2 sử dụng trong nhà của L cấu thành tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý.
Khi thực hiện hành vi bị cáo nhận thức được việc tàng trữ, mua bán, cung cấp ma túy, địa điểm, dụng cụ để tổ chức thực hiện việc sử dụng trái phép chất ma túy là những hành vi bị pháp luật nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện, hành vi của bị cáo được thực hiện một mình với lỗi cố ý trực tiếp, đồng thời khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi và năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do đó, hành vi của bị cáo có đầy đủ các yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 2 Điều 251 BLHS và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 255 BLHS. Xét tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an tại địa phương, nên cần cách ly bị cáo một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hạ Lang đã truy tố và đề nghị mức án đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tuy nhiên, đối với đề nghị áp dụng tình tiết tái phạm nguy hiểm tại điểm q khoản 2 Điều 251 BLHS đối với bị cáo là chưa phù hợp; Vì: Áp dụng theo tinh thần hướng dẫn tại Tiểu mục 2 - Điều 3 - Nghị quyết số 03/2020/NQ-HĐTP, ngày 30/12/2020 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự trong xét xử tội phạm tham nhũng và tội phạm khác về chức vụ, có nội dung hướng dẫn việc xác định trường hợp tái phạm và tái phạm nguy hiểm như sau: “Đã bị kết án về một trong các tội quy định tại Mục 1 Chương này chưa được xóa án tích mà còn vi phạm” quy định tại khoản 1 các điều 353, 354 và 355 của Bộ luật Hình sự là trước đó người phạm tội đã bị kết án trong 01 lần về một hoặc nhiều tội quy định tại Mục 1 Chương XXIII của Bộ luật Hình sự, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện một trong những hành vi được liệt kê tại khoản 1 của một trong các điều 353, 354 và 355 của Bộ luật Hình sự.
Trường hợp ngoài tiền án nêu trên, người phạm tội còn có tiền án khác thì tiền án này được sử dụng để xác định tái phạm, tái phạm nguy hiểm, trừ trường hợp các tiền án đều đã được sử dụng để xác định dấu hiệu định tội trong các lần kết án trước đó.”. Như vậy, trong vụ án này Bế Văn L có 02 (hai) tiền án, trong đó, tiền án ngày 17/9/2014, bị Toà án nhân dân huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng xử phạt 07 năm 03 tháng tù về tội mua bán trái phép chất ma tuý đã được sử dụng để định tội đối với bị cáo tại Bản án ngày 25/9/2023 của Toà án nhân dân huyện Quảng Hoà, tỉnh Cao Bằng xử phạt 12 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015; do đó không tiếp tục sử dụng tiền án tại Bản án ngày 17/9/2014 để xác định tái phạm nguy hiểm đối với bị cáo L. Tuy nhiên, đối với tiền án ngày 25/9/2023, bị cáo chưa được xoá án tích lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên bị cáo L vẫn bị áp dụng tình tiết tăng nặng “tái phạm” tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.
[3]. Đối với người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch đã bán ma túy cho bị cáo tại xóm LP, xã Đàm Thủy, huyện TK, vì Cơ quan Điều tra không có căn cứ xác minh làm rõ, do đó Hội đồng xét xử không xem xét. Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nông Văn Tr1, Lương Văn Ng và Nông Việt Tr2 đã bị Công an huyện Hạ Lang xử phạt vi phạm hành chính với hình thức cảnh cáo là đúng quy định.
[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 (một) tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm. Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS; ngoài ra bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS nên cần được áp dụng đối với bị cáo. Do đó, quan điểm của người bào chữa đề nghị giảm nhẹ mức hình phạt và miễn án phí đối với bị cáo là có căn cứ nên Hội đồng xét xử sẽ xem xét cân nhắc phù hợp với quy định của pháp luật.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo L bị lệ thuộc vào ma túy, hoàn cảnh gia đình khó khăn, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6]. Về biện pháp tư pháp: Số Heroine bị thu giữ là mặt hàng nhà nước nghiêm cấm nên cần tịch thu tiêu hủy; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu xanh đen, loại màn hình cảm ứng được L sử dụng là phương tiện liên lạc để mua bán ma tuý do đó cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước. Tổng số tiền thu lợi bất chính do bị cáo mua bán ma túy mà có là 1.000.000₫ (một triệu đồng) nên cần truy thu để nộp vào ngân sách nhà nước.
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu đen, BKS 11G1-012.xx là của chị Nông Thị Ngọc L1 được L sử dụng để đi mua ma túy, đây là tài sản của chị L1 cho Nông Việt Tr2 quản lý, sử dụng, việc L lấy xe để đi mua ma túy chị L1 và Tr2 không biết nên Cơ quan Điều tra đã trả lại chiếc xe máy cho chị L1 là đúng quy định. Số tiền 860.000đ (tám trăm sáu mươi nghìn đồng) thu giữ của Bế Văn L, quá trình điều tra chứng minh không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị cáo.
[7]. Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Bế Văn L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.Về hình phạt:
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 53, Điều 55 và Điều 38 của BLHS.Xử phạt bị cáo Bế Văn L 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 02 (hai) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội mà bị cáo Bế Văn L phải chấp hành là 09 (chín) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày 31/12/2024.
Về biện pháp tư pháp:
Áp dụng các điểm b, c khoản 1 Điều 47 BLHS; các điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật TTHS;- Tịch thu tiêu hủy số Heroine bị thu giữ gồm: 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước ghi “Hoàn mẫu sau giám định vụ Bế Văn L, hành vi Mua bán trái phép chất ma tuý”, mặt sau có chữ ký của thành phần tham gia niêm phong và 04 dấu giáp lai của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Cao Bằng.
- Tịch thu 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu xanh đen, loại màn hình cảm ứng của bị cáo L để nộp vào ngân sách nhà nước.
- Truy thu số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng) thu lợi bất chính từ hành vi mua bán trái phép chất ma tuý đối với bị cáo để nộp vào ngân sách Nhà nước.
Xác nhận vật chứng nêu trên đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng.
Về án phí:
Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:Bị cáo Bế Văn L được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo:
Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật TTHS. Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Sầm Đức Hiệp |
7
Bản án số 07/2025/HS-ST ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẠ LANG, TỈNH CAO BẰNG về hình sự (mua bán trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý)
- Số bản án: 07/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẠ LANG, TỈNH CAO BẰNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bế Văn L phạm các tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại các điểm b, q khoản 2 Điều 251 BLHS và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản 1 Điều 255 BLHS.
