TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI XUÂN TỈNH HÀ TĨNH Bản án số: 07/2025/HS-ST Ngày: 19-3-2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI XUÂN, TỈNH HÀ TĨNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Nữ Ngọc Diệp
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Đăng Ký, bà Trần Thị Thanh Tâm
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Ngọc Bích – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Quốc Hoàn - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 3 năm 2025, tại Tòa án nhân dân huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 03/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2025/QĐXXST-HS ngày 20/02/2025; Thông báo thay đổi thời gian mở phiên toà số 04/2025/TB-TA ngày 24/02/2025, đối với bị cáo:
Họ và tên: Xa Thị Tr; giới tính: Nữ; tên gọi khác: Không; sinh ngày: 10 tháng 8 năm 1989, tại: tỉnh Hòa Bình; nơi thường trú: Xóm Sơn Ph, xã Cao Sơn, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 12/12; đã đình chỉ sinh hoạt Đảng (Chi bộ xóm Sơn Phú thuộc Đảng bộ xã Cao Sơn, huyện Đà Bắc, tỉnh Hoà Bình); con ông Xa Văn Th, sinh năm 1965 và bà Đinh Thị L, sinh năm 1968, đều làm ruộng và thường trú tại: Xóm Sơn Ph, xã Cao Sơn, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình; anh, chị, em ruột: Có 02 người, bị cáo là con thứ nhất; chồng: ông Bùi Đăng N, sinh năm 1981 (hiện xuất khẩu lao động tại Đài Loan), nơi thường trú: Xóm Sơn Ph, xã Cao Sơn, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình; con: 02 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2016; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/11/2024, đến ngày 09/11/2024 thì bị khởi tố, tạm giam cho đến nay tại Trại Tạm giam Công an tỉnh Hà Tĩnh, có mặt tại phiên toà;
Bị hại:
- + Chị Nguyễn Thị Thu H, sinh ngày: 23/3/1993, nghề nghiệp: Lao động tự do, nơi cư trú: Thôn Lam L, xã Xuân Hải, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; có mặt tại phiên toà;
- + Chị Nguyễn Thị H, sinh ngày: 26/9/1989, nghề nghiệp: Lao động tự do, nơi cư trú: Thôn Đình Cảo, xã Đình Cảo, huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên, có văn bản đề nghị giải quyết vắng mặt;
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Xa Thị Linh, sinh ngày: 23/4/1985, nghề nghiệp: Công nhân, dân tộc: Tày, nơi cư trú: Xóm S, xã Cao Sơn, huyện Đà Bắc, tỉnh Hoà Bình, vắng mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 6/2024, Xa Thị Tr đã nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản dưới hình thức môi giới đưa người đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài mặc dù không có khả năng đưa người đi lao động ở nước ngoài nhưng do trước đây đã từng đi lao động tại Đài Loan nên biết rõ các thủ tục, hồ sơ về xuất khẩu lao động. Để thực hiện ý định của mình, Tr đã lập và sử dụng tài khoản Facebook mang tên “Minh Quyên” để đăng các bài viết môi giới đưa người đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Ngày 01/7/2024, chị Nguyễn Thị Thu H ( sinh năm 1993, trú tại thôn Lam L, xã Xuân Hải, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh) liên hệ với Tr qua tài khoản Facebook “Minh Quyên” và sau đó là tài khoản Zalo “Lệ Quyên” để làm thủ tục, hồ sơ xuất khẩu lao động. Để tạo niềm tin, Tr gửi ảnh chụp hộ chiếu, căn cước công dân của Tr cho chị H rồi hướng dẫn chị H chụp gửi các hình ảnh, thông tin cá nhân gửi lại cho Tr như: ảnh chụp căn cước công dân 02 mặt, hình ảnh chân dung, phiếu lý lịch tư pháp số 2, hộ chiếu. Sau đó, Tr đưa ra các thông tin giả về nội dung công việc để tư vấn cho chị H. Khi chị H tin tưởng, đồng ý làm hồ sơ thì Tr yêu cầu chị H đóng tiền phí phỏng vấn 3.000.000 đồng và tiền trúng tuyển phỏng vấn là 2.000.000 đồng. Ngày 01/7/2024 và 02/7/2024, chị H đã sử dụng tài khoản ngân hàng Agribank số 3708205421637 mang tên NGUYEN THI THU HUYEN chuyển khoản 5.000.000 đồng vào tài khoản ngân hàng Agribank số 3002215000780 mang tên XA THI TR. Nhận được tiền, Tr tiếp tục lấy lý do tài khoản ngân hàng chưa xác thực sinh trắc học, nên chưa chuyển được tiền cho công ty và yêu cầu chị H chuyển 2.000.000 đồng vào tài khoản ví điện tử Viettel Money liên kết với Ngân hàng Mbbank theo số tài khoản 9704229208618017257 mang tên XA THI TR. Chị H đồng ý và tiếp tục chuyển tiền theo yêu cầu của Tr trong ngày 02/7/2024. Sau đó, Tr giả vờ gọi điện thoại để phỏng vấn chị H về nội dung thủ tục xuất khẩu lao động. Ngày hôm sau, Tr thông báo với chị H là đã trúng tuyển, yêu cầu nộp số tiền 500 USD (nằm trăm đô la Mỹ) tương đương khoảng 10.000.000 đồng để đảm bảo sẽ đi xuất khẩu lao động theo đơn hàng. Chị H trả lời chưa có đủ số tiền này, thì Tr giả vờ nói sẽ cho mượn phần còn thiếu nên chị H đồng ý; đến chiều ngày 03/7/2024, chị H chuyển khoản cho Tr 5.000.000 đồng. Ngày 04/7/2024, Tr gọi điện cho chị H giả vờ lấy lý do con ốm và yêu cầu chị H chuyển tiếp số tiền 5.000.000 đồng mà Tr nói đã cho mượn vào hôm trước, nên đã hỏi Tr và đòi lại tiền, thì Tr đã chặn liên lạc và chiếm đoạt số tiền 41.500.000 đồng của chị H tiêu xài cá nhân hết.
300.000 đồng; lần thứ hai vào ngày 06/7/2024 với số tiền 3.000.000 đồng. Khoảng gần 01 tuần sau, qua nắm bắt thông tin chị H phát hiện mình không trúng tuyển đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan nên liên lạc với Tr để hỏi và yêu cầu trả lại tiền thì Tr không trả lời, chặn liên lạc, chiếm đoạt số tiền 20.300.000đồng của chị H chi tiêu, sử dụng cá nhân hết. Đến ngày 07/11/2024, Xa Thị Tr đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh đầu thú và khai nhận về hành vi phạm tội của mình.
Với phương thức, thủ đoạn tương tự nói trên, quá trình điều tra, Xa Thị Tr còn khai nhận vào khoảng đầu tháng 6/2024, Tr lập và sử dụng tài khoản Facebook có tên “Bồ Công Anh” để đăng bài viết môi giới đưa người đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan nhằm mục đích lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Sau khi đọc được bài viết này, chị Nguyễn Thị H ( sinh năm 1989, trú tại thôn Đình C, xã Đình C, huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên) đã nhắn tin cho Tr để hỏi nhờ đổi tiền Việt Nam sang tiền Đài Loan. Quá trình nói chuyện, Tr giả vờ tư vấn cho chị H đi xuất khẩu lao động Đài Loan với tổng chi phí khoảng 120.000.000 đồng thì chị H nói không đủ tiền. Tr tiếp tục tư vấn cho chị H đi xuất khẩu lao động ở Dubai với chi phí thấp hơn thì chị H đồng ý và kết bạn với Tr qua Zalo "Lệ Quyên" để tư vấn, trao đổi. Tr giả vờ nói có chị gái đang mở tiệm Spa ở Dubai và hứa hẹn sẽ giới thiệu chị H vào làm việc với mức lương ổn định. Tr sử dụng số điện thoại 0867.177.xxx lập tài khoản trên ứng dụng WhatsApp, giả danh là người chị của Tr có tiệm Spa ở Dubai, kết bạn và nhắn tin hứa hẹn với chị H sẽ nhận vào làm việc. Tr còn đưa ra thông tin giả là có một người đã làm xong thủ tục hồ sơ, sẽ bay cùng chuyến với chị H, rồi hỏi thông tin giá vé máy bay để báo cho chị H và sử dụng ứng dụng chỉnh sửa hình ảnh số tài khoản của bản thân có nhiều tiền để cho chị H thêm tin tưởng. Sau đó, Tr yêu cầu đặt cọc trước số tiền 3.000.000 đồng. Ngày 03/6/2024, chị H đồng ý và sử dụng tài khoản Viettinbank số [...] mang tên NGUYEN THI HANH chuyển 3.000.000 đồng vào số tài khoản Vietcombank số 9867177245 do Tr cung cấp (tài khoản này mang tên Xa Thị L, sinh năm 1985, trú tại xã Cao Sơn, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình - chị họ của Tr). Ngày 07/6/2024, Tr giả vờ lấy lý do đi mua mỹ phẩm, quần áo để mượn số tiền 2.000.000 đồng, thì chị H đồng ý và chuyển khoản cho Tr số tiền 2.000.000 đồng vào tài khoản Vietcombank số 9867177245. Ngày 08/6/2024, khi chị H làm xong hộ chiếu thì Tr yêu cầu chuyển số tiền 27.000.000 đồng là chi phí làm Visa và vé máy bay, hẹn giữa tháng 6/2024 sẽ được xuất cảnh. Chị H đồng ý và chuyển khoản số tiền 27.000.000 đồng cho Tr vào tài khoản Vietcombank số 9867177245 trong ngày 08/6/2024. Sau đó, Tr tiếp tục giả vờ đưa ra các lý do: mượn tiền; mua mỹ phẩm giúp chị H; đổi tiền Việt Nam sang tiền Dubai; tiền thuê phòng trọ khi ở Dubai để yêu cầu chị H chuyển thêm số tiền 9.500.000 đồng vào tài khoản Vietcombank số 9867177245 vào ngày 15/6/2024. Một thời gian sau, chị H thấy vẫn chưa làm được thủ tục bay, nên đã hỏi Tr và đòi lại tiền, thì Tr đã chặn liên lạc và chiếm đoạt số tiền 41.500.000 đồng của chị H tiêu xài cá nhân hết.
Tổng số tiền Xa Thị Tr chiếm đoạt của 02 bị hại là 61.800.000 đồng (sáu mươi mốt triệu tám trăm nghìn đồng).
- Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu vật chứng:
Thu giữ từ Xa Thị Tr 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y15A, màu xanh đen, số Imei 1 861746052608888, số Imei 2 861746052608896, khe sim 1 lắp sim số thuê bao 086717724.
- Trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, Xa Thị Tr chưa bồi thường cho các bị hại theo yêu cầu gồm: chị Nguyễn Thị Thu H 20.300.000 đồng (hai mươi triệu ba trăm nghìn đồng) và chị Nguyễn Thị H 41.500.000 đồng (bốn mươi mốt triệu năm trăm nghìn đồng).
Hành vi của Xa Thị Tr bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh truy tố tại Cáo trạng số 03/2025/CT-VKS-NX ngày 17/01/2025.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố Xa Thị Tr phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Đề nghị áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174, khoản 1 Điều 38, Điều 50; điểm r, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự xử phạt Xa Thị Tr từ 24 đến 30 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, đang bị áp dụng biện pháp tạm giam nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 584; khoản 1 Điều 585; khoản 1 Điều 586; Điều 589 Bộ luật Dân sự: Buộc bị cáo Xa Thị Tr phải bồi thường cho bị hại chị Nguyễn Thị Thu H số tiền 20.300.000 đồng và bồi thường cho bị hại chị Nguyễn Thị H số tiền 41.500.000 đồng.
Về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo thực hiện theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không tranh luận.
Tại phiên toà, bị hại chị Nguyễn Thị Thu H đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại lời nói sau cùng, bị cáo nhận thức được mức độ, tính chất, hậu quả hành vi phạm tội đã thực hiện, ăn năn hối cải và xin được hưởng sự khoan hồng của pháp luật, xử bị cáo với mức hình phạt nhẹ nhất để có cơ hội sớm trở về chăm lo, nuôi dưỡng các con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo, những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng và hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, vắng mặt bị hại chị Nguyễn Thị Thu H (có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt), người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Xét thấy, những người này đã đã được Toà án triệu tập hợp lệ, có lời khai tại hồ sơ vụ án, sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan của vụ án. Tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng và đại diện Viện kiểm sát đề nghị tiếp tục xét xử vụ án. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định.
[3] Về thay thế thành viên Hội đồng xét xử: Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2025/QĐXXST-HS, ngày 20 tháng 02 năm 2025, Thông báo thay đổi thời gian mở phiên toà số 04/2025/TB-TA ngày 24/02/2025 thành viên Hội đồng xét xử có Hội thẩm nhân dân là ông Nguyễn Hồng Quân và ông Trần Minh Đức. Tại phiên toà, những người này vắng mặt, có lý do chính đáng. Do đó, thay thế Hội thẩm nhân dân dự khuyết là ông Ngô Đăng Ký và bà Trần Thị Thanh Tâm làm thành viên Hội đồng xét xử là thực hiện đúng quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 288 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[4] Bị cáo Xa Thị Tr thừa nhận các hành vi đã thực hiện đúng như nội dung cáo trạng truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với Đơn trình báo và tố giác tội phạm của bị hại, Biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, bản tự khai, biên bản hỏi cung, vật chứng thu giữ cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng tháng 6/2024, Xa Thị Tr không có khả năng đưa người đi lao động tại Đài Loan, Dubai nhưng đã lên Tr mạng xã hội để đăng, trao đổi, tư vấn các thông tin gian dối, không đúng sự thật làm cho người có nhu cầu đi xuất khẩu lao động tin tưởng và chuyển tiền đặt cọc, chi phí các loại cho Tr nhằm chiếm đoạt tài sản. Với phương thức, thủ đoạn đó, Tr đã 02 lần thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của 02 bị hại, với tổng số tiền 61.800.000 đồng, gồm: chị Nguyễn Thị Thu H 20.300.000 đồng (hai mươi triệu ba trăm nghìn đồng) và chị Nguyễn Thị H 41.500.000 đồng (bốn mươi mốt triệu năm trăm nghìn đồng).
[5] Bằng phương thức sử dụng mạng xã hội (tài khoản Face book, Zalo), bị cáo đã đăng tải các thông tin sai sự thật về việc có khả năng đưa người đi làm việc ở nước ngoài để các bị hại tin tưởng và chiếm đoạt tiền của bị hại. Hành vi của Xa Thị Tr là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, thể hiện thái độ coi thường pháp luật và xem nhẹ chức năng, nhiệm vụ của tổ chức, cá nhân có thẩm quyền đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên phải chịu mọi chế tài theo quy định của pháp luật. Hành vi bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự: “1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm... 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm: c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng”. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Xuân truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[6] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo”, “Người phạm tội tự thú” (áp dụng đối với hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của chị Nguyễn Thị H), “đầu thú” (áp dụng đối với hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của chị Nguyễn Thị Thu H) quy định tại điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó, cần cân nhắc khi lượng hình đối với bị cáo.
[7] Về hình phạt bổ sung: Hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, có 02 con nhỏ, đang bị tạm giam, chồng đi lao động ở nước ngoài không có thông tin liên lạc. Do đó, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
[8] Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 584; khoản 1 Điều 585; khoản 1 Điều 586; Điều 589 Bộ luật Dân sự: Buộc bị cáo Xa Thị Tr phải bồi thường cho chị Nguyễn Thị Thu H số tiền 20.300.000 đồng (hai mươi triệu ba trăm nghìn đồng) và chị Nguyễn Thị H số tiền 41.500.000 đồng (bốn mươi mốt triệu năm trăm nghìn đồng).
[9] Về xử lý vật chứng:
Áp dụng khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự: Tịch thu sung quỹ nhà nước công cụ bị cáo sử dụng để liên lạc với mục đích chiếm đoạt tài sản: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y15A, màu xanh đen, số Imei 1 861746052608888, số Imei 2 861746052608896, khe sim 1 lắp sim số thuê bao 086717724.
[10] Những tình tiết khác có ý nghĩa liên quan đến vụ án:
Trong vụ án này, chị Xa Thị L, sinh năm 1985, trú tại xã Cao Sơn, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình là chủ đăng ký tài khoản Ngân hàng Vietcombank số 9867177245 cho Tr sử dụng. Đây là tài khoản Ngân hàng được Xa Thị Tr sử dụng để thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của chị Nguyễn Thị H. Việc Tr sử dụng tài khoản của L trong quá trình hoạt động phạm tội thì L không biết, nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Nghi Xuân không xem xét, xử lý đối với Xa Thị L.
Ngày 13/11/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Nghi Xuân đã gửi văn bản số 1052/YC-HSKTMT để yêu cầu Tập đoàn viễn thông Quân đội Viettel cung cấp thông tin chủ thuê bao điện thoại Xa Thị Tr 0867.177.xxx mà Xa Thị Tr khai nhận sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội) và thông tin ví điện tử Viettel Money đăng ký số thuê bao 0867177245, liên kết với tài khoản Ngân hàng Mbbank số 9704229208618017257 nhưng đến nay Tập đoàn viễn thông Quân đội Viettel chưa có văn bản trả lời. Vì vậy, không có căn cứ để xác minh, điều tra cũng như xem xét trách nhiệm hình sự đối với các chủ thuê bao này.
Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện Nghi Xuân đã gửi các công văn số 215, 216 và 217 ngày 13/11/2024 đến Cơ quan CSĐT Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Đài truyền hình Việt Nam và Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Hà Tĩnh cùng Cơ quan CSĐT các huyện, thành phố, thị xã trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh để đề nghị thông báo, rà soát và truy tìm bị hại trong vụ án, nhưng đến nay mới có 15 đơn vị trả lời đều với nội dụng không xác định được bị hại nào trong vụ án.
[11] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[12] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào Điều 45; 46; 260; 268; 269; 326 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; khoản 1 Điều 38; Điều 50; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Xa Thị Tr phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt bị cáo Xa Thị Tr 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (ngày 07/11/2024).
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 584; khoản 1 Điều 585; khoản 1 Điều 586; Điều 589 Bộ luật Dân sự: Buộc bị cáo Xa Thị Tr phải bồi thường cho chị Nguyễn Thị Thu H số tiền 20.300.000 đồng (hai mươi triệu ba trăm nghìn đồng) và bồi thường cho chị Nguyễn Thị H số tiền 41.500.000 đồng (bốn mươi mốt triệu năm trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự: Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y15A, màu xanh đen, số Imei 1 861746052608888, số Imei 2 861746052608896, khe sim 1 lắp sim số thuê bao 086717724.
(Tình trạng vật chứng được thể hiện tại Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 17 tháng 01 năm 2025 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nghi Xuân và cơ quan Thi hành án dân sự huyện Nghi Xuân).
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23, điểm b khoản 2 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Xa Thị Tr phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 3.090.000đ (ba triệu không trăm chín mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án này lên Toà án cấp trên trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bị hại vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký đóng dấu) Lê Nữ Ngọc Diệp |
Bản án số 07/2025/HS-ST ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI XUÂN, TỈNH HÀ TĨNH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (hình sự)
- Số bản án: 07/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI XUÂN, TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xa Thị Tr phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
